Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Đẩy mạnh hoạt động tái bảo hiểm tại công ty bảo hiểm hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Đẩy mạnh hoạt động tái bảo hiểm tại Tổng công ty Tái bảo hiểm Quốc gia Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, nền kinh tế Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng đáng khích lệ, tăng trưởng GDP bình quân trong giai đoạn này đạt khoảng 8%/năm. Nhu cầu bảo hiểm ngày càng cao theo đà phát triển của nền kinh tế xã hội. Với dân số trên 84 triệu người, một số loại hình bảo hiểm trước đây không qui định bắt buộc, nay Nhà nước đã ban hành qui định một số đối tượng bắt buộc phải mua bảo hiểm như bảo hiểm tài sản các công trình xây dựng có nguồn vốn Nhà nước,… đã và sẽ làm tăng nhu cầu mua bảo hiểm trong thời gian tới. Thị trường bảo hiểm Việt Nam đã và đang trở nên thực sự sôi động. Các công ty tham gia vào lĩnh vực kinh doanh Bảo hiểm ngày càng đa dạng, độc quyền về kinh doanh Bảo hiểm trước đây đã bị xoá bỏ. Đặc biệt có sự tham gia của nhiều công ty Bảo hiểm lớn của nước ngoài đã làm cho thị trường bảo hiểm Việt Nam phát triển hơn và cạnh tranh cũng nhiều hơn. Tuy nhiên, thị trường bảo hiểm Việt Nam vẫn còn tồn tại một thực trạng đáng buồn đó là khối lượng dịch vụ các doanh nghiệp chuyển ra bên ngoài vẫn còn rất lớn. Tỷ lệ trung bình giữa phí nhượng tái ra nước ngoài/ Doanh thu phí bảo hiểm gốc của toàn thị trường bảo hiểm phi nhân thọ trong những năm qua là trên 30%. Trong khi đó, phần phí nhận tái từ nước ngoài về thị trường bảo hiểm Việt Nam lại rất khiêm tốn- chưa bằng 3% so với tổng nhượng tái ra nước ngoài, chưa bằng 1% so với tổng phí bảo hiểm gốc. Ngoài ra Việt Nam đang thúc đẩy các quá trình hội nhập quốc tế và khu vực nên ngành bảo hiểm Việt Nam cũng đang đứng trước những cơ hội và thách thức rất lớn. Tổng công ty Tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam – công ty chuyên tái bảo hiểm duy nhất tại Việt Nam, với vai trò điều tiết, thu hút lượng dịch vụ nhận tái bảo hiểm trong và ngoài nước, tăng năng lực cạnh tranh, hạn chế dịch vụ chuyển ra nước ngoài, sẽ tạo ra tính kết dính chặt chẽ giữa các doanh nghiệp bảo hiểm, tạo đà cho thị trường bảo hiểm Việt Nam vững bước hội nhập và phát triển.
Trước những yêu cầu bức xúc trên của thị trường bảo hiểm và tái bảo hiểm Việt Nam, với sự giúp đỡ của khoa Kinh tế và Kinh doanh quốc tế trường Đại học Ngoại Thương, tôi mạnh dạn nghiên cứu và thực hiện khoá luận “Đẩy mạnh hoạt động tái bảo hiểm tại Tổng công ty Tái bảo hiểm Quốc gia Việt Nam”.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, khoá luận được chia làm 3 chương:
- Chương I. Khái quát chung về nghiệp vụ tái bảo hiểm.
- Chương II: Hoạt động tái bảo hiểm tại Tổng công ty Tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam.
- Chương III: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh tái bảo hiểm tại Tổng công ty Tái bảo hiểm Quốc gia Việt Nam.
Trong khoá luận này có sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu tổng hợp: phân tích, diễn giải, quy nạp nghiên cứu tài liệu và thực tế thị trường. Nền tảng là dựa trên phương pháp nghiên cứu duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lênin và đường lối phát triển của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Khóa luận: Đẩy mạnh hoạt động tái bảo hiểm tại công ty bảo hiểm.
Với thời gian nghiên cứu và kinh nghiệm còn nhiều hạn chế nên khoá luận sẽ không tránh khỏi thiếu sót, rất mong sự đóng góp ý kiến chân thành của thầy, cô và các bạn cùng những người quan tâm đến khoá luận này. Hy vọng những nghiên cứu đánh giá về kết quả phân tích và kiến nghị của tôi có khả năng vận dụng vào thực tế để góp phần từng bước đẩy mạnh hoạt động tái bảo hiểm của Tổng công ty Tái bảo hiểm Quốc gia Việt Nam.
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGHIỆP VỤ TÁI BẢO HIỂM
I. KHÁI NIỆM VÀ BẢN CHẤT CỦA HOẠT ĐỘNG TÁI BẢO HIỂM
1. Khái niệm
Theo Điều 3, khoản 2, Luật kinh doanh bảo hiểm Việt Nam ban hành năm 2019, có hiệu lực thi hành vào ngày 01 tháng 04 năm 2020, “kinh doanh tái bảo hiểm” là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm nhận một khoản phí bảo hiểm của doanh nghiệp khác để cam kết bồi thường cho các trách nhiệm nhận bảo hiểm.
Kinh doanh tái bảo hiểm bao gồm:
- Chuyển một phần trách nhiệm đã nhận bảo hiểm cho một hay nhiều doanh nghiệp táI bảo hiểm khác.
- Nhận bảo hiểm lại một phần hay toàn bộ trách nhiệm mà doanh nghiệp bảo hiểm khác đã nhận bảo hiểm.
2. Bản chất của hoạt động tái bảo hiểm
- Mặc dù ra đời từ rất lâu trên thế giới nhưng bản chất thực tế của tái bảo hiểm không phải ai cũng hiểu rõ.
Tái bảo hiểm về cơ bản là một dịch vụ giá trị gia tăng ( nó làm tăng thêm khả năng tài chính của các doanh nghiệp bảo hiểm gốc )Ban đầu, tái bảo hiểm đã được sử dụng như một công cụ quản lý rủi ro bảo vệ công ty bảo hiểm gốc khỏi những tổn thất lớn không lường trước bằng việc nhà nhận tái bảo hiểm nhận những rủi ro đó từ nhiều công ty bảo hiểm gốc và giảm bớt sự đột biến bất thường trên nguyên tắc “số đông bù số ít ”. Chính vì vậy có thể hiểu về bản chất tái bảo hiểm là sự“bảo hiểm cho những rủi ro đã được bảo hiểm”.
Tuy nhiên cho đến nay, ở những thị trường trưởng thành hơn như thị trường Anh, Đức và nhất là thị trường Bắc Mỹ, tái bảo hiểm có xu hướng trở thành hàng hoá và đang dần theo cơ cấu tái tài chính vì các công ty bảo hiểm trên thị trường này đã phát triển tới một quy mô cho phép họ có các mức giữ lại lớn, bên cạnh đó các tái bảo hiểm cạnh tranh với nhau để giành dịch vụ do đó các công ty bảo hiểm gốc ít chú ý đến những dịch vụ có giá trị gia tăng mà chú ý đến giá cả cho nên giá cả trở thành động lực chủ yếu quyết định việc lựa chọn nhà tái bảo hiểm. Khóa luận: Đẩy mạnh hoạt động tái bảo hiểm tại công ty bảo hiểm.
TBH có thể thực hiện trực tiếp từ công ty bảo hiểm gốc sang nhà TBH hoặc có thể TBH gián tiếp từ nhà TBH này sanh nhà TBH khác hoặc qua môi giới TBH.
Trong TBH, nhà TBH có thể là công ty nhượng hoặc công ty nhận tái, được xuất phát từ người bảo hiểm và có thể chỉ tái cho một nhà TBH hoặc nhiều hơn.
Hiện nay, một số người còn nhầm lẫn giữa tái bảo hiểm và đồng bảo hiểm vì vậy, tôi xin nói sơ qua về sự khác nhau cơ bản giữa hai phương thức này.
- Trước hết, ta phải hiểu đồng bảo hiểm là gì?
Đồng bảo hiểm là hình thức cộng đồng chịu trách nhiệm của nhiều công ty bảo hiểm trước một đối tượng bảo hiểm nhất định.
- So sánh TBH và Đồng Bảo Hiểm:
Giống nhau: trong cả hai hình thức rủi ro của người tham gia đều được chuyển giao cho nhà bảo hiểm và đều thông qua hợp đồng bảo hiểm.
Khác nhau:
- TBH xuất phát từ người bảo hiểm, đồng bảo hiểm xuất phát từ người tham gia bảo hiểm.
- TBH có thể chỉ tái cho một người bằng một hợp đồng, trong khi đồng bảo hiểm phải có ít nhất hai công ty trở lên tham gia bằng ít nhất hai hợp đồng.
- Khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra trong TBH người tham gia chỉ phải đòi trực tiếp từ công ty bảo hiểm gốc. Còn trong đồng bảo hiểm người tham gia phải đòi ở tất cả các công ty cùng tham gia bảo hiểm rủi ro của mình.
Sự khác nhau giữa hai hình thức này có thể nhìn thấy rõ trong hình vẽ 1 sau đây:
II. VAI TRÒ CỦA HOẠT ĐỘNG TÁI BẢO HIỂM TRONG NỀN KINH TẾ Khóa luận: Đẩy mạnh hoạt động tái bảo hiểm tại công ty bảo hiểm.
1. Tăng cường khả năng nhận bảo hiểm
Có thể nói, nếu không có tái bảo hiểm các công ty bảo hiểm gốc sẽ phải duy trì một số vốn rất lớn, nếu không Công ty sẽ không có khả năng nhận một số lượng lớn các rủi ro có giá trị cao. Như vậy nhờ có tái bảo hiểm các Công ty có khả năng tăng cường nhận bảo hiểm mà không phải lo lắng về tiềm năng vốn dự trữ của mình.
2. Loại bỏ những rủi ro nguy cơ cao
Trong thực tế giá trị của một rủi ro mà một Công ty bảo hiểm có thể nhận là từ vài ngàn đến vài triệu USD. Cụ thể như trong bảo hiểm kỹ thuật, giá trị một công trình xây lắp có thể lên tới hàng trăm triệu USD, thậm chí nhỏ như một nồi hơi cũng có giá trị khoảng 50 triệu USD. Vì vậy một nhà bảo hiểm thận trọng thường cố gắng duy trì một cơ cấu rủi ro thuần nhất bằng cách chuyển tái bảo hiểm nhằm giảm bới những rủi ro nguy cơ cao trong phần giữ lại của mình.
Tái bảo hiểm cho những thảm hoạ lớn là một nhu cầu tất yếu của Công ty bảo hiểm nhằm tự bảo vệ mình. Những tổn thất do những thảm hoạ rủi ro thiên nhiên như gió, bão, mưa đá, động đất, núi lửa hay các vụ hoả hoạn lớn và các vụ nổ công nghiệp thường là rất lớn và ảnh hưởng đến nhiều nghiệp vụ cùng một lúc. Như vậy sự bảo vệ của các Công ty tái bảo hiểm là điều không thể thiếu trong những trường hợp như thế này.
3. Cân bằng các loại hình nghiệp vụ
Một công ty bảo hiểm không nên để tồn tại một cơ cấu không cân đối giữa các loại hình nghiệp vụ khác nhau. Có những tình huống có thể thuận lợi cho nhóm rủi ro này nhưng lại không thuận lợi cho nhóm rủi ro khác. Ví dụ như rủi ro do hoả hoạn và rủi ro do lũ lụt. Bên cạnh đó, sự thay đổi của hoàn cảnh có thể dẫn đến tình trạng những rủi ro có mức độ an toàn cao cũng có thể vấp phải những tổn thất lớn trong một vài năm. Do vậy để đảm bảo mức độ ổn định tương đối trong kết quả hoạt động hàng năm, một Công ty bảo hiểm không nên để lệ thuộc quá nhiều vào một loại hình nghiệp vụ. Và như vậy, những trách nhiệm được đánh giá là vượt quá khả năng sẽ được nhượng tái bảo hiểm để cân bằng cơ cấu các nghiệp vụ.
4. Tạo ra công cụ để tiến hành trao đổi lẫn nhau
Trong điều kiện kinh tế – xã hội khác nhau, việc kết quả kinh doanh của các Công ty bảo hiểm không giống nhau là điều tất yếu. Bên cạnh việc chuyển đi những rủi ro được đánh giá là xấu, các Công ty bảo hiểm gốc còn mở rộng nguyên tắc phân tán rủi ro bằng cách trao đổi một phần những rủi ro tốt vượt quá mức giữ lại của mình cho các Công ty khác trên cơ sở có đi có lại. Cách làm này sẽ cho phép các Công ty được hưởng mức phí giữ lại cao hơn bao gồm những rủi ro có mức phân tán rộng hơn và có thể bao gồm cả những rủi ro tốt từ các Công ty khác. Hơn thế nữa đây còn là cách để các Công ty bảo hiểm có được những mối quan hệ tốt không chỉ với các Công ty trong nước mà còn cả với các Công ty bảo hiểm nước ngoài.
5. Góp phần ổn định tỷ lệ bồi thường Khóa luận: Đẩy mạnh hoạt động tái bảo hiểm tại công ty bảo hiểm.
Một tổn thất lớn do thiên tai gây ra có thể làm suy yếu khả năng tài chính của một Công ty bảo hiểm. Vì vậy, nếu Công ty bảo hiểm có một kế hoạch tái bảo hiểm nhằm hạn chế chi phí bồi thường trong phạm vi có thể chấp nhận được thì Công ty đó đã có thể chủ động trong việc ổn định tỷ lệ bồi thường. Và như vậy, trong trường hợp này, tái bảo hiểm đã giữ vai trò quan trọng trong việc ổn định kinh doanh của các Công ty bảo hiểm gốc cụ thể là ổn định tỷ lệ giữa tổng số tiền phải chi bồi thường và tổng doanh thu phí cùng trong một năm.
6. Giảm bớt sự căng thẳng về tài chính do sự phát triển nhanh của các công ty bảo hiểm
Các cơ quan quản lý về bảo hiểm thường yêu cầu các Công ty bảo hiểm phải thành lập quỹ dự phòng phí để đề phòng các khiếu nại phát sinh từ những rủi ro chưa hết hạn vào thời điểm kết thúc năm tài chính của Công ty. Do đó, khi Công ty phát triển nhanh thì doanh thu từ phí cũng tăng theo, Công ty sẽ phải để dành ra một phần dự trữ lớn hoặc có thể phải tăng vốn để đáp ứng những nhu cầu trên. Bằng cách chuyển một phần phí sang các Công ty khác thông qua tái bảo hiểm, Công ty có thể điều hoà sự gia tăng của doanh thu phí bảo hiểm và do đó giảm bớt những sức ép về mặt tài chính.
III. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM Khóa luận: Đẩy mạnh hoạt động tái bảo hiểm tại công ty bảo hiểm.
1. Sự hình thành và phát triển của hoạt động tái bảo hiểm
Thực tế cho thấy, cũng như các ngành nghề khác, bảo hiểm và tái bảo hiểm ra đời luôn gắn liền trong những điều kiện kinh tế xã hội nhất định. Sự ra đời và phát triển của tái bảo hiểm có thể chia thành 4 giai đoạn sau:
1.1 Giai đoạn đầu phát triển của tái bảo hiểm
Theo tài liệu của các nhà nghiên cứu, Italia là nước đầu tiên chứng kiến sự ra đời và phát triển của tái bảo hiểm. Bản giao ước cổ nhất được biết đến có tính chất pháp lý như một hợp đồng tái BH được ký kết vào năm 1370 tại thành phố Genes. Đó là hợp đồng tái bảo hiểm hàng hải, liên quan tới chuyến hành trình bằng đường biển từ Cadiz (Tây Ban Nha) đến Sluys (Hà Lan). Sau này, với sự phát triển rộng rãi của những quan hệ thương mại giữa các thành phố của Italia cũng như các nước Bắc Âu, đặc biệt là nước Anh, dịch vụ tái bảo hiểm cũng phát triển theo. Tuy nhiên, sau khi có sự xuất hiện của những vụ lạm dụng có tính chất con buôn gây ra nhiều phản ứng chống lại bản chất của tái bảo hiểm đã dẫn đến việc ra đời của đạo luật cấm các hoạt động tái bảo hiểm hàng hải ở nước Anh. Trong một thời gian dài (1746-1864), đạo luật này vô hình chung đã tạo điều kiện cho tổ chức LLOYD’S phát huy ảnh hưởng của mình bằng đồng bảo hiểm. Sau năm 1864, nó trở thành thị trường tái bảo hiểm quan trọng nhất trên thế giới. Thời gian này cũng đã chứng kiến sự xuất hiện của các nghiệp vụ tái bảo hiểm khác như tái bảo hiểm cháy, với hình thức tái bảo hiểm duy nhất được áp dụng trong thời kỳ này là tái bảo hiểm tuỳ ý lựa chọn cho từng rủi ro riêng biệt.
1.2. Giai đoạn từ giữa thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX
Trong giai đoạn này, những thành tựu khoa học kỹ thuật đã được ứng dụng vào sản xuất làm nền kinh tế của các nước TBCN đã có những bước tiến nhảy vọt, quan hệ giao lưu hàng hoá giữa các nước ngày càng được mở rộng . Đây chính là điều kiện thuận lợi cho thị trường tái bảo hiểm trưởng thành và phát triển .Tuy nhiên các công ty bảo hiểm vừa hoạt động bảo hiểm gốc vừa hoạt động tái bảo hiểm tạo ra những hạn chế nhất định, đặt ra yêu cầu cần phải có công ty tái bảo hiểm chuyên nghiệp. Năm 1843, công ty tái bảo hiểm nội bộ đầu tiên ra đời là Weceler Re (Đức). Tuy nhiên, nó chỉ là công ty con của một công ty bảo hiểm địa phương, chủ yếu nhận các phần dôi của công ty mẹ.
Năm 1852, công ty tái bảo hiểm độc lập đầu tiên được thành lập mang tên Cologe Re. Sau đó là sự ra đời hàng loạt của các công ty tái bảo hiểm chuyên nghiệp có tên tuổi như: Khóa luận: Đẩy mạnh hoạt động tái bảo hiểm tại công ty bảo hiểm.
- Swiss Re – công ty tái bảo hiểm đầu tiên của Thuỵ Sỹ, thành lập năm 1863;
- London Gurantee Reinsurance Ltd (Luân Đôn) – 1869;
- Munich Re (Đức), thành lập năm
Ở Anh, công ty tái bảo hiểm đầu tiên là The Reinsurance Company Ltd, thành lập năm 1867 và vào thời gian đó, trên thế giới mới chỉ tồn tại 10 công ty tái bảo hiểm. Tuy nhiên, công ty này đã đóng cửa vì phá sản vào năm 1871.
Một số công ty tái bảo hiểm khác đã được thành lập nhưng không tồn tại được lâu. Năm 1907, công ty tái bảo hiểm Vương quốc Anh thành lập, mang tên Mercantile & General Reinsurance. Một năm sau, năm 1908, công ty tái bảo hiểm Bristish & European ra đời.
Ở Mỹ, công ty tái bảo hiểm đầu tiên được thành lập năm 1912 với tên The First Reinsurance Company of Hartford khi mà các công ty tái bảo hiểm hoạt động tại Mỹ một số năm trước đó.
Vào những năm 1920, người ta cũng chứng kiến sự ra đời của các tập đoàn tái bảo hiểm địa phương như Uruguay, Chile, Banco del estado… Ban đầu, những công ty này không tìm kiếm dịch vụ ngoài những dịch vụ của địa phương bị bắy buộc nhượng cho họ.
Cùng với sự phát triển của thị trường tái trong giai đoạn này, nhiều hình thức và phương pháp tái bảo hiểm được xây dựng như tái số thành, mức dôi…
Tuy nhiên, Chiến tranh thế giới thứ II đã làm ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của ngành bảo hiểm nói chung và tái bảo hiểm nói riêng .Trên thực tế hoạt động bảo hiểm và tái bảo hiểm bị ngưng trệ thậm chí một số nứơc các nhà cầm quyền còn trưng dụng cả quỹ bảo hiểm để phục vụ chiến tranh gây ra tổn thất lớn cho các nhà bảo hiểm đặc biệt là các công ty ở những nước Châu Âu. Khóa luận: Đẩy mạnh hoạt động tái bảo hiểm tại công ty bảo hiểm.
1.3. Giai đoạn từ sau Chiến tranh thế giới thứ II đến năm 1990
Sau chiến tranh thế giới thứ II năm 1945 cục diện thế giới thay đổi, hệ thống xã hội chủ nghĩa ra đời và phát triển, phong trào giải phóng dân tộc của các nước thuộc địa thắng lợi, các nước tư bản rơi vào khủng hoảng làm cho nền kinh tế nói chung và ngành bảo hiểm-tái bảo hiểm nói riêng có nhiều thay đổi:
- Các nước TBCN đang trong quá trình phục hồi, đồng thời với nhiều công ty tái bảo hiểm mới được thành lập tạo nên thị trường tái bảo hiểm cạnh tranh dưới nhiều hình thức.
- Hệ thống các nước XHCN ra đời thực hiện độc quyền trong lĩnh vực bảo hiểm và tái bảo hiểm, hạn chế với các nước TBCN. Tuy nhiên các nghiệp vụ nhận tái chỉ mang tính chất đối ngoại là bảo hiểm hàng hoá nhập khẩu và bảo hiểm thân tàu thuỷ.
- Năm 1970-1980 các tập đoàn tái bảo hiểm vùng ra đời, như: Tập đoàn tái bảo hiểm Châu Phi, Tập đoàn tái bảo hiểm Châu á, tập đoàn tái bảo hiểm Asean. Các tập đoàn này vận hành dựa trên cơ sở nhượng bắt buộc hay tự nguyện với nhau giữa các thành viên.
1.4. Giai đoạn từ năm 1990 đến nay
Năm 1990 sự sụp đổ của hệ thống các nước XHCN tạo tiền đề cho thị trường tái bảo hiểm quốc tế được mở rộng và phát triển. Mối quan hệ giữa các nước ngày càng được củng cố đánh dấu giai đoạn phát triển cao của thị trường bảo hiểm và tái bảo hiểm. Tuy nhiên những năm đầu của thế kỷ XX thị trường tái bảo hiểm quốc tế phải đối mặt lớn với thảm hoạ và rủi ro do thiên nhiên và con người gây ra.
Năm 2020, Với thảm họa khủng bố giáng xuống nước Mỹ ngày 11/9, các công ty bảo hiểm, tái bảo hiểm phải gánh chịu những khoản tổn thất nặng nề chưa từng có với tổng tổn thất được bảo hiểm lên tới 40, 2 tỷ USD. Dẫn tới sự phá sản tụt hạng của một số công ty tái bảo hiểm hàng đầu thế giới (Hannover Reinsurance từ AA+ xuống AA, Swiss Reinsurance từ AAA xuống AA+).
Và đến nay với hàng loạt tổn thất do thiên tai gây ra đặc biệt là tổn thất nặng nề do sóng thần vào thời điểm cuối năm 2023 tại các nước Nam A làm cho tình hình thị trường tái bảo hiểm quốc tế trở lên phức tạp.
2. Hợp đồng tái bảo hiểm – Thủ tục tái bảo hiểm Khóa luận: Đẩy mạnh hoạt động tái bảo hiểm tại công ty bảo hiểm.
2.1. Hợp đồng TBH
Khái niệm: Hợp đồng TBH là một thoả thuận được ký kết giữa công ty nhượng và nhận TBH trong đó nhà TBH cam kết bồi thường cho công ty nhượng phần trách nhiệm mà công ty nhượng phải gánh chịu trong hợp đồng bảo hiểm của mình khi sự kiện bảo hiểm xảy ra với điều kiện công ty nhượng phải chuyển giao số phí bảo hiểm tương ứng với mức trách nhiệm của nhà
- Các đặc trưng của hợp đồng TBH:
Nhà TBH cam kết bồi thường cho công ty nhượng với điều kiện công ty nhượng chuyển phí BH tương ứng cho nhà TBH. Nhà TBH không được yêu cầu bên mua BH trực tiếp chuyển phí cho mình.
Nhà TBH có thể bồi thường toàn bộ hoặc một phần đối với những trách nhiệm mà công ty nhượng phải gánh chịu theo hợp đồng bảo hiểm. Còn công ty nhượng phải chịu trách nhiệm toàn bộ, duy nhất đối với bên mua bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm gốc.
Hợp đồng TBH là hợp đồng riêng biệt giữa nhà bảo hiểm với công ty nhượng, còn người được bảo hiểm không tham gia vào hợp đồng này do đó người mua bảo hiểm không được yêu cầu người nhận TBH bồi thường trực tiếp cho mình.
Những vấn đề cơ bản trong hợp đồng TBH:
- Thủ tục phí
- Phí tạm giữ
Nguyên tắc trung thực tuyệt đối: là nguyên tắc đòi hỏi công ty nhượng phải thông báo cho nhà TBH biết những chi tiết cần thiết mà họ được trong nghiệp vụ bảo hiểm của mình. Nếu người được bảo hiểm cung cấp những thông tin không chính xác về rủi ro bảo hiểm mà được công ty bảo hiểm gốc chấp nhận trong hợp đồng bảo hiểm và làm cơ sở để xây dựng hợp đồng TBH thì nhà TBH có quyền từ chối trách nhiệm khi phát hiện ra sự thiếu trung thực đó.
- Vấn đề bồi thường:
Dù hợp đồng TBH dưới hình thức nào thì khi sự kiện bảo hiểm xảy ra, công ty nhượng phải tiến hành bồi thường trước cho người được bảo hiểm, sau đó đòi lại phần trách nhiệm thuộc về nhà TBH. Ngược lại nhà TBH phải bồi thường thiệt hại cho công ty nhượng theo quy định pháp lý của hợp đồng TBH. Khóa luận: Đẩy mạnh hoạt động tái bảo hiểm tại công ty bảo hiểm.
- Chú ý: nếu bồi thường bằng ngoại tệ thì tính theo tỷ giá tại thời điểm thanh toán.
Hợp đồng TBH được thành lập bằng văn bản và phải có chữ ký của bên tham gia. Để đảm bảo yêu cầu hợp đồng TBH phải tuân thủ những yêu cầu cơ bản của hợp đồng như sau:
- Người bảo hiểm và nhà TBH phải có khả năng tham gia hợp đồng.
- Phải có sự chào bán và chấp nhận.
Các hình thức hợp đồng TBH: Các hình thức hợp đồng TBH được xây dựng tương ứng với các hình thức TBH, do đó cũng có ba loại sau:
- Hợp đồng TBH tuỳ ý lựa chọn.
- Hợp đồng TBH bắt buộc.
- Hợp đồng TBH tuỳ ý lựa chọn- bắt buộc.
2.2. Thủ tục tái bảo hiểm
Thủ tục phí tái bảo hiểm là một khoản tiền mà nhà tái bảo hiểm trả cho công ty nhượng khi nhà tái bảo hiểm tham gia nhận hợp đồng tái bảo hiểm của công ty nhượng. Số tiền này bằng một tỷ lệ phần trăm của số phí đem tái bảo hiểm [5].
Nhà tái bảo hiểm phải trả cho công ty nhượng khoản thủ tục phí nhằm giúp chi trả cho việc điều hành dịch vụ của công ty nhượng. Trong thực tế số thủ thục phí mà công ty nhượng được hưởng có thể cao hơn hoặc có thể thấp hơn chi phí mà họ bỏ ra do thủ tục phí tái được điều chỉnh trên cơ sở tính toán về tỷ lệ bồi thường dự kiến của một dịch vụ bảo hiểm hoặc số phí thu nhập bảo hiểm.
Việc tính toán thủ tục phí tái bảo hiểm không có một quy tắc cứng nhắc nào mà nó phụ thuộc vào sự thoả thuận giữa các bên tham gia trong hợp đồng tái bảo hiểm. Tuy nhiên, khi xác định một tỷ lệ thủ tục phí cần xem xét kỹ một số yếu tố quan trọng:
- Thể loại tái bảo hiểm và phương thức chào tái bảo hiểm (tái bảo hiểm số thành, mức dôi).
- Phí tái bảo hiểm trên cơ sở phí toàn phần hay có khấu trừ (phí gộp, phí thuần, môi giới).
- Có quy định các điều khoản thoả thuận giảm giá đặc biệt cho người được bảo hiểm trong phí bảo hiểm gốc không.
- Chi phí hành chính và quản lý của công ty nhượng nhiều hay ít.
- Kết quả bồi thường của các năm
- Kết quả đầu tư phí nhàn rỗi.
Thủ tục phí tái bảo hiểm được chia làm 3 loại chính như sau:
- Thủ tục phí cố định (Fixed Rate)
Là một khoản tiền nhà tái bảo hiểm trả cho công ty nhượng được biểu thị bằng một tỷ lệ phần trăm cố định của số phí tái bảo hiểm. Khóa luận: Đẩy mạnh hoạt động tái bảo hiểm tại công ty bảo hiểm.
- Thủ tục phí theo thang luỹ tiến (Sliding Scale Commisson).
Cơ sở để tính thủ tục phí theo thang luỹ tiến là lấy mức thủ tục phí cố định làm chuẩn từ đó quy định mức tăng giảm theo tỷ lệ của bồi thường. Như vậy kết quả bồi thường càng thấp bao nhiêu thì tỷ lệ thủ tục phí tái bảo hiểm lại tăng lên bấy nhiêu và ngược lại.
Với thang luỹ tiến này, số tiền thủ tục phí tái bảo hiểm ít nhất là 20% phí tái bảo hiểm và hoàn toàn phụ thuộc vào kết quả của nghiệp vụ. Nếu tỷ lệ bồi thường là 75% thì phần lãi còn lại của nhà tái bảo hiểm là 5%. Nhưng nếu tỷ lệ bồi thường là 65% thì lãi của nhà tái bảo hiểm sẽ là 10% thay cho mức 15% nếu lấy mức thủ tục phí cố định là 20%.
- Thủ tục phí tái bảo hiểm theo lãi (Profit Commisson).
Đây là một phương pháp bổ sung cho phương pháp tính thủ tục phí tái bảo hiểm cố định. Theo phương pháp này, nhà tái bảo hiểm phải trả thêm cho Công ty nhượng một khoản lợi nhuận nhất định được tính bằng tỷ lệ phần trăm của lợi nhuận thực tế mà nhà tái bảo hiểm được hưởng khi kết quả của hợp đồng tái bảo hiểm có lãi.
Kết quả kinh doanh của nhà tái bảo hiểm đựoc xác định trên cơ sở ” tài khoản lỗ lãi “. Chênh lệch ” dương ” giữa thu và chi được gọi là lãi và thủ tục phí bảo hiểm theo lãi được tính trên cơ sở số lãi thu được đó. Thông thường mức thủ tục phí theo lãi khoảng từ 10-20%, tuỳ thuộc vào sự thoả thuận giữa các bên tham gia hợp đồng.Mục đích của phương pháp này là để thu lại một phần lãi cho Công ty nhượng trong trường hợp kết quả kinh doanh thực tế tốt hơn nhiều so với tỷ lệ bồi thường trung bình dự kiến và để giúp nhà tái bảo hiểm có một tỷ lệ lợi nhuận hợp lý trong nhiều năm tham gia hợp đồng tái bảo hiểm.
3. Mức giữ lại Khóa luận: Đẩy mạnh hoạt động tái bảo hiểm tại công ty bảo hiểm.
- Khái niệm: mức giữ lại là khoản tiền tối đa có thể giữ lại trên mọi rủi ro của công ty nhượng.
- Lý do: Công ty nhượng TBH nhằm mục đích chủ yếu là đảm bảo an toàn và khả năng tài chính. Nhưng đồng thời cũng phải xem xét mức TBH hay mức giữ lại phù hợp để tận dụng hết các nguồn lực của công ty nhượng vì mục đích hoạt động của công ty trên thị trường là lợi nhuận.
Căn cứ để xác định mức giữ lại:
- Khả năng tài chính của công ty nhượng, chủ yếu là vốn tự có.
- Số lượng hợp đồng ký kết và đặc trưng rủi ro được bảo hiểm.
- Chính sách TBH của quốc gia hay của công
- Tình hình môi trường kinh tế xã hội, chính trị.
- Kế hoạch phát triển của công ty trong tương
- Kinh nghiệm thục tế hoạt động kinh doanh những năm trước .
Công thức tính mức giữ lại:
Trong đó:
- M: Mức giữ lại P: Vốn tự có
- F: Doanh thu phí và thu nhập khác
- C: Chi phí
- S: Số lượng thiệt hại
4. Phí tạm giữ
Khái niệm: Phí tạm giữ là khoản dự phòng riêng giúp cho công ty nhượng có thuận lợi trong việc giải quyết bồi thường cho nghiệp vụ bảo hiểm gốc trước khi quyết toán đòi bồi thường từ nhà Ngoài ra, đối với một số nước, việc tạm giữ lại một khoản phí tái bảo hiểm của nhà tái bảo hiểm là một điều kiện quan trọng trong việc thực hiện thanh toán cân đối của những dịch vụ tái bảo hiểm chuyển ra nước ngoài và cũng là mối quan hệ giữa sự lãnh đạo của nhà tái bảo hiểm và khả năng thanh toán của Công ty nhượng.
- Mục đích: Phí tạm giữ cùng với thủ tục phí có tác dụng giúp công ty nhượng giải quyết bồi thường, chi trả cho khách hàng nhanh chóng. Khóa luận: Đẩy mạnh hoạt động tái bảo hiểm tại công ty bảo hiểm.
- Phí tạm giữ thường được công ty nhượng giữ lại theo từng quý, từng năm và chiếm khoảng 35- 40% phí TBH toàn phần.
- Đến kỳ tiếp theo:
- Phí tạm giữ = khoản bồi thường nhà TBH phải chịu, hợp đồng TBH hoàn thành
- Phí tạm giữ > khoản bồi thường mà nhà TBH phải chịu, công ty nhượng phải trả lại nhà TBH phần dư, đồng thời trả thêm một khoản tiền nhất định do tính đến yếu tố lãi đầu tư.
- Phí tạm giữ < khoản bồi thường mà nhà TBH phải chịu công ty nhượng đòi thêm nhà TBH phần thiếu.
Trong trường hợp nhà TBH không tiếp tục tham gia hợp đồng, phí tạm giữ được giải quyết theo hai trường hợp sau:
- Hoặc nhà TBH tiếp tục chịu trách nhiệm đối với những rủi ro còn hiệu lực cho tới khi chấm dứt toàn bộ những rủi ro được bảo hiểm trong năm nghiệp vụ đó.
- Hoặc là chuyển giao toàn bộ phần trách nhiệm còn tồn lại cho nhà TBH theo thoả thuận.
Thông thường trong thực tế khoản dự phòng này được tính bằng một tỷ lệ phần trăm cố định của phí tái bảo hiểm toàn phần (khoảng từ 35-40%). Phí tạm giữ của năm nghiệp vụ bảo hiểm này sẽ được hoàn trả lại cho nhà tái bảo hiểm vào thời điểm tương ứng của năm kế tiếp và được tính thêm một một khoản lãi xuất nhất định (từ 3-5%).
Trong trường hợp nếu nhà tái bảo hiểm rút lui không tiếp tục tham gia tái bảo hiểm cho hợp đồng năm tiếp theo nữa, trách nhiệm của nhà tái bảo hiểm sẽ được giải quyết theo một trong hai cách sau:
- Hoặc tiếp tục chịu trách nhiệm đối với những rủi ro còn hiệu lực cho tới khi chấm dứt toàn bộ những rủi ro được bảo hiểm trong năm nghiệp vụ bảo hiểm đó.
- Hoặc thoả thuận chuyển giao toàn bộ phần trách nhiệm còn tồn tại sang cho nhà tái bảo hiểm mới tham gia cho năm tới.
5. Quản lý hợp đồng
Hợp đồng nhượng tái bảo hiểm được ký kết giữa Công ty nhượng và Công ty nhận theo các chuẩn mực qui định. Theo định kỳ, người nhượng phải lập và chuyển cho người nhận bảng thanh toán gồm bảng kê phí và bảng kê thiệt hại.
Bảng thanh toán này có thể phân bổ theo năm ký kết, năm xảy ra thiệt hại hoặc theo năm kế toán.
- Phân bổ theo năm ký kết: Theo cách này, những thiệt hại xảy ra đối với những hợp đồng gốc trong năm thứ i được hạch toán vào tài khoản năm thứ i của hợp đồng, dù việc thanh toán sẽ được tiến hành vào bất cứ lúc nào.
- Phân bổ theo năm xảy ra thiệt hại: Những thiệt hại xảy ra trong năm thứ i được hạch toán vào tài khoản năm thứ i của hợp đồng tái, không tính đến việc thiệt hại đó liên quan đến hợp đồng gốc ở thời kỳ nào và được thanh toán vào lúc nào.
- Phân bổ theo năm kế toán: Theo cách này, tất cả các khoản thu cũng như thanh toán bồi thường trong năm đều hạch toán vào tài khoản tương ứng của hợp đồng tái bảo hiểm không tính đến việc thanh toán phát sinh vào thời điểm nào.
Ngoài ra, xét đến quản lý hợp đồng còn phải xem xét các vấn đề như huỷ bỏ hợp đồng, môi giới tái bảo hiểm.
IV. CÁC HÌNH THỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP TÁI BẢO HIỂM Khóa luận: Đẩy mạnh hoạt động tái bảo hiểm tại công ty bảo hiểm.
1. Các hình thức kinh doanh tái bảo hiểm [3]
1.1. Tái bảo hiểm tuỳ ý lựa chọn (Facultative)
Đây là hình thức tái bảo hiểm cơ bản và cổ điển nhất. Theo hình thức này, công ty nhượng toàn quyền lựa chọn toàn bộ hay một số rủi ro cần phải tái đi và công ty nhận (nhà tái bảo hiểm) có quyền nhận hay từ chối toàn bộ hay một số rủi ro đó.
Quy trình để thực hiện tái bảo hiểm tuỳ ý lựa chọn gồm có các bước:
Công ty nhượng thông báo cho nhà tái bảo hiểm một dịch vụ nào đó mà họ cần tái đi dưới hình thức một bản để nghị (hay bản chào tái), trong đó ghi rõ các đặc điểm chính của rủi ro được tái bảo hiểm chẳng hạn như:
- Tên và địa chỉ của người được bảo hiểm.
- Tính chất của rủi ro được bảo hiểm.
- Ngày bắt đầu và ngày chấm dứt.
- Số tiền bảo hiểm, phí bảo hiểm, phần giữ lại của công ty nhượng.
- Thủ tục phí tái bảo hiểm.
- Phương thức tái, thủ tục thanh toán, bồi thường.
- +…..
Sau khi nhận được đề nghị, nhà tái bảo hiểm có quyền lựa chọn nhận toàn bộ hay một phần tỷ lệ nào đó hay một số tiền cố định trên cơ sở rủi ro được đề nghị. Nhà tái BH xác nhận phần tham gia của mình vào một phiếu đề nghị và gửi lại cho công ty nhượng. đồng thời, nhà tái bảo hiểm có thể yêu cầu cung cấp thêm thông tin cần thiết. Chỉ khi được thông báo chấp nhận, dịch vụ tái bảo hiểm tuỳ ý lựa chọn mới có hiệu lực và cũng tự động chấm dứt vào ngày đến hạn nếu không có bổ sung thêm.
Ví dụ:
- Hình thức tái bảo hiểm: tái bảo hiểm túy ý lựa chọn Số tiền bảo hiểm: 1.000.000 USD
- Tỷ lệ tái là: 75%
- Giả sử trong năm nghiệp vụ có phát sinh rủi ro: tổng số tiền bồi thường là 400.000 USD, thì công ty nhượng sẽ phải trả 100.000 USD (25 % của 400.000 USD) và công ty nhận sẽ phải trả 300.000 USD (75% của 400,000USD).
Sơ đồ sẽ như sau:
- Ưu điểm của hình thức này Khóa luận: Đẩy mạnh hoạt động tái bảo hiểm tại công ty bảo hiểm.
Giúp các công ty nhượng đặc biệt là các công ty mới thành lập còn ít kinh nghiệm có thể hoàn thành việc nhận bảo hiểm cho những đơn vị rủi ro có giá trị lớn, vượt quá khả năng tài chính của họ bằng việc sử dụng chuyên môn và khả năng của thị trường tái bảo hiểm quốc tế.
Giúp công ty nhượng có điều kiện loại bỏ được những rủi ro đặc biệt lớn hoặc nguy hiểm mà một khi tổn thất thuộc đơn vị này xảy ra có thể làm ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của mình trong năm nghiệp vụ bảo hiểm riêng biệt nào đó.
Giúp cho công ty nhượng có thể chủ động trong việc chấp nhận bảo hiểm phục vụ nhu cầu của người được bảo hiểm về những loại rủi ro mà có thể không được chấp nhận trong các hợp đồng bảo hiểm bắt buộc truyền thống của mình, chẳng hạn như: rủi ro động đất, ngập lụt, đình công, bạo loạn, chiến tranh hoặc những rủi ro tương tự khác.
Tạo điều kiện cho công ty nhượng cải thiện sự thăng bằng của các hình thức tái bảo hiểm bắt buộc, cải thiện vận may rủi trong việc đạt được những lợi ích tối đa theo các điều kiện quy định trong các hợp đồng tái bảo hiểm đó của họ (ví dụ: điều kiện về chia lãi, thủ tục phí tái bảo hiểm theo thang luỹ tiến, thủ tục phí tái bảo hiểm theo lãi).
- Nhược điểm:
Công ty nhượng phải thông báo đầy đủ, chi tiết về nghiệp vụ bảo hiểm gốc dẫn đến có thể bị tiết lộ thông tin có lợi cho đối thủ cạnh tranh trong thị trường bảo hiểm gốc.
Không đảm bảo thời gian và sự chắc chắn trong việc phân tán rủi ro tái bảo hiểm do đó có thể sẽ mất cơ hội tranh thủ bảo hiểm hoặc không có khả năng để nhận bảo hiểm cho rủi ro có giá trị lớn, hay ít nhất cũng làm cho công ty nhượng mất uy tín vì sự chậm trễ trả lời người được bảo hiểm. Khóa luận: Đẩy mạnh hoạt động tái bảo hiểm tại công ty bảo hiểm.
Chi phí hành chính, thủ tục giấy tờ tốn kém do đó ảnh hưởng đến lợi nhuận của hợp đồng.
Thường xuyên phải đàm phán tái lập lại hợp đồng tái bảo hiểm trước khi quyết định ký kết hợp đồng bảo hiểm gốc với khách hàng mà trong nhiều trường hợp đáng lẽ không cần thiết phải thay đổi hay huỷ bỏ hợp đồng đã ký.
Trong nhiều trường hợp hình thức tái bảo hiểm này chỉ được thực hiện với mức phí cao hơn mức phí gốc hoặc thủ tục phí ít hơn khi khả năng nhận của thị trường tái bảo hiểm quốc tế đã đạt gần tới mức tối đa, hoặc khi phí bảo hiểm gốc quá thấp so với phí trung bình của thị trường.
1.2. Tái bảo hiểm bắt buộc
Tái bảo hiểm bắt buộc là sự thoả thuận giữa công ty nhượng và nhà tái bảo hiểm trong đó công ty nhượng bắt buộc phải nhượng cho nhà tái bảo hiểm tất cả các đơn vị rủi ro gốc mà hai bên đã thoả thuận từ trước. Ngược lại, nhà tái bảo hiểm cũng buộc phải chấp nhận toàn bộ các đơn vị rủi ro đó.
Ở đây, công ty nhượng toàn quyền trong việc chấp nhận bảo hiểm gốc, định phí, mà không phải thông qua ý kiến của nhà tái bảo hiểm. Công ty nhượng đơn phương thanh toán các vụ tổn thất có liên quan đến những rủi ro được bảo hiểm với mục đích bảo vệ quyền lợi chung của công ty nhượng và nhà tái bảo hiểm. Ngược lại, nhà tái bảo hiểm chia sẻ rủi ro với công ty nhượng và sẽ chấp nhận thanh toán tổn thất thuộc phạm vi hợp đồng tái BH đã thoả thuận mà công ty nhượng thay mặt họ giải quyết.
Như vậy, hình thức tái bảo hiểm bắt buộc là thoả thuận ràng buộc các bên với nhau một cách chặt chẽ hơn là hình thức tái bảo hiểm tuỳ ý lựa chọn.
Ưu điểm của hình thức này là: Khóa luận: Đẩy mạnh hoạt động tái bảo hiểm tại công ty bảo hiểm.
- Công ty nhượng được toàn quyền quyết định phí bảo hiểm cho nên hợp đồng sẽ ký kết rất nhanh.
- Các nhà tái bảo hiểm hoàn toàn chia sẻ vận may rủi với công ty nhượng đồng thời rất thoải mái chấp nhận rủi ro một cách tự nguyện bởi vì đến lượt mình họ cũng có quyền làm như vậy.
- Đây là hình thức rất chặt chẽ bởi vì mọi thoả thuận đã được thảo luận từ trước khi ký kết hợp đồng, vì vậy phí bảo hiểm mà các bên thu được cũng cao nhất.
Nhược điểm:
- Đối với những nghiệp vụ bảo hiểm mới triển khai, các nhà tái bảo hiểm không lường hết được mức độ rủi ro cũng như xác suất rủi ro vì vậy, việc ký kết hợp đồng ít nhiều còn mang tính mạo hiểm.
- Vì mọi rủi ro đều phải tái đi cho nên, đứng về phía công ty nhượng, những đơn vị rủi ro có số tiền bảo hiểm nhỏ vẫn phải đem đi tái trong khi khả năng tài chính của họ vẫn có thể đảm đương được.
1.3. Tái bảo hiểm kết hợp tuỳ ý lựa chọn- bắt buộc
Đây là hình thức tái bảo hiểm mà công ty nhượng không bắt buộc phải nhượng tất cả các dịch vụ mà mình nhận bảo hiểm nhưng công ty nhận bắt buộc phải nhận các dịch vụ mà công ty nhượng đưa vào thoả thuận này với điều kiện là những dịch vụ đó phải phù hợp với nội dung điều khoản đã quy ước của hợp đồng tái bảo hiểm thoả thuận.
Như vậy, so với hình thức tái bảo hiểm tuỳ ý lựa chọn, nhà tái bảo hiểm bất lợi hơn vì không có quyền từ chối những rủi ro mà họ không muốn nhận.
- Ưu điểm của hình thức này
Công ty nhận tái bảo hiểm có điều kiện thu nhập nguồn phí tái bảo hiểm lớn hơn và có phần thăng bằng hơn so với hình thức tái bảo hiểm tuỳ ý lựa chọn. ở đây, công ty nhượng không được lợi dụng hình thức này để lựa chọn tái đi những rủi ro có khả năng xảy ra tổn thất lớn với mục đích đẩy phần bất lợi cho nhà tái bảo hiểm. Để đề phòng trường hợp này xảy ra, công ty nhận phải nắm vững ý đồ của công ty nhượng, xem xét kỹ các rủi ro mà công ty nhượng đem tái bảo hiểm và thường xuyên phải canh chừng diễn biến của thoả ước mà mình đã ký kết. Sử dụng hình thức tái bảo hiểm này, công ty nhượng có điều kiện để đem chào tái bảo hiểm từng phần trách nhiệm thặng dư của khả năng tự giữ lại của mình cho một hay một số ít các nhà tái bảo hiểm mà họ lựa chọn, thay cho việc phải đem tất chia tất cả các phần thặng dư cho các nhà tái bảo hiểm nếu đem tái theo hình thức bắt buộc. Tuy nhiên, cách tái bảo hiểm như thế thường chỉ có các công ty nhận có tiềm lực thật lớn vì họ là những người có khả năng nhận các rủi ro có giá trị bảo hiểm cao và như vậy sẽ không đòi hỏi phân tán cho quá nhiều nhà tái bảo hiểm, đỡ tốn kém chi phí.
Trong trường hợp công ty nhượng có quá nhiều đơn vị rủi ro cần phải đem tái thì chi phí hành chính cho việc áp dụng hình thức tái bảo hiểm này sẽ rất tốn kém vì những rủi ro cần tái bảo hiểm đó thường đòi hỏi các điều kiện tái bảo hiểm khác nhau, công tác tính toán phí và sổ sách kế toán sẽ phức tạp và khó khăn hơn.
Về phần công ty nhượng, với hình thức này, công ty nhượng có điều kiện đem chào tái bảo hiểm từng phần trách nhiệm thặng dư của khả năng giữ lại cho một hay một số nhà tái bảo hiểm mà họ lựa chọn thay vì phải phân chia tất cả các phần thặng dư của khả năng tự giữ lại của mình cho các nhà tái bảo hiểm theo hình thức bắt buộc.
Hình thức tái bảo hiểm này thường chỉ có thể thực hiện được bằng cách chào tái cho các nhà tái bảo hiểm có tiềm lực lớn, có khả năng nhận được các đơn vị rủi ro có giá trị cao như vậy sẽ giảm bớt chi phí do phải phân tán rủi ro cho nhiều nhà tái bảo hiểm.
2. Các phương pháp tái bảo hiểm Khóa luận: Đẩy mạnh hoạt động tái bảo hiểm tại công ty bảo hiểm.
2.1. Tái bảo hiểm số thành.
Theo phương pháp tái bảo hiểm này, công ty nhượng buộc phải nhượng và công ty nhận buộc phải nhận một tỷ lệ (thường là đơn vị %) đã được ấn định trước đối với tất cả các dịch vụ mà công ty nhượng khai thác được trong một loại hình đã được thoả thuận. Thông thường, có một mức giới hạn số tiền tối đa đối với tỷ lệ phân chia đã thoả thuận.
Ta có thể hiểu cụ thể hơn qua ví dụ sau:
- Hình thức hợp đồng: Số thành
- Tỷ lệ tái: 70%.
Giả sử trong năm nghiệp vụ có phát sinh các rủi ro:
Theo phương pháp này chúng ta phân chia phí BH (Phí), trách nhiệm (Sb) và trách nhiệm bồi thường (Sbt) lần lượt cho người nhượng (1), người nhận (2) như sau:
Như vậy, việc sử dụng phương pháp này có rất nhiều ưu điểm, cụ thể là:
- Công ty nhượng có điều kiện thuận lợi là tái bảo hiểm một cách tự động và như vậy giảm bớt sự lệ thuộc vào các phương pháp tái bảo hiểm tạm thời.
- Giảm bớt được tối đa khối lượng công việc kế toán và báo cáo.
- Hợp đồng số thành là một dạng cộng tác tuyệt đối, công ty tái bảo hiểm chia sẻ hoàn toàn cùng công ty nhượng những may rủi trong kinh doanh bảo hiểm. Đối với các công ty tái bảo hiểm, đây là một phương pháp tương đối thuận lợi vì công ty nhượng tái bảo hiểm không được lựa chọn rủi ro để tái bảo hiểm.
- Thủ tục phí tái bảo hiểm mà công ty nhượng nhận được theo phương pháp này bao giờ cũng cao nhất.
Nhược điểm:
Các công ty nhượng phải chuyển tái bảo hiểm cả những rủi ro nhỏ mà bản thân công ty có khả năng giữ lại. Hình thức tái bảo hiểm này có thể làm giảm phí giữ lại của công ty nhượng.
Công ty nhượng phải đem tái đi toàn bộ các đơn vị rủi ro trong bảo hiểm gốc vì vậy không phát huy hết khả năng tài chính của công ty. Ví dụ như các rủi ro có giá trị nhỏ, công ty gốc có khả năng giữ lại mà vẫn phải tái đi. Như vậy, công ty nhượng bị giảm đi một lượng đáng kể phí gốc. Khóa luận: Đẩy mạnh hoạt động tái bảo hiểm tại công ty bảo hiểm.
Mọi đơn vị rủi ro phải đem tái đi cho nên việc giữ bí mật thông tin của công ty nhượng là rất khó.
Công ty nhượng không chủ động được trong việc khống chế tỷ lệ bồi thường đối với mức giữ lại của mình bởi vì mức giữ lại và tái đi là số tương đối. Với số tiền bảo hiểm giữ lại không đồng nhất, phương pháp này không làm giảm bớt rủi ro cho phần trách nhiệm giữ lại.
2.2. Tái bảo hiểm mức dôi
Nếu một công ty bảo hiểm chỉ tái bảo hiểm theo hợp đồng tái bảo hiểm số thành, công ty đó sẽ phải thường xuyên vận dụng đến hình thức tái bảo hiểm tạm thời vì có nhiều rủi ro lớn không định trước.
Nhằm tăng ưu thế trong tái bảo hiểm tự động của mình, công ty nhượng cần phải thu xếp một hợp đồng mức dôi bên trên phần hợp đồng tái bảo hiểm số thành cơ bản của mình.
Phương pháp tái bảo hiểm theo hình thức mức dôi này cho phép công ty nhượng chuyển đi phần trách nhiệm phụ trội, vượt quá giới hạn trong hợp đồng bảo hiểm số thành, và được giới hạn ở một mức cao hơn.
Mức độ chuyển tái bảo hiểm trong một hợp đồng tái bảo hiểm mức dôi được thể hiện bởi số các lần. Một lần bằng 100% mức giới hạn của hợp đồng tái bảo hiểm số thành cơ bản. Vì vậy nếu một công ty nhượng có một hợp đồng mức dôi gồm 10 lần, nghĩa là hợp đồng có mức độ chuyển tái bảo hiểm bằng 10 lần giới hạn của hợp đồng số thành cơ bản.
Phí tái cho các công ty tái bảo hiểm trong một hợp đồng mức dôi được tính trên phần trách nhiệm được chuyển nhượng trong hợp đồng đó.
Ngày nay, rất hiếm khi các công ty sử dụng hợp đồng số thành để bảo vệ các nghiệp vụ của chính mình. Các hợp đồng mức dôi được áp dụng phổ biến hơn. Như vậy mức độ chuyển tái bảo hiểm của một hợp đồng mức dôi sẽ được thể hiện như là một bội số của mức giữ lại của công ty nhượng.
Cụ thể hơn, chúng ta sẽ xét ví dụ sau:
- Hình thức hợp đồng: mức dôi.
- Mức giữ lại: 000 USD.
Giới hạn trách nhiệm của người nhận tái:
- Mức dôi thứ nhất: 10 lần (3.000.000 USD)
- Mức dôi thứ hai: 5 lần (1.500.000 USD).
Trong năm nghiệp vụ đã phát sinh các rủi ro như sau:
Theo phương pháp này ta có thể chia số tiền bảo hiểm (Sb), phí bảo hiểm (Phí), trách nhiệm bồi thường (Sbt) cho người nhượng (1) và người nhận theo mức dôi thứ nhất (2) và mức dôi thứ 2 (3) như sau:
- Phí bảo hiểm
- Số tiền phải bảo hiểm.
Từ ví dụ trên, ta có thể rút ra một số ưu điểm và hạn chế của phương pháp này như sau:
Ưu điểm của phương pháp: Khóa luận: Đẩy mạnh hoạt động tái bảo hiểm tại công ty bảo hiểm.
- Người nhượng có được sự ổn định trong phần giữ lại đối với mọi đơn vị rủi ro, hoặc những đơn vị rủi ro cùng loại của nghiệp vụ tái. Như vậy vấn đề còn lại về cơ bản chỉ là việc xác định mức giữ lại thật phù hợp với khả năng tài chính của mình.
- Những hợp đồng có số tiền bảo hiểm nhỏ được giữ lại toàn bộ, người nhận tái không tham gia vào tất cả các đơn vị rủi ro được bảo hiểm, dù chúng đều thuộc nghiệp vụ ấn định của hợp đồng tái bảo hiểm.
Nhược điểm
- Trách nhiệm của người nhượng vẫn bị đe doạ bởi các trường hợp tập trung, tích tụ rủi ro.
- Tái bảo hiểm mức dôi không thể sử dụng trong loại bảo hiểm không giới hạn cho đối tượng bảo hiểm là trách nhiệm dân sự.
- Sử dụng phương pháp này đòi hỏi một bộ máy quản lý khá cồng kềnh, phức tạp.
Vì vậy trong thực tế, người ta từng sử dụng phương pháp này cho
các nghiệp vụ như: bảo hiểm cháy, thân tàu biển, hàng hoá vận chuyển bằng đường biển, rủi ro công nghiệp… nói chung là những loại nghiệp vụ có sự chênh lệch lớn về số tiền bảo hiểm của các đơn vị rủi ro.
2.3. Tái bảo hiểm vượt mức bồi thường
Tái bảo hiểm vượt mức bồi thường là phương pháp tái bảo hiểm phi tỷ lệ, theo đó công ty nhượng giữ lại cho mình số tiền bồi thường nhất định, phần vượt quá đem tái đi cho công ty khác. Phương pháp này có đặc điểm là trách nhiệm đảm đương của các bên là số tiền bồi thường chứ không phải là số tiền bảo hiểm, vì vậy loại hợp đồng này được ký kết hết sức chặt chẽ và cẩn thận.
Vì các bên đảm đương số tiền bảo hiểm nên các nhà tái bảo hiểm phải được sắp xếp theo một trật tự các lớp rất nghiêm ngặt. Trật tự này phải được công bố công khai và phải được ghi một cách cụ thể trong hợp đồng. Khi tổn thất xảy ra, công ty nhượng bồi thường trước cho tới mức giữ lại, tiếp đó là các nhà tái bảo hiểm lớp 1, lớp 2…Việc phân chia trách nhiệm này là bất di bất dịch. Tất cả các nhà tái bảo hiểm phải đảm đương theo mức trách nhiệm mình đảm nhận, số vượt quá là công ty nhượng chịu hoàn toàn. Khóa luận: Đẩy mạnh hoạt động tái bảo hiểm tại công ty bảo hiểm.
Theo phương pháp này cứ đầu năm nghiệp vụ công ty nhượng phải đặt cọc cho các nhà tái bảo hiểm một số tiền nhất định gọi là phí đặt cọc. Nếu năm đó tổn thất không xảy ra, công ty nhượng cũng không đòi được phần phí đặt cọc này, đó chính là lãi của các nhà tái bảo hiểm.
Nếu năm đó tổn thất lớn xảy ra mà mức giữ lại của các nhà tái bảo hiểm lớn, các bên có thể đàm phán lại dựa vào tỷ lệ phí điều chỉnh nhằm đảm bảo quyền lợi cho các bên, từ đó mới tạo lập được mối quan hệ lâu dài.
- Ưu điểm của phương pháp:
Với hợp đồng tái bảo hiểm vượt mức bồi thường, người nhượng về cơ bản giữ lại được phần trách nhiệm tương ứng với khả năng tài chính của mình, tuy nhiên với điều kiện cơ bản và mức tự bồi thường phải được xác định hợp lý.
Hợp đồng vượt mức bồi thường cũng có tác dụng ít nhiều trong việc sửa chữa những sai sót trong việc tính toán giá trị thiệt hại tối đa có thể. Nói riêng về hợp đồng vượt mức bồi thường theo sự cố có tác dụng đặc biệt trong việc chống lại sự tích tụ, tập trung rủi ro.
- Nhược điểm:
Phương pháp này chưa thể bảo vệ được trường hợp trách nhiệm của người nhượng gia tăng bởi tổng số nhiều tổn thất nhỏ, từ nhiều đơn vị rủi ro và từ nhiều sự cố mà chi phí thiệt hại riêng sẽ thấp hơn hoặc chỉ bằng mức tự bồi thường, phát sinh trong một năm nghiệp vụ.
Thêm vào đó, trong trường hợp tổn thất xảy ra quá lớn, khi các nhà nhận tái đã bồi thường hết trách nhiệm của mình thì phần còn lại công ty nhượng sẽ phải chịu toàn bộ. Như vậy trong một số trường hợp phải tiến hành đàm phán lại với mục đích tạo dựng mối quan hệ bền vững và lâu dài dẫn đến chi phí quản lý khá lớn.
2.4. Tái bảo hiểm vượt quá tỷ lệ bồi thường. Khóa luận: Đẩy mạnh hoạt động tái bảo hiểm tại công ty bảo hiểm.
Theo phương pháp này, công ty nhượng khống chế trách nhiệm bồi thường một tỷ lệ nhất định cho bản thân công ty, phần vượt quá đem tái đi cho các công ty khác. Trên cơ sở tỷ lệ bồi thường, trách nhiệm bồi thường của các bên được phân định về nguyên tắc như sau:
- Trước hết người nhượng khống chế trách nhiệm của mình trong một phạm vi tỷ lệ bồi thường nhất định.
- Nếu trong năm nghiệp vụ những thiệt hại liên quan tới nghiệp vụ tái phát sinh quá nhiều và nặng nề, tỷ lệ bồi thường vượt quá tỷ lệ người nhượng ấn định giữ lại thì người nhận tái sẽ chịu trách nhiệm.
- Có thể có nhiều người nhận tái và trách nhiệm của họ sẽ được xác định theo những khoản tỷ lệ nhất định.
Ưu điểm của phương pháp:
Với phương pháp này người bảo hiểm có thể giữ cho kết quả tài chính của năm nghiệp vụ ổn định ở mức độ cần thiết. Ví dụ như trong một nghiệp vụ nhất định người bảo hiểm có tỷ lệ chi phí quản lý chung là 30% thì việc cân bằng nghiệp vụ chỉ có được khi tỷ lệ bồi thường không vượt quá 70%. Như vậy người bảo hiểm sẽ thực sự cần đến phương pháp tái bảo hiểm này.
Kỹ thuật của phương pháp này đơn giản trên khía cạnh: Trách nhiệm của người nhận tái được tính từ kết quả toàn bộ của năm nghiệp vụ mà không theo từng tổn thất.
- Nhược điểm:
Phương pháp này khá nguy hiểm cho người nhận tái. Thực tế người nhận tái có thể phải gánh chịu toàn bộ những sai sót của người nhượng về chấp nhận rủi ro, định phí bảo hiểm… Vì vậy để người nhượng quan tâm đến kết quả nghiệp vụ, hợp đồng tái bảo hiểm vượt tỷ lệ bồi thường có thể thêm điều khoản: giành lại cho người nhượng một phần trách nhiệm mà đáng lẽ người nhận phải trả (thường từ 5% đến 10%).
Vì những điểm trên mà trong thực tế, phương pháp này không được sử dụng nhiều và chỉ thích hợp với loại rủi ro thường xuất hiện theo mùa và có sự dao động lớn giữa các năm.
2.5. Tái bảo hiểm kết hợp. Khóa luận: Đẩy mạnh hoạt động tái bảo hiểm tại công ty bảo hiểm.
Trong thực tế, mỗi khi sử dụng một phương pháp tái bảo hiểm nào những người bảo hiểm cũng rất khó khăn vì những điểm còn hạn chế của chúng. Vì vậy người ta đã nghĩ ra cách cần phải tiến hành đồng thời các phương pháp sẽ có thể giảm được những vấn đề khó giải quyết.
- Kết hợp tái bảo hiểm số thành và mức dôi.
Theo phương pháp này, trước hết tiến hành phân bổ cho hợp đồng số thành trước sau đó mới phân bổ tiếp cho hợp đồng mức dôi. Phí bảo hiểm và số tiền bảo hiểm nếu có cũng được phân bổ theo tỷ lệ mỗi bên đảm nhận.
Và như vậy khi thực hiện theo phương pháp này thì phân tán rủi ro nhanh hơn, việc ký hợp đồng cũng dễ dàng hơn, vì nó thoả mãn được nhu cầu đa dạng của các nhà tái bảo hiểm. Đồng thời phương pháp này rất phù hợp với những đơn vị rủi ro và những đối tượng có giá trị bảo hiểm hay số tiền bảo hiểm khá lớn.
Tuy nhiên khi tiến hành phân bổ trách nhiệm giữa các bên trong loại hợp đồng kết hợp này phải chú ý đến hạn mức trách nhiệm của mỗi loại hopự đồng vì là phương pháp kết hợp nên hạn mức này được quy định hết sức chặt chẽ.
- Kết hợp giữa tái bảo hiểm số thành và vượt mức bồi thường.
Theo phương pháp này nhà tái bảo hiểm vượt mức bồi thường sẽ bảo vệ cho công ty nhượng hoặc công ty nhận tái bảo hiểm số thành. Bảo vệ cho công ty nào thì đầu năm nghiệp vụ công ty đó phải trả phí đặt cọc. Nếu năm đó tổn thất không xảy ra thì công ty được bảo vệ cũng không có quyền đòi lại phí đặt cọc này.
Đối với loại hợp đồng kết hợp này đầu tiên phải phân bổ trách nhiệm cho hợp đồng số thành trước sau đó căn cứ vào hạn mức bảo vệ, các bên phân chia số tiền bồi thường cho thoả đáng. Phương pháp này cũng có đặc điểm phân tán rủi ro nhanh, dễ ký kết và phù hợp với những đơn vị rủi ro có tổn thất lớn.
Song, việc ký kết loại hợp đồng này còn tuỳ thuộc vào tình hình thực tế và nhu cầu của các bên đặc biệt là mối quan hệ với nhà tái bảo hiểm vượt mức bồi thường thì bên nào cần bảo vệ thì bên đó phải chịu trách nhiệm đóng phí.
- Kết hợp giữa tái bảo hiểm mức dôi và vượt mức bồi thường.
Theo phương pháp này, việc phân chia trách nhiệm ban đầu được tiến hành cho hợp đồng mức dôi trước. Khi tổn thất xảy ra, nhà tái bảo hiểm vượt mức bồi thường sẽ bảo vệ cho công ty nhượng hoặc công ty nhận tuỳ theo yêu cầu. Và công ty nào được bảo vệ thì công ty đó phải nộp phí đặt cọc. Nếu năm đó tổn thất không xảy ra, công ty được bảo vệ không được đòi lại khoản phí này.
Phương pháp này làm giảm nhẹ gánh nặng cho hợp đồng mức dôi bởi vì hợp đồng này đôi khi có giá trị bảo hiểm hoặc số tiền bảo hiểm rất lớn. Đồng thời phương pháp này cũng có tác dụng đối với những công ty bảo hiểm mới thành lập mà bạn hàng ít, kinh nghiệm chưa có. Hơn nữa, phương pháp này còn rất phù hợp với một số nghiệp vụ bảo hiểm mang tính chất tích luỹ rủi ro giúp công ty nhượng tái bảo hiểm mức dôi không phải mở những hợp đồng tạm thời vào dịp cuối năm nghiệp vụ.
Tuy nhiên việc bảo vệ cho công ty nhượng ở đây phải được thoả thuận rất cụ thể và chặt chẽ bởi vì số tiền bảo hiểm còn thừa thường dồn về công ty nhượng, trong khi đó mức giữ lại đã được thoả thuận từ trước. Khóa luận: Đẩy mạnh hoạt động tái bảo hiểm tại công ty bảo hiểm.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Hoạt động tái bảo hiểm tại Tổng công ty Tái bảo hiểm
