Khóa luận: Thực trạng doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa tại Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

Hiệu quả của phương pháp cổ phần hóa trong việc cải tổ doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam sẽ được đánh giá thông qua mức độ giải quyết những vấn đề còn tồn tại của doanh nghiệp giai đoạn trước cổ phẩn và những giá trị gia tăng mới mà cổ phần hóa đem lại cho doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung. Mức độ này sẽ được xem xét thông qua các mục tiêu được đặt ra đối với việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước.

Dựa trên những mục tiêu mà điều 1 Nghị định 109/2026/NĐ-CP ra ngày 26/06/2026 về cổ phần hóa doanh nghiệp 100% vốn nhà nước, các tiêu chí đánh giá được đề xuất trong phạm vi nghiên cứu của khóa luận bao gồm 4 nhóm:

  • Nhóm I: Năng lực tài chính:
  • Nhóm II: Phương thức quản lý
  • Nhóm III: Đảm bảo hài hòa lợi ích của người lao động
  • Nhóm IV: Tính công khai minh bạch theo nguyên tắc thị trường

I. NĂNG LỰC TÀI CHÍNH

1. Năng lực tài chính không ngừng được nâng cao

Trước cổ phần hóa, đa phần năng lực tài chính của các doanh nghiệp nhà nước còn thấp, hoạt động kinh doanh chưa hiệu quả, cụ thể:

  • Quy mô doanh nghiệp còn nhỏ bé, hiệu quả kinh doanh chưa cao
  • Nguồn vốn thiếu, công nợ lớn, khả năng thanh toán hạn chế:
  • Vốn nhà nước đầu tư hạn chế, vốn tự bổ sung từ lợi nhuận sau thuế ít do hiệu quả doanh nghiệp thấp kém hoặc không có. Việc huy động vốn dưới hình thức phát hành trái phiếu doanh nghiệp, tín phiếu hoặc nhận vốn góp liên doanh rất hạn hẹp.
  • Tình trạng kinh doanh bị lỗ mất hết vốn còn nhiều.
  • Khả năng thanh toán nợ hạn chế: hệ số nợ trên vốn Nhà nước tại doanh nghiệp bình quân là 1,26 lần, nhưng nhiều doanh nghiệp có hệ số là trên 5.

Khả năng cạnh tranh của DN thấp, chi phí sản xuất, giá thành cao:

  • Tiêu hao nguyên vật liệu cao:
  • Chi phí khấu hao máy móc thiết bị quá lớn :
  • Chi phí tiền lương cao:
  • Chi phí quản lý tương đối cao so với hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp (như lãi vay, giao dịch, tiếp khách, tiếp tân, khánh tiết, quảng cáo, xúc tiến thương mại…)[8].

Cổ phần hóa thực sự đã đem lại những hiệu quả rõ rệt cho các doanh nghiệp nhà nước đặc biệt trong việc cải thiện tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Khóa luận: Thực trạng doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa.

Trong Báo cáo nghiên cứu về hậu cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước của Viện nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương năm 2025, tính từ năm 1992 đến 2024, sau cổ phần hóa, hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp đều được triển khai tích cực. Qua khảo sát 559 doanh nghiệp cổ phần từ hơn 1 năm trở lên thì có tới 87.53% khẳng định kết quả hoạt động tài chính tốt hơn trước cổ phần hóa.

Ngay trong năm đầu tiên cổ phần hóa, doanh thu bình quân của doanh nghiệp tăng khoảng 13%, lợi nhuận sau thuế đã tăng đến 48,8%. Điều này cho thấy, việc chuyển đổi đã có tác dộng mạnh đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Đối với những doanh nghiệp cổ phần hóa nhiều năm, đã đi vào hoạt động ổn định, tăng trưởng của doanh nghiệp tiếp tục được duy trì, doanh thu hàng năm tăng 13,4%, lợi nhuận trước thuế đạt 9,4% nhưng lợi nhuận sau thuế tăng tới 54,3%.

Bên cạnh đó, những chỉ số như năng suất lao động tăng 18,3%, đầu tư tài sản cổ định tăng 11,5%, lương bình quân doanh nghiệp tăng 11,4%… đã một lần nữa khẳng định hiệu quả của việc chuyển đổi mô hình cổ phần hóa của các doanh nghiệp nhà nước[16].

Có thể thấy rõ hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các công ty cổ phần có vốn nhà nước qua một số chỉ tiêu sau:

1.1. Cơ cấu sở hữu đã có những thay đổi đáng khích lệ

Cải cách doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt là cổ phần hóa đã củng cố khu vực tư nhân và làm giảm nợ công, phần nào cải thiện được cơ cấu sở hữu trong các doanh nghiệp nhà nước. Theo Bộ Tài chính, tính đến tháng 8/2026 có gần 20% vốn nhà nước đã được cổ phần hóa, trung bình trong các công ty đã cổ phần hóa, nhà nước nắm giữ khoảng 46% cổ phần, người lao động nắm giữ gần 30% và số còn lại thuộc sở hữu các cổ đông khác. Trong đó, tỷ lệ các công ty đã cổ phần hóa có phần vốn nhà nước nắm giữ hơn 50% là 33%[16].

1.2. Khả năng huy động vốn và quy mô vốn sản xuất kinh doanh được mở rộng

CPH là giải pháp quan trọng trong cơ cấu lại Doanh nghiệp Nhà nước để Doanh nghiệp Nhà nước có cơ cấu thích hợp, quy mô lớn hơn và tập trung vào những ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế. Từ chỗ Doanh nghiệp Nhà nước rất phân tán, dàn trải trong tất cả các ngành, lĩnh vực, đã tập trung hơn vào 39 ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế, trong đó, nhiều ngành, lĩnh vực Nhà nước cần thiết chi phối để làm công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô; quy mô vốn của Doanh nghiệp Nhà nước cũng được tăng lên. Năm 2020, vốn bình quân một Doanh nghiệp Nhà nước là 24 tỷ đồng; đến nay, khoảng gần 90 tỷ đồng [8].

Nhìn chung, doanh nghiệp nhà nước tuy vốn lớn, tuy nhiên khả năng huy động và tốc độ tăng trưởng về vốn đều không cao. Cuối năm 2019, vốn sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhà nước là 670.234 tỷ đồng, cuối năm 2024, tăng lên 1.338.255 tỷ đồng; bình quân mỗi năm 133.604 tỷ, tương ứng với tốc độ tăng trưởng chung trong 5 năm là 99,7% (gần gấp đôi) và bình quân mỗi năm tăng 14,9%.

Trong khi đó, tại các doanh nghiệp cổ phần có vốn nhà nước, vốn sản xuất đã tăng lên không ngừng từ 10.417 tỷ đồng thời điểm cuối năm 2019 lên 109.520 tỷ ở thời điểm cuối năm 2024. Như vậy, sau 5 năm, vốn sản xuất kinh doanh đã tăng lên 99.103 tỷ đồng, bình quân mỗi năm tăng 19.821 tỷ; tốc độ tăng trưởng chung trong 5 năm gấp 10.5 lần và bình quân mỗi năm tăng 65.5%[xem bảng 1].

So sánh với tốc độ tăng trưởng về vốn của khu vực doanh nghiệp nhà nước nói chung, thì những số liệu trên là những thành quả ấn tượng và đáng khích lệ.

1.3. Giá trị tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn tăng lên Khóa luận: Thực trạng doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa.

Tại các doanh nghiệp nhà nước, giá trị tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn tính đến cuối năm 2019 là 259.856 tỷ, cuối năm 2024 là 487.210 tỷ; sau 5 năm đã tăng thêm 257.345 tỷ, bình quân mỗi năm tăng 57.471 tỷ; tương ứng với tốc độ tăng trưởng chung trong 5 năm 112,0% và bình quân mỗi năm tăng 16,5%.

Tại các công ty cổ phần có vốn nhà nước, con số này cuối năm 2019 là 2.947 tỷ đồng lên 25.077 tỷ đồng vào cuối 2024; trong 5 năm đã tăng thêm 93.592 tỷ đồng, bình quân mỗi năm tăng 18.718 tỷ; tốc độ tăng trưởng chung trong 5 năm 10.1 lần và bình quân mỗi năm tăng 61,1% [xem bảng 1].

Như vậy, có thể thấy khu vực công ty cổ phần có vốn nhà nước có tốc độ tăng trưởng tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn nhanh gấp hơn 5 lần so với khu vực doanh nghiệp nhà nước. Điều này đã thể hiện rõ ràng hiệu quả của phương pháp cổ phần hóa trong cải tổ doanh nghiệp nhà nước.

1.4. Doanh thu thuần sản xuất kinh doanh tăng trưởng nhanh

Doanh thu thuần sản xuất kinh doanh của khu vực doanh nghiệp nhà nước tăng từ 444.673 tỷ đồng năm 2019 đã lên 838.396 tỷ trong năm 2024, sau 5 năm tăng thêm 393.723 tỷ, bình quân mỗi năm tăng 78.745 tỷ; tương ứng với tốc độ tăng trưởng chung 5 năm là 88,5% và bình quân mỗi năm tăng 14,0%.

Tại khu vực công ty cổ phần có vốn nhà nước, con số này là đã tăng thêm 93.592 tỷ đồng từ 10.275 tỷ đồng năm 2019 lên 103.887 tỷ đồng năm 2024; tương ứng với tốc độ tăng trưởng chung trong 5 năm là 10.1 lần, bình quân mỗi năm tăng lên 61,1% [xem bảng 1]. Khóa luận: Thực trạng doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa.

Vậy, với tốc độ tăng bình quân hằng năm về số lượng công ty cổ phần có vốn nhà nước chỉ ở mức 29,8% và số lượng lao động chỉ tăng 35,9%/năm, nhưng các chỉ tiêu về vốn, tài sản và kết quả sản xuất kinh doanh đã tăng với tốc độ gấp đôi. Cụ thể, tốc độ tăng bình quân về vốn là 65,6%, tài sản cố định và đầu tư tài chính dài hạn đã tăng 59,9%/năm và doanh thu thuần sản xuất kinh doanh đã tăng 61,1%/năm [xem bảng 1]. Điều đó có nghĩa là tại các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa, năng lực sản xuất kinh doanh và kết quả sản xuất kinh doanh đã được tăng lên rất đáng kể. Từ đó, có thể đánh giá được rằng, mục tiêu quan trọng nhất của tiến trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đặt ra là nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đã đạt được ở mức rất cao.

  • Bảng 1: Một số chỉ tiêu về doanh nghiệp nhà nước và công ty cổ phần có vốn nhà nước

Sở dĩ các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa đạt được những thành tựu đáng mừng trong tăng cường năng lực tài chính như trên là do những nguyên nhân sau:

  • Thứ nhất, vấn đề nợ của doanh nghiệp được xử lý tốt trong qua trình cổ phần hóa, tạo điều kiện tài chính lành mạnh cho doanh nghiệp phát triển.

Trong quá tình sắp xếp, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước từ 2021 đến nay, các doanh nghiệp nhà nước đã được xử lý giãn nợ, khoanh nợ, xóa nợ thuế và các khoản phải nộp ngân sách Nhà nước với tổng số tiền là 314,91 tỷ đồng; xử lý nợ đọng hơn 19 nghìn tỷ đồng, chủ yếu bằng biện pháp thu hồi nợ, bán tài sản bảo đảm, sử dụng dự phòng rủi ro của ngân hàng [17]. Trong số các doanh nghiệp đã cổ phần hóa, có khoảng 2019 doanh nghiệp có nợ và tài sản loại trừ không tính vào giá trị doanh nghiệp. Công ty Mua bán nợ và tài sản tồn đọng đã tiếp nhận nợ và tài sản loại trừ của 1.222 doanh nghiệp với giá trị 1.411 tỷ đồng. Công ty đã xử lý nợ và tài sản cho 331 doanh nghiệp, với tổng giá trị là 390 tỷ đồng; giá trị thu hồi là 125 tỷ đồng.

Sau quá trình xử lý nợ này, đa phần các doanh nghiệp nhà nước đã bước đầu có điều kiện tài chính trong sạch để bắt đầu một thời kỳ hoạt động mới, tạo thế và lực cho doanh nghiệp trong sản xuất kinh doanh.

  • Thứ hai, cổ phần hóa tạo sự gắn bó giữa doanh nghiệp và người lao động

Cổ phần hóa giúp người lao động có cơ hội mua được cổ phần của doanh nghiệp với giá ưu đãi, cho phép người lao động được quyền làm chủ thật sự công ty mình, tạo ra sự rằng buộc chặt chẽ về mặt lợi ích giữa người lao động và doanh nghiệp. Qua khảo sát, các chuyên gia thuộc Viên nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương đã khẳng định: việc thay đổi về mô hình hoạt động của cán bộ quản lý và người lao động đã có tác động tích cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Cụ thể, cán bộ quản lý và người lao động đã gắn bó hơn với doanh nghiệp, nhờ đó mà hiệu quả sản xuất đã tăng lên; có 96% doanh nghiệp cho biết cán bộ quản lý đã quan tâm nhiều hơn đến kết quả sản xuất và hiệu quả kinh doanh và 88% doanh nghiệp khẳng định, kết quả sản xuất của người lao động đã tăng lên khi tiền lương được tính toán trên cơ sở hiệu quả sản xuất. Hiệu quả sản xuất tăng lên có thể thấy được qua việc sử dụng cơ sở vật chất và nguồn lực ngày càng tốt hơn, thực tế có tới 85% doanh nghiệp cho rằng đã sử dụng tốt hơn năng lực sản xuất so với giai đoạn trước cổ phần hóa.

  • Thứ ba, cổ phần hóa tạo điều kiện cho doanh nghiệp thu hút được vốn đầu tư, đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất kinh doan.: Khóa luận: Thực trạng doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa.

Việc phát hành cổ phần, đặc biệt là phát hành ra công chúng, trong quá trình cổ phần hóa đã tạo ra một nguồn vốn thặng dư lớn, tạo nguồn lực mạnh mẽ về mặt tài chính cho phép doanh nghiệp thực hiện các dự án táo bạo, đổi mới công nghệ, phát triển sản xuất.

  • Thứ tư, nhà nước dành nhiều ưu đãi cho doanh nghiệp sau cổ phần hóa

Sau cổ phần hóa, doanh nghiệp nhà nước được rất nhiều ưu đãi nhằm mục đích hỗ trợ doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh như: được hưởng ưu đãi như đối với doanh nghiệp thành lập mới theo quy định của pháp luật về khuyến khích đầu tư mà không cần phải làm thủ tục cấp chứng nhận ưu đãi đầu tư; được miễn lệ phí trước bạ đối với việc chuyển những tài sản thuộc quyền quản lý và sử dụng của doanh nghiệp cổ phần hóa thành sở hữu của công ty cổ phần; được duy trì các hợp đồng thuê nhà cửa, vật kiến trúc của các cơ quan Nhà nước hoặc được ưu tiên mua lại theo giá thị trường tại thời điểm cổ phần hoá để ổn định hoạt động sản xuất, kinh doanh; được nhà nước trợ cấp về mặt tài chính trong giải quyết vấn đề lao động dôi dư sau cổ phần hóa…

Đặc biệt là trong thời kỳ cổ phần hóa từ năm 2024 trở về trước, số tiền thu về từ việc bán bớt phần vốn nhà nước tại các đơn vị chuyển đổi sở hữu đều được để lại cho doanh nghiệp sử dụng vào những việc như: đào tạo người lao động, giải quyết lao động dôi dư, tái đầu tư cho doanh nghiệp phát triển. Chính nhờ đó, hầu hết doanh nghiệp đã cổ phần hóa đều làm ăn hiệu quả, nộp ngân sách, nộp thuế tăng vọt, số lượng lao động tuyển mới tăng thêm, thu nhập của cán bộ công nhân viên được cải thiện đáng kể.

Hơn thế nữa, do Cổ phần hóa là chủ trương lớn, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của DN nói riêng, cả nền kinh tế nói chung, do đó, trước năm 2026, để thúc đẩy quá trình cổ phần hóa, nhà nước đã ra ưu đãi về miễn giảm thuế như sau: miễn thuế Thu nhập doanh nghiệp trong 2 năm đầu chuyển đổi và giảm 50% số thuế phải nộp của 2 năm tiếp theo. Điều này đã tạo điều kiện cho doanh nghiệp tăng cường khả năng tích lũy vốn trong những năm hoạt động đầu tiên, đồng thời giúp doanh nghiệp có khả năng tài chính vững mạnh để phát triển sản xuất kinh doanh trong những năm tiếp theo.

2. Một số vấn đề còn tồn tại và nguyên nhân Khóa luận: Thực trạng doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa.

2.1. Thực trạng vấn đề

Thứ nhất, Doanh nghiệp chỉ chú trọng đến kết quả sản xuất kinh doanh nhưng hiệu quả sản xuất kinh doanh không tăng, thậm chí ở một số nơi còn giảm.

Thứ hai, Tại nhiều doanh nghiệp, kết quả kinh doanh ấn tượng không đi liền với dòng tiền ra dồi dào. Doanh nghiệp dù báo cáo làm ăn tốt vẫn phải đối mặt với rủi ro thiếu vốn lưu động, thiếu tiền đầu tư, khả năng thanh toán giảm…

Thứ ba, Tình hình làm ăn trong các năm tiếp theo của các doanh nghiệp cổ phần hóa có xu hướng giảm sút so với những năm đầu tiên mới cổ phần.

Thứ tư, tỷ lệ nắm giữ cổ phần của Nhà nước trong các doanh nghiệp sau cổ phần hoá còn quá lớn trong khi khả năng quản lý vốn còn hạn chế, gây mất cân đối trong cơ cấu vốn, gây khó khăn trong quản lý và điều hành doanh nghiệp.

Mặc dù, sau 15 năm thực hiện, tiến trình cổ phần hoá có đạt được một số thành tựu nhất định, nhưng cơ cấu sở hữu tại Việt Nam vẫn không thay đổi bao nhiêu. Nhìn vào kết quả thống kê của Ban chỉ đạo đổi mới và phát triển doanh nghiệp, cho đến nay, cả nước có 3107 doanh nghiệp được cổ phần hoá trên tổng số 5700 doanh nghiệp nhà nước. Thế nhưng, mặc dù đã cổ phần hoá khoảng 54,5% tổng số các doanh nghiệp Nhà nước, vốn của các doanh nghiệp này vẫn chỉ chiếm khoảng 11,5 % – 17% tổng số vốn của cả hệ thống doanh nghiệp Nhà nước. Điều này cho thấy, tính chung cho cả nền kinh tế, cổ phần hoá ở Việt Nam hầu như chưa có tác động nào đến cấu trúc sở hữu của nền kinh tế.

Trong thời gian qua, Nhà nước luôn nắm giữ một tỷ lệ cổ phần cao trong các doanh nghiệp cổ phần hoá, trung bình khoảng 30% trong giai đoạn 2017 – 2021, tỷ lệ cổ phần nhà nước trong các doanh nghiệp cổ phần hoá có chiều hướng tăng lên. Năm 2022, Nhà nước nắm giữ 55,4% tổng cổ phần phát hành bởi các doanh nghiệp cổ phần hoá và tỷ lệ này đến năm 2023 vẫn duy trì ở mức cao – 50%. Khóa luận: Thực trạng doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa.

Việc Nhà nước duy trì tỷ lệ cổ phần đa số vô hình chung đã tạo ra một số khó khăn trong việc điều hành Công ty tại các doanh nghiệp này. Cụ thể là: cổ phần hoá vẫn chưa tạo ra được sự rạch ròi giữa quyền quản lý nhà nước và quyền sở hữu, vì nhà nước vừa là người ban hành các quy định, vừa là cổ đông lớn. Khi sở hữu đa số cổ phần, những người đại diện vốn Nhà nước tại doanh nghiệp có quyền phủ quyết các quyết định quản lý và đầu tư quan trọng, điều này có thể dẫn đến trường hợp can thiệp một cách duy ý chí vào hoạt động điều hành của doanh nghiệp. ở tầm vĩ mô, việc nhà nước đóng vai trò kép – vừa là chủ sở hữu các doanh nghiệp nhà nước và các doanh nghiệp cổ phần hoá, vừa là cơ quan hành pháp tối cao – tạo ra khả năng doanh nghiệp sẽ bị một số cơ quan Nhà nước thao túng.

Một vấn đề cần quan tâm khác là khả năng và nguồn lực quản lý vốn của Nhà nước còn rất hạn chế trong khi cơ quan này phải giám sát cùng lúc rất nhiều doanh nghiệp cổ phần hoá. Hệ quả là, cho dù trở thành cổ đông lớn (nếu không nói là lớn nhất) trong nhiều doanh nghiệp thì nhà nước cũng không thể sử dụng quyền điều hành và giám sát một cách đúng đắn. Điều này, cùng với việc người lao động thường chỉ có tiếng nói yếu ớt, dẫn tới tình trạng ban Giám đốc không bị giám sát, trong nhiều trường hợp, đã có thể tự do làm theo ý mình, rất dễ xảy ra tình trạng lạm dụng quyền của tập thể để phục vụ lợi ích cá nhân.

2.2. Nguyên nhận

Do nhiều doanh nghiệp bị sức ép tạo ra doanh thu và áp lực phải trả cổ tức cho cổ đông, do đó đã chạy theo mục tiêu lợi nhuận mà không chú trọng đến hiệu quả.

Đặc biệt do chế độ kế toán tài chính ở Việt Nam chưa phát triển, bảng Báo cáo lưu chuyển tiền tệ còn chưa phổ cập và ít được chú ý. Do đó, dù con số về lợi nhuận và doanh thu ấn tượng, nhưng khoản phải thu ở nhiều doanh nghiệp rất lớn, dẫn tới, dù có thu nhập, nhưng thu nhập chỉ là hình thức, thể hiện trên sổ sách kế toán, còn thực sự, doanh nghiệp vẫn không có dòng tiền ra, làm giảm nguồn vốn lưu động, giảm khả năng thanh toán của doanh nghiệp, tạo rủi ro lớn trong trường hợp doanh nghiệp kinh doanh bằng vốn vay.

Đa phần các doanh nghiệp đều sử dụng vốn chủ sở hữu để đầu tư, chưa biết tận dụng nguồn vốn vay một cách hợp lý, dẫn tới cơ cấu vốn thiếu hợp lý, không tối ưu hóa được hiệu quả sử dụng vốn, khả năng sinh lời của vốn chủ sở hữu không cao.

Ưu đãi về thuế trước đây đối với các doanh nghiệp cổ phần đã tạo ra những con số lợi nhuận quá lớn, không phản ánh được bản chất hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Sau thời gian được miễn giảm thuế, mất đi ưu thế này, kết quả kinh doanh tại nhiều công ty giảm đi rõ rệt cũng là điều dễ hiểu.

Tỷ lệ cổ phần nắm giữ của nhà nước còn cao là do việc tăng đột ngột tỷ lệ cổ phần nắm giữ, đặc biệt từ năm 2021 đã dẫn tới hiện tượng cơ cấu vốn trong doanh nghiệp Nhà nước sau cổ phần hoá chưa hợp lý. Nhà nước đẩy mạnh việc cổ phần hoá đối với các doanh nghiệp ở nhiều ngành kinh tế trọng điểm và các doanh nghiệp nhà nước được cổ phần hoá này thường có quy mô lớn hơn và lợi nhuận cao hơn so với các doanh nghiệp đã được cổ phần hoá trong những năm trước đó.

II. PHƯƠNG THỨC QUẢN LÝ Khóa luận: Thực trạng doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa.

1. Phương thức quản lý đã có những biến chuyển tích cực

1.1. Chuyển biến trong quản lý của cơ quan chủ quản nhà nước

Năm 2024, nhà nước ra quyết định thành lập Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) đã góp phần giải quyết được thực trạng không tách bạch giữa chức năng quản lý hành chính và quản lý kinh tế của Nhà nước. Việc thành lập Tổng Công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà Nước là một trong những giải pháp quan trọng để thực hiện cải cách trong công tác quản lý vốn và tài sản Nhà nước đầu tư tại các doanh nghiệp, xoá bỏ cơ chế chủ quản, tập trung nguồn lực để thực hiện các dự án đầu tư trọng điểm, phát triển kinh tế xã hội. Đến nay, SCIC đã tiếp nhận chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước khoảng 600 doanh nghiệp, với tổng số vốn nhận bàn giao theo giá sổ sách khoảng 4.000 tỷ đồng. Tính theo giá thị trường thì tổng giá trị tài sản của SCIC lên tới gần 33.000 tỷ đồng, tăng gấp 9,7 lần so với giá trị sổ sách; tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu đạt 18,4% [18]. Việc chuyển giao quyền đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước tại các doanh nghiệp về SCIC đã tách dần chức năng đại diện chủ sở hữu vốn nhà nước từ cơ quan quản lý nhà nước sang cơ quan kinh doanh để thực hiện tốt hơn việc quản ý và kinh doanh vốn nhà nước; nâng cao năng lực quản trị Công ty, tránh xung đột lợi ích giữa doanh nghiệp và chủ sở hữu là các bộ, ngành, địa phương. Hiện SCIC đang tiến hành rà soát, phân loại các doanh nghiệp nhận chuyển giao từ các bộ, ngành, địa phương, xây dựng phương án tái cơ cấu lại vốn tại các doanh nghiệp này để thu hút vốn của một số nhà đầu tư chiến lược; thực hiện tái đầu tư tại những doanh nghiệp không cần duy trì vốn nhà nước để tập trung nguồn lực đầu tư vào các dự án quan trọng, hiệu quả hơn. Khóa luận: Thực trạng doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa.

1.2. Chuyển biến trong quản lý nội bộ doanh nghiệp

Cổ phần hóa đã đem lại quyền tự chủ nhiều hơn cho đội ngũ lãnh đạo trong điều hành và quản lý doanh nghiệp. Điều này đã tạo thêm động lực và tính năng động trong sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp được quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm, đặc biệt là trong lĩnh vực đầu tư phát triển, phân phối lợi nhuận, sắp xếp lại tổ chức sản xuất và bổ nhiệm cán bộ. Nhiều công ty cổ phần đã tiến hành rà soát lại và xây dựng mới các nội quy hoạt động như: quy chế tài chính, quy chế lao động, tuyển dụng, đề bạt cán bộ; xác định rõ ràng quyền hạn và trách nhiệm của ban lãnh đạo, của người lao động, của cổ đông; có cơ chế phân phối rõ ràng; thực hiện tinh giảm bộ máy quản lý, hợp lý hóa các bộ phận sản xuất kinh doanh, từ đó mà tăng được năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, nâng cao hiệu quả kinh doanh và sức cạnh tranh của doanh nghiệp.

2. Những vướng mắc còn tồn tại, những vấn đề nảy sinh mới và nguyên nhân

2.1. Quản lý nhà nước còn thể hiện sự lúng túng, thiếu rõ

Mặc dù cổ phần hóa đã mang lại một diện mạo mới cho các doanh nghiệp nhà nước. Tuy nhiên, quá trình thay da đổi thịt này cũng tồn tại một số điểm chưa khắc phục kịp thời, trong đó có sự lúng túng trong phương pháp quản lý của cơ quan chủ quản nhà nước.

Hiện nay, có 2 xu hướng quản lý của cơ quan nhà nước đối với doanh nghiệp sau cổ phần hóa. Thứ nhất, cơ quan nhà nước coi như “con cái đã ra ở riêng” và thả lỏng sự quan tâm, chỉ đạo. Một chiều hướng ngược lại cũng thể hiện sự lúng túng trong phương pháp quản lý doanh nghiệp sau cổ phần hóa của cơ quan nhà nước, đó là can thiệp quá sâu vào hoạt động của doanh nghiệp. Có nhiều nơi, doanh nghiệp phải trình danh sách Hội đồng quản trị lên Uỷ ban Nhân dân tỉnh và Uỷ ban tỉnh sẽ phê duyệt từng người trong danh sách này.

Đặc biệt, quản lý nguồn vốn nhà nước trong doanh nghiệp sau cổ phần hóa cũng là một vấn đề nan giải hiện nay, do tỷ lệ phần vốn nhà nước tại các công ty cổ phần hiện nay vẫn còn quá lớn (trung bình là 46% tại thời điểm tháng 06/2026).

Một ví dụ điển hình cho vấn đề này là trường hợp của Tổng công (TCT) Điện tử và tin học Việt Nam (Bộ Công nghiệp) được thành lập và hoạt động theo mô hình Tổng công ty 90 từ năm 2014. DN này hiện đang trong quá trình cổ phần hóa toàn Tổng công ty. Tuy nhiên, các DN thành viên của đơn vị này đã được cổ phần hoá xong và đang hoạt động theo mô hình công ty cổ phần. Điều đáng nói là số vốn sau khi bán cổ phiếu của các DN thành viên (lên tới hàng trăm tỉ đồng) được tập trung về dưới sự quản lý của Tổng công ty. Với số tiền lớn như vậy, doanh nghiệp này không đầu tư cho công nghệ hay mở rộng sản xuất mà đem đi đầu tư… bất động sản. Khóa luận: Thực trạng doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa.

Cũng tại Tổng công ty này, sau khi các đơn vị thành viên thực hiện cổ phần hoá thì vị trí then chốt tại các đơn vị thành viên lại thuộc về các lãnh đạo của Tổng công ty. Về vấn đề này, ông Trần Thảo, Vụ trưởng Vụ Tổ chức cán bộ (Bộ Công nghiệp) cho rằng, trong khi chưa có văn bản quy định về việc phân công người quản lý vốn của Doanh nghiệp Nhà nước sau cổ phần hoá, thì đáng lẽ các vị trí chủ chốt của các đơn vị thành viên này phải là người của doanh nghiệp đó đưa ra. Bình thường Tổng công ty đã không phát huy được vai trò điều hành sản xuất kinh doanh đối với các đơn vị thành viên. Đến khi các đơn vị này được cổ phần hoá thì vị trí lãnh đạo quan trọng lại là người của Tổng công ty khiến cho người lao động trong các đơn vị thành viên cảm thấy bất an, “không phục”.

Theo ông Trần Thảo, đây là vấn đề gây lúng túng cho các cơ quan chủ quản các doanh nghiệp. Nếu như cử người của các cơ quan Nhà nước giữ các chức vụ quan trọng để quản lý số vốn này thì vẫn còn sự can thiệp “sâu” của cơ quan quản lý Nhà nước vào hoạt động sản xuất kinh doanh của DN. Điều này trái với quy định của Luật Doanh nghiệp khi mà doanh nghiệp có quyền hoạt động độc lập theo luật định. Còn nếu cử người ở doanh nghiệp đó sau cổ phần hóa vẫn giữ vị trí quản lý số vốn này thì vấn đề đặt ra là cơ chế quản lý giám sát ra sao để đảm bảo số vốn này được đầu tư đúng mục đích.

Nhà nước quản lý các doanh nghiệp cổ phần hóa đó như thế nào hiện nay là vấn đề đang được bàn thảo tiếp. Do đó vấn đề này vẫn gây nhiều khó khăn cho doanh nghiệp và cả cơ quan nhà nước trong điều hành và quản lý doanh nghiệp.

2.2. Bộ máy quản lý nội bộ cũ kỹ, ít thay đổi so với trước cổ phần hóa

Bộ máy quản lý và phương thức quản lý trong nội bộ doanh nghiệp thực tế không có thay đổi nhiều so với giai đoạn trước cổ phần hóa. Nhiều doanh nghiệp sau cổ phần vẫn hoạt động y như trước, hoàn toàn theo mô hình tổ chức, tư duy, công nghệ quản lý và triết lý kinh doanh dập theo bài bản của doanh nghiệp nhà nước. Ngay cả con người cũng hầu như giữ nguyên. Theo cuộc điều tra 261 doanh nghiệp cổ phần hóa do Viện nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) thực hiện năm 2021 cho thấy, ban Giám đốc cũ được duy trì trong gần 90% doanh nghiệp nhà nước trong thời gian cổ phần hóa, và trong hơn 80% doanh nghiệp nhà nước sau khi cổ phần hóa. Khóa luận: Thực trạng doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa.

Hầu như chưa có doanh nghiệp nào sử dụng cơ chế thuê giám đốc điều hành. Trong khi đó, ban lãnh đạo cũ tại các doanh nghiệp hầu hết đều thuộc thế hệ cũ, đa số thiếu trình độ chuyên môn và trình độ quản lý, căn bản không bắt kịp với yêu cầu và nhịp độ thay đổi của doanh nghiệp trong quá trình đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế. Mang tư tưởng cũ, phần lớn các giám đốc đều nghĩ rằng, việc điều hành là của cá nhân mình và vì thế mà tất cả mọi công việc đều xoay quanh một trục là ông giám đốc hay một nhóm thành viên. Trong một số trường hợp, giám đốc doanh nghiệp cũng đã mời những chuyên gia giỏi về làm việc, nhưng sau một thời gian đều lần lượt bỏ đi. Họ không chịu nổi sự bất hợp tác của những người được xem là “tứ trụ triều đình”, những “công thần” – vốn đã đi theo ông giám đóc từ “thuở hàn vi”. Sức ỳ trong bộ máy quản lý từ đó cũng lớn dần.

Đặc biệt, tình trạng kiêm nhiệm trong đội ngũ lãnh đạo cấp cao tại các công ty cổ phần hiện nay rất phổ biến. Đa số tại các công ty, chủ tịch Hội đồng quản trị thường kiêm luôn Tổng giám đốc, đã gắn chặt quyền lợi của người điều hành và chủ sở hữu, tránh được rủi ro nhà quản lý vì tư lợi cá nhân mà chà đạp đi lên lợi ích của doanh nghiệp do không có lợi ích trực tiếp gắn với doanh nghiệp. Tuy nhiên, nó cũng tạo ra bộ máy chuyên quyền, tập trung quyền lực vào tay một số người, dễ dẫn đến tình trạng lộng quyền, duy ý chí, chỉ chăm lo cho lợi ích cá nhân, quên đi lợi ích tập thể. Trong thực tế, điều này đã được chứng minh thông qua việc công ty, đặc biệt là các công ty đã niêm yết, tìm mọi cách, thậm chí gian dối, lừa lọc để tạo ra những báo cáo tài chính đẹp hay tin tốt nhằm mục đích làm tăng giá cổ phiếu của công ty, trục lợi riêng cho bản thân nhà lãnh đạo (người thường nắm giữ đa số cổ phần trong tay) mà quên đi hiệu quả thực sự trong sản xuất kinh doanh và lợi ích của người lao động.

  • Thực trạng quản lý yếu kém về cả quản lý vĩ mô (quản lý nhà nước) và vi mô (quản lý trong nội bộ doanh nghiệp) xuất phát từ những nguyên nhân sau đây:

Thứ nhất, do tỷ lệ sở hữu cổ phần của nhà nước quá cao trong hầu hết các doanh nghiệp cổ phần hóa, trong khi đó thực tế là các cơ quan quản lý chưa đủ lực để hoàn thành nhiệm vụ này, dẫn đến việc đôi khi cơ quan nhà nước không bao quát được hết các mặt quản lý của doanh nghiệp. Bên cạnh đó, việc nhà nước đóng một lúc hai vai trò, vừa là chủ sở hữu doanh nghiệp, vừa là cơ quan quản lý tối cao, khiến doanh nghiệp sau cổ phần hóa cơ bản vẫn có khả năng bị một số cơ quan nhà nước thao túng, bộ máy và cơ chế quản lý so với giai đoạn trước cổ phần hóa không có khác biệt gì nhiều.

Thứ hai, nhà nước hiện nay vẫn thiếu một văn bản pháp quy hướng dẫn rõ ràng về vai trò quản lý của cơ quan nhà nước cũng như việc sắp xếp đội ngũ quản lý mới trong doanh nghiệp sau cổ phần.

Thứ ba, quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp đã bị biến dạng thành “tư nhân hóa”, đa phần cổ phần phát hành ra cho cán bộ công nhân viên đều rơi vào túi ban giám đốc, biến họ thành những người có quyền quyết định thật sự vận mạng của doanh nghiệp với số lượng cổ phần chi phối trong tay. Điều này giải thích cho tình trạng kiêm nhiệm và chuyên quyền trong nội bộ doanh nghiệp, dẫn đến tính thiếu minh bạch, chủ quan và khả năng tư lợi cá nhân cao của đội ngũ lãnh đạo do không có sự tách bạch giữa quyền sở hữu và quyền quản lý.

Thứ tư, trình độ đội ngũ lãnh đạo doanh nghiệp còn thấp: Do tính thiếu đổi mới trong cơ cấu đội ngũ lãnh đạo sau cổ phần hóa, đa phần bộ máy lãnh đạo cũ đều được giữ lại, nên trình độ của đội ngũ này đã trở thành một trở ngại lớn trong việc cải tổ mô hình quản lý doanh nghiệp sau cổ phần. Theo Bộ Tài chính, đội ngũ giám đốc doanh nghiệp nhà nước có tới 67% không biết đọc bản báo cáo tài chính hàng năm của doanh nghiệp [19]. Nhiều giám đốc trình độ chưa hết phổ thông trung học, nhất là ở các doanh nghiệp vừa và nhỏ do địa phương quản lý. Mặt khác, đa số các giám đốc này sinh ra, lớn lên và được đào tạo từ thời kỳ kinh tế kế hoạch hóa – tập trung bao cấp, nên tư tưởng bao cấp vẫn còn rơi rớt, không ít giám đốc còn tư tưởng ỷ lại, trông chờ vào sự bao cấp của Nhà nước, không năng động tìm tòi các biện pháp, bước đi dể nâng cao hiệu quả của doanh nghiệp.

III. ĐẢM BẢO LỢI ÍCH CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG Khóa luận: Thực trạng doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa.

1. Lợi ích của người lao động được đảm bảo trên nhiều mặt

1.1. Số lượng lao động tăng lên:

Theo thống kê của Viện nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương, sau cổ phần hóa, số lượng người lao động trong các công ty cổ phần có vốn nhà nước đến 31 tháng 12 hàng năm đã tăng từ gần 62 ngàn người cuối năm 2019, lên gần 218 ngàn người cuối năm 2024, sau 5 năm đã tăng thêm gần 219 ngàn lao động, tốc độ tăng trưởng chung trong 5 năm là hơn 4,5 lần và bình quần mỗi năm đã tăng 35,9%. Trong khi số lao động trong các doanh nghiệp nhà nước lại có xu hướng giảm đi, tuy không nhiều sau 5 năm; giảm 47.672 người, bình quân mỗi năm giảm 9.534 người; tương ứng với tỷ lệ giảm đi sau 5 năm là 2,3% và bình quân giảm 0.35%/năm.

Như vậy có thể thấy, cổ phần hóa đã tạo ra một lượng công ăn việc làm lớn hơn so với khu vực doanh nghiệp nhà nước, chứng tỏ hiệu quả trong việc giải quyết công ăn việc làm của mô hình này.

1.2. Chất lượng đội ngũ lao động được cải thiện:

Quá trình cổ phần hóa tạo điều kiện cho doanh nghiệp thanh lọc đội ngũ lao động, loại bỏ những lao động kém chất lượng, hay tuổi đã cao, tuyển thêm lao động mới có trình độ và sức khỏe, tạo luồng sinh khí mới từ đội ngũ sản xuất của doanh nghiệp.

1.3. Nâng cao thu nhập của người lao động Khóa luận: Thực trạng doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa.

Qua theo dõi và thống kê của một số nhà nghiên cứu, các doanh nghiệp nhà nước sau khi chuyển sang cổ phần hóa được một năm trở lên cho thấy, do năng suất lao động không ngừng được nâng cao, thu nhập bình quân của người lao động đều tăng qua các năm, từ 10 – 15% và tăng 20,8% so với trước cổ phần hóa; thu nhập bình quân đầu người đạt 1,5 triệu đồng/tháng.

1.4. Quyền được mua cổ phần trong doanh nghiệp, người lao động có cơ hội trở thành chủ sở hữu thực sự của doanh nghiệp

Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước đã tạo điều kiện cho người lao động được tham gia góp vốn mua cổ phiếu. Điều này đã được quy định rõ ràng trong nghị định 187/2023/NĐ-CP trước đây và nghị định 109/2023/NĐ-CP mới ban hành ngày 26/06/2026 để thay thế nghị định 187/2023/NĐ-CP. Theo đó, người lao động được mua tối đa 100 cổ phần cho mỗi năm thực tế làm việc tại được với giá ưu đãi bằng 60% giá đấu thành công bình quân của nhà đầu tư (theo khoản 2 điều 37 và khoản 1 điều 51 Nghị định 109/2026/NĐ-CP).

Bằng chính sách này, phần lớn người lao động làm việc trong các doanh nghiệp nhà nước chuyển sang cổ phần hóa đều mua cổ phần, tham gia góp vốn vào doanh nghiệp. Ngoài việc thực hiện tốt vai trò trách nhiệm trong quan hệ lao động theo hợp đồng, còn thực hiện vai trò của một cổ đông, người tham gia góp vốn. Do đó, đã thúc đẩy người lao động làm việc với tinh thần, thái độ và trách nhiệm ngày càng cao.

Nguyên nhân của những chuyển biến tích cực trên là:

  • Cổ phần hóa tạo cơ chế thông thoáng về quản lý, cho phép doanh nghiệp tự chủ trong việc tuyển dụng lao động mới, thu hút thêm nguồn lao động.
  • Đội ngũ lao động mới qua tuyển chọn đều là những người có trình độ, sức khỏe; đội ngũ lao động cũ được giữ lại là những người có năng lực, hơn nữa lại được doanh nghiệp tài trợ kinh phí đào tạo; hơn nữa ở nhiều doanh nghiệp sau cổ phần hiện nay chính sách thu hút nhân tài đã được chú trọng, do đó đã nâng cao chất lượng của đội ngũ lao động.
  • Năng suất lao động tăng cao, kết quả kinh doanh tốt làm tăng thu nhập người lao động, đạo động lực cho họ làm việc hăng say và cống hiến hết mình hơn cho công việc.

2. Tình trạng lao động dôi dư, bán lúa non cổ phần và tính dân chủ trong doanh nghiệp sau không được coi trọng, đảm bảo Khóa luận: Thực trạng doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa.

2.1. Tình trạng lao động dôi dư sau cổ phần hóa vẫn chưa được giải quyết triệt để

Trước cổ phần hóa, do những yếu kém, thiếu trách nhiệm trong quản lí mà bối cảnh chung là các Doanh nghiệp Nhà nước thường sử dụng nhiều lao động hơn mức cần thiết. Điều này dẫn đến khi Cổ phần hóa hầu như mọi Doanh nghiệp Nhà nước đều xuất hiện vấn đề lao động dôi dư. Ngoài ra, để đáp ứng đòi hỏi của quá trình phát triển, số cán bộ công nhân năng lực yếu kém sẽ phải nghỉ việc, trong đó, không ít người đã có quá trình làm việc lâu năm.

Xử lý số lao động dôi dư này là cả một vấn đề tế nhị. Làm sao để một mặt vẫn đáp ứng được yêu cầu phát triển của doanh nghiệp, mặt khác vẫn đảm bảo cho cán bộ công nhân phải nghỉ hưu sớm thoải mái, yên tâm. Đó là bài toán không kém phần nan giải.

Trước đây, để hỗ trợ doanh nghiệp giải quyết chính sách đối với lượng lao động dôi dư này, Chính phủ đã có quy định trợ cấp cụ thể. Thực hiện nghị định 41/NĐ-CP/2021, từ năm 2021 đến hết năm 2024, chúng ta đã giải quyết chính sách lao động dôi dư cho gần 180.000 lao động với tổng số tiền khoảng 6.000 tỷ đồng. Tính bình quân mỗi lao động dôi dư được nhận trợ cấp là 33,4 triệu đồng. Tuy nhiên, hiện nay, quy định này đã bị bãi bỏ, doanh nghiệp lại không được hỗ trợ kinh phí như trước đây để đào tạo và sắp xếp lại số lao động này khiến cho khả năng hoạt động của doanh nghiệp bị hạn chế [20].

Bên cạnh đó, việc quyết định đối tượng nào trong doanh nghiệp thuộc diện lao động dôi dư cũng là một vấn đề vướng mắc gây nhiều tranh cãi hiện nay. Cần chú ý rằng những người lao động tiếp tục được làm việc tại Công ty Cổ phần sau Cổ phần hóa phải là những người có đủ tiêu chuẩn cần thiết. Tuy nhiên, có một thực trạng hiện nay ở đa số các doanh nghiệp sau cổ phần hóa là, người ra quyết định giữ lại hay cho lao động nghỉ việc lại là giám đốc doanh nghiệp nhà nước cũ – do đa phần bộ máy quản lý cũ của doanh nghiệp nhà nước sau khi cổ phần hóa thường vẫn được giữ nguyên. Điều này dẫn tới việc, trong nhiều trường hợp, giám đốc công ty đã lạm dụng quyền hành của mình, giữ lại những lao động vốn không đủ tiêu chuẩn ở lại nhưng lại là thân tín hay người quen, họ hàng của mình. Hiện tượng này không chỉ gây bất bình đẳng, tạo sự bất bình trong những người lao động mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nguồn lao động trong doanh nghiệp, tạo tiền đề xấu, chứng tỏ tính chuyên quyền, thiếu minh bạch trong hoạt động của doanh nghiệp sau cổ phần.

Tóm lại, chính sách cho người lao động sau cổ phần hóa là vấn đề hết sức nhạy cảm và có ý nghĩa lớn trong việc nâng cao hiệu quả của hoạt động cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, mà để giải quyết triệt để cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan nhà nước và ban lãnh đạo doanh nghiệp. Khóa luận: Thực trạng doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa.

2.2. Người lao động bán lúa non cổ phần, đánh mất quyền làm chủ doanh nghiệp

Theo nghị định 187/2023/NĐ-CP và nghị định 109/2026/NĐ-CP mới ban hành, người lao động có quyền mua cổ phần của doanh nghiệp tính theo thâm niên với giá ưu đãi. Tuy nhiên, trên thực tế, dù 100% người lao động đăng ký mua hết tiêu chuẩn cổ phần theo giá ưu đãi, nhưng lại chẳng có mấy người thực sự làm chủ nguồn vốn của mình.

Lý do đơn giản là: Người lao động không đủ tiền mua cổ phần nên “nhường” tiêu chuẩn của mình cho người khác, đổi lại, họ sẽ được hưởng một phần lợi nhuận từ 40% giá trị cổ phần được giảm so với quy định (theo khoản 1, Điều 37, NĐ187/2023/NĐ-CP). Hiện nay, theo mức ưu đãi này đã tăng lên thành 60% theo nghị định 109/2026/NĐ-CP ra ngày 26/06/2026 nhưng cơ bản vẫn không giải quyết được vấn đề này. Tình trạng “bán lúa non” này đã từng được đánh động và xem đó là mảng tối của cổ phần hóa. Nhưng nay thì chuyện “bán lúa non” xem ra đã cũ trước một thực tế khác: Người lao động đang bán cả “lúa giống” – là những quyền lợi thiết thực nhất của mình như cổ tức, quyền làm chủ, tiếng nói trong Đại hội Cổ đông…

2.3. Tính dân chủ trong các doanh nghiệp bị hạn chế, người lao động không có tiếng nói

Do tỷ lệ nắm giữ cổ phần của người lao động còn thấp do hiện tượng bán lúa non cổ phần xảy ra tương đối phổ biến, nên bản thân người lao động hầu như không có tiếng nói gì trong doanh nghiệp. Địa vị của họ trong doanh nghiệp không khác là mấy so với giai đoạn trước cổ phần – vẫn chỉ là những người làm công ăn lương, không có quyền tham gia vào quyết định vận mệnh doanh nghiệp.

Ngoài ra, các tổ chức đoàn thể như Đảng, đoàn thanh niên, công đoàn cũng không phát huy được vai trò của mình trong doanh nghiệp, chưa thực sự trở thành những tổ chức bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Đặc biệt, tại các công ty cổ phần mà nhà nước không nắm cổ phần chi phối thì công tác đoàn thể ở nhiều nơi đã trở thành hình thức. Có giám đốc cho rằng, vì doanh nghiệp nhà nước nhỏ, yếu, vốn nhỏ, sản xuất kinh doanh kém hiệu quả nên mới “được” cổ phần hóa, vì vậy, nhiệm vụ hàng đầu là tập trung cho sản xuất kinh doanh để đảm bảo chia lợi tức hàng năm và duy trì sự phát triển. Mọi hoạt động của công tác đoàn thể nói chung vẫn chỉ là hình thức. Khóa luận: Thực trạng doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa.

Nguyên nhân của thực trạng trên:

  • Doanh nghiệp sắp xếp lại bộ máy tổ chức, làm gọn nhẹ ở tất cả các khâu, dẫn đến dư thừa ra một số lượng lao động nhất định.
  • Trình độ của người lao động trước cổ phần hóa cơ bản còn thấp, không đáp ứng được yêu cầu của quá trình sản xuất mới. Do đó, trong quá trình sắp xếp lại doanh nghiệp, để tạo động lực phát triển, thì việc buộc phải để số lượng lao động này nghỉ việc là điều không tránh khỏi.
  • Nhà nước hiện nay vẫn chưa có một quyết định chính thức nào về việc giải quyết lượng lao động dôi dư, hơn nữa, những trợ cấp của nhà nước đối với doanh nghiệp để giải quyết vấn đề lao động dôi dư đã bị xóa bỏ cho nên vấn đề này càng trở nên khó khăn hơn đối với doanh nghiệp.
  • Đa phần lao động lâu năm tại doanh nghiệp, những người có quyền mua số lượng lớn cổ phần ưu đãi lại là công nhân nghèo, không đủ khả năng tài chính. Do đó, việc họ nhường lại quyền mua cổ phần ưu đãi – quyền lợi cơ bản của mình để đổi lấy một món tiền (giá trị tương đối lớn so với thu nhập bình quân của họ) là điều hoàn toàn có thể hiểu được.

Bên cạnh đó, chính sách của nhà nước về việc mua cổ phần ưu đãi của người lao động thực ra là một bước thụt lùi so với trước đây. Trước khi nghị định 187/2023/NĐ-CP ra đời, theo quy định cũ, người lao động được mua cổ phần ưu đãi giảm 30% so với mệnh giá ban đầu, người lao động nghèo được mua chịu cổ phần theo giá ưu đãi, được hoàn trả trong 3 năm đầu và trả dần trong 7 năm tiếp theo mà không hề bị tính lãi. Theo nghị định 187/2023/NĐ-CP thì người lao động sẽ được mua cổ phần với giá ưu đãi giảm 40% so giá bình quân cổ phần được bán đầu giá, chứ không phải mệnh giá ban đầu. Điều này có nghía là, nếu giá cổ phần được bán đấu giá càng bị đẩy lên cao, thì khả năng mua được cổ phần của người lao động càng hạ xuống thấp. Nghị đinh 109/2026/NĐ-CP vẫn giữ nguyên phương pháp tính giá ưu đãi này, chỉ nâng mức ưu đãi giảm giá lên 60%. Do vậy, về cơ bản, người lao động có thu nhập thấp vẫn không có khả năng mua được cổ phần, vì thế, họ đã ngầm chuyển nhượng sự ưu đãi này cho người khác.

IV. TÍNH CÔNG KHAI MINH BẠCH THEO NGUYÊN TẮC THỊ TRƯỜNG Khóa luận: Thực trạng doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa.

1. Tính công khai minh bạch trong công bố thông tin theo nguyên tắc thị trường

Giai đoạn trước cổ phần hóa, vấn đề công khai hóa thông tin, đặc biệt là thông tin về hoạt động tài chính của công ty, hoàn toàn không được đề cập tới. Hầu hết các thành viên trong doanh nghiệp đều rất khó tiếp cận với những thông tin này do đã quen với hiện tượng: số liệu kế toán tài chính là thông tin bất khả lộ, chỉ có Phòng Tài chính – kế toán và Ban giám đốc mới được quyền biết, nếu có thành viên nào muốn tiếp cận với số liệu trên phải được sự cho phép của ban giám đốc. Các thông tin, đặc biệt là thông tin kế toán – tài chính được giữ bí mật là một hiện tượng phổ biến trong các doanh nghiệp nhà nước trước cổ phần hóa.

Sau cổ phần hóa, tình hình này đã được cải thiện phần nào, đặc biệt đối với các doanh nghiệp cổ phần đã tiến hành niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh hay Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội, thì việc công bố thông tin này là bắt buộc. Tuy nhiên các thông tin này lại thường thiếu sự minh bạch, không ai kiểm chứng (ngoại trừ thông tin về tài chính – kế toán cuối năm có chứng nhận của công ty kiểm toán) và đôi khi được đưa ra hoàn toàn để phục vụ muốn chủ quan của nhà lãnh đạo doanh nghiệp, thiếu tính khách quan, trung thực cần có trong công bố thông tin.

Còn đối với các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa còn lại thì hiện tượng bưng bít thông tin giống như giai đoạn trước cổ phần hóa vẫn còn rất phổ biến.

Có rất nhiều nguyên nhân khiến doanh nghiệp sau cổ phần tránh né, không muốn công bố thông tin minh bạch, trong đó, nổi bật lên ba nguyên nhân sau:

Thứ nhất, hiện tượng bưng bít thông tin xuất phát từ ý thức giấu lợi nhuận của doanh nghiệp. Theo các cơ quan quản lý nhà nước và Ban quản lý các công ty thì việc công khai hóa thông tin, mà ở đây là thông tin tài chính, sẽ cho khách hàng biết được lợi nhuận của doanh nghiệp, họ sẽ ép giá bán hàng và như vậy sẽ gây ảnh hưởng đến việc làm ăn kinh doanh của doanh nghiệp. Một vấn đề đặt ra là nếu công ty không thực hiện việc công khai hóa thông tin minh bạch thì quyền lợi của cổ đông (nhà đầu tư) làm sao được đảm bảo, đặc biệt là trong trường hợp của công ty cổ phần khi mà tồn tại sự tách rời giữa quyền sở hữu và quyền quản lý doanh nghiệp. Khóa luận: Thực trạng doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa.

Thứ hai, Nhà nước hiện nay vẫn thiếu một cơ chế kiểm định các thông tin do doanh nghiệp cung cấp ra ngoài và chế tài xử phạt rõ ràng, nghiêm minh đối với các doanh nghiệp không cung cấp, chậm cung cấp không có giải trình hay cung cấp sai thông tin so với thực tế. Điều này đã dẫn tới hiện tượng nhiều doanh nghiệp cung cấp thông tin sai lệch, thậm chí còn sửa chữa thông tin trong bản báo cáo tài chính, bóp méo sự thật về tình hình kinh doanh của công ty.

Thứ ba, lãnh đạo trong các doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hiện nay hầu hết đều nắm trong tay một lượng cổ phần lớn, do đó, đối với các thông tin được công bố ra bên ngoài, nhiều khi trái với sự thật vẫn được họ cho công bố ra ngoài nhằm phục vụ mục đích cá nhân. Đây là một hiện tượng phổ biến ở Việt Nam khi nhà nước chưa ban hành các cơ chế kiểm định tính chính xác thông tin và chế tài xử phạt tương ứng. Vì lợi ích của cá nhân mình, Ban lãnh đạo doanh nghiệp đôi khi không ngần ngại “làm” ra những tin tốt về doanh nghiệp, nhằm đẩy giá cổ phần của công ty trên thị trường tăng lên, thu lợi lớn cho bản thân mình mà không quan tâm đến lợi ích của doanh nghiệp ra sao khi sự thật này bị vạch trần.

2. Hiện tượng mập mờ tư nhân hóa – cổ phần hóa và sự phân hóa giàu nghèo trong chính nội bộ doanh nghiệp

Trong quá trình thực hiện cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, do một bộ phận người lao động chưa nhận thức hết được quyền lợi của cổ đông nên đã sớm bán cổ phần của mình. Làm như vậy, không những người lao động đánh mất quyền lợi và lợi ích lâu dài của mình mà còn tạo điều kiện cho một số cá nhân mua gom cổ phần với mục đích thâu tóm công ty, biến công ty cổ phần thành công ty tư nhân. Để hạn chế tình trạng này, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3, khóa IX, Về đổi mới, sắp xếp, nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước, khẳng định: “Cần phải có quy định để người lao động giữ được cổ phần ưu đãi”. Thể chế hóa vấn đề này, Nghị định 64/CP quy định “Người lao động mua cổ phần ưu đãi không được chuyển nhượng trong 3 năm đầu kể từ khi mua. Trường hợp đặc biệt khi cần chuyển nhượng trước thời hạn phải được hội đồng quản trị công ty cổ phần chấp nhận”. Nhờ đó, nhiều công ty cổ phần ổn định, giảm hẳn hiện tượng ngấm ngầm tranh giành, thâu tóm công ty. Người lao động giữ được cổ phần nên đã phát huy tốt quyền làm chủ của mình để tham gia quản lý công ty, yên tâm làm việc, gắn bó quyền lợi, nghĩa vụ và trách nhiệm của mình với công ty. Người lao động và các công ty cổ phần đều mong muốn nghị định này được duy trì. Nhưng, Nghị định 187/2023/CP đã bỏ quy định này, tạo kẽ hở cho việc thâu tóm cổ phiếu. Trong cùng một công ty, có người lao động (chủ yếu là cán bộ quản lý, điều hành công ty) sở hữu số cổ phần giá trị hàng trăm triệu đồng, nhưng có tới 26% số người lao động không có cổ phần, 41% số người lao động chỉ sở hữu số cổ phần có giá trị dưới 10 triệu đồng [9]. Điều đó dẫn đến sự chênh lệch rất lớn về thu nhập từ cổ tức, khiến sự phân hóa giàu – nghèo ngày càng tăng, có nguy cơ biến cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước thành tư nhân hóa, trái với mục tiêu cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước mà Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3, khóa IX, đã xác định. Khóa luận: Thực trạng doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa.

Nguyên nhân chủ yếu của vấn đề này là do thu nhập người lao động còn thấp không đủ tiền mua cổ phần, hơn nữa do sự kém hiểu biết về lợi ích của việc nắm giữ cổ phiếu, trở thành cổ đông trong công ty, dẫn đến tình trạng “bán lúa non” tạo điều kiện cho ban lãnh đạo doanh nghiệp vơ vét cổ phần, biến “cổ phần hóa” thành “tư nhân hóa”.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Giải pháp doanh nghiệp nhà nước sau cổ phần hóa

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x