Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng DongABank hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Thương mại cổ phần Đông Á chi nhánh Bắc Giang dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Khái quát hoạt động của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á chi nhánh Bắc Giang
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng Thuơng mại cổ phần Đông Á chi nhánh Bắc Giang.
Giới thiệu chung về Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á chi nhánh Bắc Giang
- Tên: Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á chi nhánh Bắc
- Địa chỉ: Số 569, đường Lê Lợi, phường Hoàng Văn Thụ – Thành phố Bắc
- Hình thức sở hữu: Ngân hàng thương mại cổ phần.
- Lĩnh vực hoạt động kinh doanh: kinh doanh tài chính, tín dụng.
Một số dữ liệu cơ bản về nguồn vốn (tính đến 31/12/2025)
- Tổng nguồn vốn: 487 tỷ VNĐ
- Tổng dư nợ: 413,5 tỷ VNĐ
Lịch sử hình thành và phát triển
- Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á chi nhánh Bắc Giang tiền thân là Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á – Phòng giao dịch Bắc Giang được thành lập vào ngày 24/12/2019
- Ngày 04/08/2021, Phòng giao dịch được nâng cấp thành chi nhánh Bắc Giang, có trụ sở đặt tại 195-197 Lê Lợi, phường Hoàng Văn Thụ – Thành phố Bắc Giang.
- Ngày 12/12/2024, Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á chi nhánh Bắc Giang chuyển sang trụ sở mới tại 569, đường Lê Lợi, phường Hoàng Văn Thụ – Thành phố Bắc Giang và là Ngân hàng Thương mại cổ phần đầu tiên có trụ sở riêng tại tỉnh Bắc Giang.
Các phòng giao dịch trực thuộc gồm:
- Phòng giao dịch Tân Yên: thành lập ngày 07/05/2022, trụ sở tại thị trấn Cao Thượng, huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
- Phòng giao dịch Lạng Giang: thành lập ngày 07/05/2022, trụ sở tại thị trấn Vôi, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Phòng giao dịch Hiệp Hoà: thành lập ngày 15/06/2022, trụ sở tại số 49, Hoàng Văn Thái, thị trấn Thắng, huyện Hiệp Hoà, tỉnh Bắc Giang
2.1.2. Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á chi nhánh Bắc Giang Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng DongABank.
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á chi nhánh Bắc Giang
- Ban giám đốc
Giám đốc là người đảm bảo chiến lược kinh doanh và các hoạt động của chi nhánh thống nhất với chiến lược và các kế hoạch kinh doanh chung của toàn hệ thống Ngân hàng; đảm bảo việc tuân thủ các chính sách, quy trình và hướng dẫn do Hội sở xây dựng.
Phó giám đốc có nhiệm vụ hỗ trợ cho Giám đốc trong quản lý điều hành các hoạt động của công ty theo sự phân công của Giám đốc; chủ động và tích cực triển khai, thực hiện nhiệm vụ được phân công và chịu trách nhiệm trước Giám đốc về hiệu quả các hoạt động.
Phòng kế toán – ngân quỹ: chịu trách nhiệm kiểm tra, kiểm soát, giám sát công tác thu chi tiền mặt, vàng, ngoại tệ, chứng từ có giá; công tác kiểm đếm, đóng bó tiền mặt tồn quỹ đúng quy định và kịp thời phục vụ cho nhu cầu hoạt động của đơn vị. Đồng thời phòng chịu trách nhiệm tổ chức công tác quản lý thanh khoản, an toàn kho quỹ của đơn vị theo đúng chế độ và định mức kế hoạch. Tổ chức lưu trữ kho chứng từ kế toán, lưu trữ hồ sơ tài sản đảm bảo, giấy tờ có giá .
Phòng tín dụng: là đầu mối tham mưu đề xuất với giám đốc xây dựng đề án phát triển tín dụng, tham mưu cho ban giám đốc chỉ đạo và tổ chức triển khai các mục tiêu tín dụng của toàn Chi nhánh. Cán bộ tín dụng phân tích kinh tế theo ngành nghề kinh doanh, lựa chọn đối tượng, hình thức và biện pháp cho vay an toàn đạt hiệu quả cao; thẩm định và đề xuất cho vay các dự án tín dụng theo phân cấp ủy quyền, xem xét tái thẩm định và đề xuất cho vay các dự án vượt quyền phán quyết của phòng giao dịch.
Phòng hành chính nhân sự: Phòng hành chính nhân sự thực hiện chức năng chính là tham mưu cho Ban Giám đốc về chiến lược, kế hoạch phát triển nguồn nhân lực, tiền lương, thi đua khen thưởng, kỷ luật, bổ nhiệm, quản lý nhân sự và công tác hành chính.Nhân viên trực tiếp thực hiện các công tác xây dựng cơ bản, mua sắm, sửa chữa, quản lý tài sản cố định, công cụ lao động, tiếp khách đến làm việc, chăm lo đời sống vật chất, văn hóa tinh thần Chi nhánh.
Các phòng giao dịch: Các phòng giao dịch khai thác và nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác trong nước và ngoài nước bằng VNĐ và ngoại tệ theo quy định của hội sở, các hình thức huy động vốn khác theo quy định của Chi nhánh.
2.1.3. Khái quát về ngành nghề kinh doanh của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á chi nhánh Bắc Giang Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng DongABank.
Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á chi nhánh Bắc Giang hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực Tài chính – Ngân hàng. Hoạt động chính của Chi nhánh là huy động vốn, sử dụng vốn chủ yếu qua hoạt động cho vay; lấy chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất huy động là nguồn thu chủ yếu.
Chi nhánh hoạt động theo đúng luật tổ chức tín dụng của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với các dịch vụ chủ yếu: Mở tài khoản tiền gửi thanh toán cho các tổ chức và cá nhân, chuyển tiền điện tử, thanh toán chuyển tiền nhanh Western Union (chi trả kiều hối), chuyển tiền tự động… Có thể nói, với những hoạt động và sản phẩm dịch vụ rất đa dạng, Ngân hàng đã đáp ứng khá đầy đủ nhu cầu của các cá nhân, tổ chức kinh tế trong việc sử dụng các dịch vụ ngân hàng.
2.1.4. Tình hình hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á chi nhánh Bắc Giang
- Hoạt động huy động vốn
Trong giai đoạn 2023-2025, nền kinh tế Việt Nam đang có dấu hiệu khởi sắc sau khủng hoảng. Do vậy nguồn vốn của chi nhánh cũng tăng trưởng với quy mô khá lớn.
- Bảng 2.1. Tình hình huy động vốn giai đoạn 2023-2025
- Biểu đồ 2.1. Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động giai đoạn 2023-2025
Nguồn vốn là nguồn lực quan trọng để các ngân hàng tiến hành hoạt động kinh doanh. Nhận thức sâu sắc được vai trò của vốn nên Chi nhánh đã tích cực, chủ động khai thác nguồn vốn nhàn rỗi trên địa bàn. Trong những năm qua Chi nhánh đã đạt được những kết quả đáng kể trên thị trường vốn trước sự cạnh tranh của các ngân hàng và tổ chức tài chính khác. Qua Bảng 2.1, ta thấy tổng nguồn vốn huy động của Chi nhánh có sự tăng trưởng lớn về quy mô trong giai đoạn 2023-2025. Năm 2023, tổng nguồn vốn huy động của Chi nhánh đạt 381,05 tỷ đồng. Đến năm 2024 vốn huy động của Chi nhánh tăng nhẹ lên 398,70 tỷ đồng, tốc độ tăng 4,63%. Sang năm 2025, nguồn vốn huy động đã tăng với tốc độ 13,62% so với năm 2024, đạt mức 453 tỷ đồng. Để đạt được kết quả trên trong tình hình cạnh tranh ngày càng tăng giữa các ngân hàng cùng địa bàn, Chi nhánh đã chủ trương hết sức chú trọng công tác huy động nguồn vốn. Nếu không có đủ nguồn vồn thì không có vốn để đầu tư cho vay, không giữ được các khách hàng truyền thống, mất thị phần tín dụng. Đặc biệt trong lúc tình hình thị trường vốn đang dồi dào thì đây chính là cơ hội để thu hút thêm khách hàng mới giữ vững và mở rộng thị phần. Từ đó tích cực tuyên truyền vận động trên các phương tiện thông tin đại chúng về các sản phẩm, lãi suất huy động và uy tín của Chi nhánh. Tốc độ tăng trưởng của nguồn vốn được thể hiện rõ ràng qua Biểu đồ 2.1. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng DongABank.
- Hoạt động sử dụng vốn
Cũng như các Ngân hàng thương mại và các Tổ chức tín dụng khác, hoạt động của Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á chi nhánh Bắc Giang chủ yếu là hoạt động cấp tín dụng, trong đó hoạt động cho vay chiếm tỷ trọng lớn nhất và mang lại nguồn thu chủ yếu cho ngân hàng. Địa bàn Bắc Giang tập trung khá nhiều doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh, du lịch…đã tạo thuận lợi cho Chi nhánh trong việc cấp tín dụng.
- Bảng 2.2. Tình hình cho vay giai đoạn 2023-2025
Từ bảng số liệu trên ta thấy được mức tăng trưởng tín dụng của Chi nhánh có chiều hướng tăng tương đối mạnh trong giai đoạn năm 2023-2025. Trong bối cảnh nền kinh tế đang có dấu hiệu hồi phục, các doanh nghiệp đang cần một số vốn lớn để tái sản xuất, đầu tư; Chi nhánh đã nỗ lực hết mức để đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Cụ thể là năm 2024, tổng mức dư nợ đạt 370,50 tỷ đồng tăng 41,55 tỷ đồng so với năm 2023, tốc độ tăng là 12,60%. Năm 2025, tổng dư nợ tiếp tục tăng với tốc độ 11,61% đạt 413,50 tỷ đồng. Mức tăng có xu hướng giảm nhẹ so với năm 2024 (giảm 1,02%), điều này có thể lý giải là tuy tình hình kinh tế đang có dấu hiệu hồi phục sau khủng hoảng song vẫn còn dư âm của cuộc khủng hoảng. Năm 2024, dư nợ tín dụng cao song chất lượng tín dụng thấp. Bởi vậy trong năm 2025, Ngân hàng có cân nhắc thắt chặt tín dụng một chút, song không đáng kể. Hơn nữa, nguồn vốn trung và dài hạn rất mạnh nên vẫn duy trì mức cho vay hợp lý để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp vay vốn tiếp tục sản xuất kinh doanh. Để có cái nhìn rõ nét hơn về tình hình sử dụng vốn của Chi nhánh, ta đi sâu vào phân tích dư nợ tín dụng theo phương thức phân loại. Cụ thể như sau.
- Phân theo loại tiền Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng DongABank.
Tổng dư nợ nội tệ năm 2024 tăng 40,2 tỷ đồng tương đương với 12,36% và đạt 365,25 tỷ đồng. Năm 2025 tiếp tục tăng lên tới 407,9 tỷ đồng, tốc độ tăng 11,68% tương đương 42,65 tỷ đồng. Tốc độ tăng của năm 2025 có phần giảm nhẹ so với năm 2024 tuy nhiên vẫn đảm bảo được mục tiêu đề ra. Điều này cho thấy ngân hàng mặc dù trong 3 năm liên tiếp phải đối mặt với nhiều biến động nhưng vẫn hoạt động có hiệu quả.
Dư nợ ngoại tệ năm 2024 đạt 5,25 tỷ, tăng khá mạnh so với năm 2023 là 34,62% tương đương 1,3 tỷ đồng. Tuy nhiên sang năm 2025 mức tăng trưởng này lại giảm xuống đáng kể, tổng dư nợ cho vay ngoại tệ năm 2025 đạt 5,60 tỷ đồng, tức là chỉ tăng 0,35 tỷ tương đương với 6,67% so với năm 2024. Nguyên nhân là do tỷ giá ngoại hối biến động nhiều, ảnh hưởng đến tâm lý e ngại cho người đi vay vốn ngoại tệ.
- Phân theo kỳ hạn
Năm 2024, dư nợ cho vay ngắn hạn đạt 280,40 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 73,75% tổng dư nợ, tăng 37,8 tỷ đồng tương đương 15,58% so với năm 2023. Năm 2025 tiếp tục tăng thêm 38,20 tỷ đồng tương ứng 13,68% so với năm 2024. Trong khi đó dư nợ trung hạn tăng không đáng kể so với ngắn hạn. Cụ thể năm 2024, cho vay trung hạn đạt 88,70 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 25,4% tổng dư nợ cho vay, tăng 5,14 tỷ đồng tương đương 6,15% so với năm 2023. Sang năm 2025, mức dư nợ trung hạn tăng thêm 1,40 tỷ đồng tương đương 1,58%. Dư nợ dài hạn cũng biến động mạnh qua các năm. Năm 2024 giảm 1,39 tỷ đồng tương đương giảm 49,82% so với năm 2023. Nhưng đến năm 2025 dư nợ dài hạn tăng một cách đột biến lên 4,80 tỷ đồng, tốc độ tăng 242,86% tương đương 3,40 tỷ đồng. Mặc dù có sự tăng trưởng về quy mô, nhưng Chi nhánh vẫn cần phải xem xét lại cơ cấu cho vay để đảm bảo kinh doanh có lãi.
- Phân theo thành phần kinh tế Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng DongABank.
Đối tượng chiếm tỷ trọng lớn nhất về nhu cầu vốn của Chi nhánh là các cá nhân và hộ gia đình. Nguyên nhân là do Chi nhánh luôn chú trọng đến sự phát triển và nâng cao đời sống của người dân. Ngân hàng luôn ưu tiên hàng đầu tới các nhu cầu vay vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh của các cá nhân và hộ gia đình. Tổng mức cho vay dân cư năm 2023 đạt 216,65 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng lên tới 65,86% trong tổng mức dư nợ. sang đến năm 2024, mức cho vay dân cư đạt 222,85 tỷ đồng, tăng 6,20 tỷ đồng tương đương 2,24%. Năm 2025, tăng thêm 11,20 tỷ đồng tương đương 5,03%, đạt mức 234,05 tỷ đồng (chiếm 56,6%). Đây là mức tăng trưởng khá đều qua các năm.
Thành phần kinh tế có nhu cầu vốn không thể không nhắc tới là các doanh nghiệp, Tổ chức kinh tế, xã hội. Năm 2024 dư nợ cho vay đối với nhóm khách hàng này là 129,65 tỷ đồng, tăng 18,75 tỷ đồng tương đương 16,91% so với năm 2023. Tuy nhiên đến năm 2025 tỷ lệ tăng trường giảm xuống còn 10,14% tương đương 18,65 tỷ đồng. Có thể lý giải cho sự giảm sút trong tỷ lệ tăng trưởng của dư nợ tín dụng theo nhóm khách hàng này là do tâm lý e ngại của các doanh nghiệp khi vay vốn, bởi việc hạ lãi suất cho vay trong giai đoạn 2023-2025 là chưa đủ, mà nâng cao sức mua của thị trường trong nước mới là vấn đề then chốt để doanh nghiệp mở rộng thị trường và vay vốn ngân hàng.
Còn lại là các khoản cho vay khác mà trong đó đa số các Tổ chức tín dụng khác vay. Mặc dù chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng dư nợ (chiếm 0,43% năm 2023, 4,85% năm 2024 và 8,87% trong năm 2025) nhưng bằng việc cho các Tổ chức tín dụng khác vay vốn đã đem lại nguồn thu từ việc hưởng lãi suất cao và đồng thời sử dụng tối đa khoản vốn tạm thời nhàn rỗi tại Chi nhánh. Năm 2023, tổng dư nợ của nhóm này là 1,40 tỷ đồng, đến năm 2024 đã tăng đột biến đạt 18 tỷ đồng, tăng 16,60 tỷ đồng tương đương 1185,71% so với năm 2023. Năm 2025 tăng lên đạt 36,65 tỷ đồng, mức tăng 18,65 tỷ đồng tương đương 103,61%.
Tóm lại, tình hình hoạt động cho vay trong giai đoạn 2023-2025 luôn có mức tăng trưởng tốt, tuy nhiên về cơ cấu cũng như sự cân đối với hoạt động huy động vốn còn chưa hợp lý. Ngân hàng cần phải có những biện pháp cụ thể để đảm bảo tính cân đối về nhu cầu huy động và cho vay nhằm tăng hiệu quả hoạt động của Chi nhánh, tối đa hóa lợi nhuận.
- Kết quả hoạt động kinh doanh
Bảng 2.3. Kết quả họat động kinh doanh giai đoạn 2023-2025
- Thu nhập từ lãi thuần: Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng DongABank.
Nhìn vào bảng 2.3 ta thấy, thu nhập từ lãi thuần của Ngân hàng từ năm 2023 đến 2024 giảm ở mức 1,85 tỷ đồng, tương đương 14,49%. Thu lãi và chi phí lãi năm 2024 đều giảm so với năm 2023. Song, do thu lãi giảm mạnh hơn chi phí lãi nên thu nhập từ lãi thuần giảm. Cụ thể như sau:
Thu lãi và các khoản thu nhập tương tự năm 2024 là 53,50 tỷ đồng, giảm 18,75 tỷ đồng so với năm 2023, tốc độ giảm là 25,95%. Có 3 nguyên nhân chính khiến thu lãi và các khoản thu nhập tương tự của Chi nhánh giảm:
- Về cơ cấu thu nhập thì phần tạo lợi nhuận chính cho Chi nhánh là từ hoạt động cho vay. Việc tín dụng tăng thấp do khủng hoảng kinh tế là một nguyên nhân quan trọng khiến cho lợi nhuận Ngân hàng sụt giảm.
- Trong năm 2024, sự giảm chung của mặt bằng lãi suất cho vay cũng là nhân tố tác động đến lợi nhuận của Chi nhánh.
- Bên cạnh đó, nợ xấu tăng cao, Chi nhánh thắt chặt tín dụng vào những tháng cuối năm, hạn chế cho vay khách hàng mới cũng là một nguyên nhân khiến cho thu nhập của Chi nhánh giảm.
Cùng với sự sụt giảm thu lãi và các khoản thu nhập tương tự thì chi phí lãi và các khoản chi phí tương tự của Chi nhánh cũng có chiều hướng giảm xuống qua 2 năm 2023 – 2024. Chi phí lãi cũng là một trong những chỉ tiêu phản ánh quy mô cũng như hiệu quả hoạt động kinh doanh của Chi nhánh. Chi phí lãi năm 2024 là 39,25 tỷ đồng, giảm 16,87 tỷ đồng so với năm 2023, tốc độ giảm là 30,06%. Nguyên nhân chính khiến chi phí lãi của Chi nhánh giảm do sự giảm chung của mặt bằng lãi suất huy động vốn.
Từ năm 2024-2025, thu nhập từ lãi thuần của Chi nhánh giảm 0,15 tỷ đồng tương đương 1,05% xuống còn 14,10 tỷ đồng. Trái với năm 2024, thu lãi và chi lãi năm 2025 đều tăng song tốc độ tăng của chi phí lãi là 39,11% cao hơn tốc độ tăng của thu lãi là 28,41%.
- Lãi/lỗ từ hoạt động dịch vụ Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng DongABank.
Trong những năm gần đây, công tác phát triển dịch vụ được Chi nhánh quan tâm chú trọng hơn, mỗi nhân viên cán bộ đều nhận thấy trách nhiệm của mình trong công tác phát triển dịch vụ. Lãi thuần từ dịch vụ hoạt động năm 2024 là 6,50 tỷ đồng, tăng 1,46 tỷ đồng so với năm 2023, tương đương với tăng 29,97%. Mức tăng này do chi phí từ hoạt động dịch vụ giảm 16,67% tương đương 0,01 tỷ đồng so với năm 2023, trong khi thu từ dịch vụ tăng với tốc độ cao là 28,43% tương đương 1,45 tỷ đồng. Sang năm 2025, lãi từ hoạt động dịch vụ đạt 8,20 tỷ đồng, tăng 1,70 tỷ đồng tương đương tăng 26,15% so với năm 2024. Tương tự như năm 2024, thu từ dịch vụ tăng mạnh, cụ thể tăng 1,75 tỷ đồng tương đương 26,72%. Tuy chi từ dịch vụ cũng tăng 0,05 tỷ song tỷ trọng chi từ dịch vụ so với thu từ dịch vụ là rất nhỏ nên lãi từ hoạt động dịch vụ tăng trong năm 2025.
- Lãi/lỗ từ hoạt động kinh doanh ngoại hối
Nhìn chung, lãi của Chi nhánh từ hoạt động kinh doanh ngoại hối khá nhỏ. Nhìn vào bảng báo cáo kết quả kinh doanh ta có thể thấy lãi từ hoạt động này của năm 2024 tăng rất đáng kể so với năm 2023. Trong khi năm 2023 chi nhánh lỗ từ hoạt động này là 0,40 tỷ đồng, thì năm 2024 lãi là 0,38 tỷ đồng, tốc độ tăng là 195,00%. Đến năm 2025 thu nhập từ hoạt động kinh doanh ngoại hối tiếp tục tăng 0,27 tỷ đồng, tương đương 70,05% đạt mức 0,65 tỷ đồng. Điều này cho thấy hoạt động kinh doanh ngoại hối của Chi nhánh qua các năm ngày càng hiệu quả, thể hiện tầm nhìn bao quát của nhà lãnh đạo trong hoạt động kinh doanh ngoại hối.
- Lãi/lỗ từ hoạt động kinh doanh chứng khoán
Trong khi hoạt động kinh doanh ngoại hối gặp rất nhiều thuận lợi, thì hoạt động mua bán chứng khoán lại gặp khó khăn. Năm 2023 hoạt động kinh doanh chứng khoán lỗ 0,24 tỷ đồng do sự chủ quan không lường trước được những rủi ro trong lĩnh vực này. Chi nhánh đã rút ra nhiều kinh nghiệm và thận trọng hơn trong năm 2024 làm tăng thu nhập từ hoạt động này lên 0,13 tỷ đồng, tăng đột biến 0,37 tỷ tương đương 154,17%. Trong năm 2025, thị trường chứng khoán ảm đạm và có chiều hướng đi xuống làm cho thu nhập của Chi nhánh từ hoạt động này lại giảm mạnh và lỗ 0,06 tỷ đồng, tức giảm 0,19 tỷ đồng tương 146,15%. Điều này càng chứng tỏ rằng kinh doanh trên TTCK luôn chứa đựng nhiều rủi ro, Chi nhánh cần lưu ý hơn trong hoạt động này. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng DongABank.
- Lãi/lỗ từ hoạt động khác:
Từ các số liệu trong báo cáo có thể thấy các hoạt động kinh doanh khác của Chi nhánh trong thời gian gần đây không hiệu quả và có xu hướng giảm.
- Chi phí hoạt động
Chi phí hoạt động của Chi nhánh tăng đều qua các năm do chi nhánh luôn chú trọng đến khách hàng vì vậy chi phí cho hoạt động này khá lớn.
Mức tăng của chi phí có phần lớn hơn mức tăng của thu nhập cho thấy hoạt động quản lý của Chi nhánh chưa thực sự hiệu quả. Điều này cũng sẽ ảnh hưởng tới lợi nhuận của Chi nhánh.
- Lợi nhuận
Lợi nhuận qua các năm vẫn giữ mức tăng trưởng nhưng không lớn. Cụ thể lợi nhuận sau thuế năm 2024 đạt 11,27 tỷ đồng, tăng 0,21 tỷ đồng so với năm 2023 (tương đương 1,9%). Năm 2025 tiếp tục tăng 5,24% tương đương 0,59 tỷ đồng, đạt mức 11,86 tỷ đồng. Nguyên nhân là do ngân hàng chú trọng phát triển hoạt động dịch vụ. Lãi thu từ hoạt động dịch vụ tăng qua các năm góp phần tăng lợi nhuận, song mức tăng vẫn rất thấp. Hiệu quả kinh doanh của các hoạt động chưa cao, đồng thời chi phí phải bỏ ra lại khá lớn và có chiều hướng tăng. Để có thể tối đa hóa lợi nhuân, đòi hỏi Chi nhánh phải có những biện pháp điều chỉnh hợp lý.
Tóm lại, hoạt động kinh doanh của ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á chi nhánh Bắc Giang trong giai đoạn 2023-2025 mang lại lợi nhuận cao với mức tăng trưởng đều qua các năm. Tuy nhiên, Chi nhánh cần tăng cường hiệu quả kinh doanh trong các lĩnh vực mua bán chứng khoán, các hoạt động khác, cũng như nâng cao chất lượng quản lý hoạt động, giảm thiểu chi phí để gia tăng lợi nhuận cho Chi nhánh.
2.2. Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á chi nhánh Bắc Giang Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng DongABank.
2.2.1. Khái quát về nguồn vốn
- Bảng 2.4. Tình hình nguồn vốn giai đoạn 2023-2025
Đối với Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á chi nhánh Bắc Giang, vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng khá nhỏ trong cơ cấu tổng nguồn vốn. Nhìn vào bảng số liệu ta thấy, năm 2023 vốn chủ sở hữu chỉ chiếm 5,94% tương đương 24,06 tỷ đồng. Đến năm 2024, tỷ lệ này cũng không có sự thay đổi nhiều đạt 6,07% tương đương 25,78 tỷ đồng, mức tăng nhẹ thêm 1,72 tỷ đồng tương ứng tăng 7,15% so với năm 2023. Sang năm 2025, vốn chủ sở hữu tăng khá mạnh lên thêm 8,22 tỷ đồng tương đương tăng 31,89%, đạt 34 tỷ đồng. Tuy nhiên xét về cơ cấu, nguồn vốn này vẫn chiếm tỷ trọng ở mức thấp là 6,98%. Có thể thấy, vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng khá ổn định qua các năm để đảm bảo các mục đích khác nhau như: trang bị cơ sở vật chất, đầu tư góp vốn liên doanh, tài sản đảm bảo bảo vệ người gửi tiền, trang trải những khoản lỗ về tài chính và nghiệp vụ của ngân hàng.
Đối với ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á chi nhánh Bắc Giang, vốn chủ sở hữu tăng chủ yếu từ nguồn lợi nhuận để lại và nhận vốn từ hội sở chính. Lợi nhuận để lại lấy từ lợi nhuận sau thuế năm trước sau khi chia cổ tức cho cổ đông. Chi nhánh sẽ nhận thêm vốn từ hội sở chính để tạo một cơ cấu vốn chủ sở hữu ổn định cho chi nhánh, bảo đảm thực hiện các mục tiêu như đã kể trên.
2.2.2. Hoạt động huy động vốn chủ sở hữu
- Bảng 2.5. Tình hình huy động vốn chủ sở hữu giai đoạn 2023-2025
Nhìn vào bảng số liệu ta thấy, năm 2023 trong tổng số 24,06 tỷ đồng tổng vốn chủ sở hữu, vốn điều lệ của Chi nhánh chiếm 18,42 tỷ đồng, còn lại tăng lên từ lợi nhuận để lại năm 2022 là 4,06 tỷ đồng và nhận vốn từ hội sở chính 1,58 tỷ đồng. Đến năm 2024, bản thân vốn điều lệ của Chi nhánh đã có sự tăng nhẹ thêm 0,64 tỷ đồng tương đương 3,47%. Lợi nhuận để lại năm 2023 đạt 4,34 tỷ đồng, tăng 6,89% tương ứng 0,28 tỷ đồng so với năm trước, để cân đối lại nguồn vốn Chủ sở hữu, Chi nhánh đã nhận thêm vốn từ hội sở chính so với năm trước, cụ thể nhận 2,38 tỷ đồng, tăng 0,80 tỷ tương đương 50,63%. Đến năm 2025, Chi nhánh đã phải nhận thêm vốn từ hội sở chính một lượng khá lớn vốn, cụ thể là nhận 6,57 tỷ đồng, tăng thêm 4,19 tỷ tương đương 176,05% so với năm 2024. Nguyên nhân là để ổn định cơ cấu Vốn Chủ sở hữu trên tổng nguồn vốn, trong khi mức tăng vốn điều lệ và lợi nhuận để lại là không nhiều. Vốn điều lệ năm 2025 tăng thêm 3,79 tỷ đồng , tăng 19,88% đạt 22,85 tỷ đồng. Lợi nhuận để lại năm 2024 là 4,58 tỷ đồng, chỉ tăng thêm 0,24 tỷ đồng tương đương 5,53% so với năm trước.
2.2.3. Hoạt động huy động vốn nợ Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng DongABank.
Trong giai đoạn 2023-2025, nền kinh tế Việt Nam đang có dấu hiệu khởi sắc sau khủng hoảng. Do vậy nguồn vốn của chi nhánh cũng tăng trưởng với quy mô khá lớn.
- Bảng 2.6. Tình hình huy động vốn giai đoạn 2023-2025
Xét theo cơ cấu nguồn vốn huy động, ta thấy nguồn vốn nội tệ chiếm tỷ trọng lớn hơn rất nhiều so với nguồn vốn huy động ngoại tệ, nguồn vốn huy động trung hạn chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu vốn huy động theo kỳ hạn, vốn huy động từ dân cư gấp 2-3 lần vốn huy động từ Tổ chức kinh tế, xã hội, vốn huy động từ tiền gửi chiếm hơn 95% trong khi vốn huy động từ phát hành giấy tờ có giá chỉ khoảng 5%.
- Huy động vốn theo kỳ hạn
Biểu đồ 2.2. Tỷ trọng vốn huy động theo kỳ hạn giai đoạn 2023-2025
Nhìn vào biểu đồ 2.2 ta thấy, Chi nhánh có quy mô vốn huy động trung hạn rất lớn và đang tập trung gia tăng vốn dài hạn. Cụ thể là:
Năm 2023, nguồn vốn huy động trung hạn đạt 241,30 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng lớn nhất 63,33% tổng nguồn vốn huy động, tiếp đó là vốn huy động ngắn hạn 82,90 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 27,76%. Vốn huy động dài hạn chỉ đạt 56,85 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 8,91%.
Đến năm 2024, cơ cấu nguồn vốn huy động phân theo kỳ hạn đã có sự thay đổi mạnh. Vốn huy động trung hạn vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất là 61,11% tương đương 243,65 tỷ đồng, tăng 2,35 tỷ đồng so với năm 2023 (tương đương tăng 0,97%). Nguồn vốn huy động chiếm tỷ trọng lớn thứ hai là vốn dài hạn thay vì vốn ngắn hạn như năm 2023. Cụ thể vốn dài hạn đạt 99,45 tỷ đồng, tăng 42,60 tỷ đồng so với năm 2023 tương đương tăng 74,93% và chiếm tỷ trọng 24,94% tổng vốn huy động năm 2024. Trong khi đó vốn ngắn hạn đã có sự sụt giảm mạnh, năm 2024 chỉ đạt 55,60 tỷ đồng, giảm 27,3 tỷ đồng so với năm 2023 tương đương 32,93%, chỉ chiếm tỷ trọng 13,95% trong tổng nguồn vốn huy động. Nền kinh tế khủng hoảng khiến các doanh nghiệp làm ăn không có lãi, thu nhập cá nhân giảm và việc rút tiền gửi không kỳ hạn để chi trả các khoản trước mắt là cần thiết. Chính vậy mà vốn ngắn hạn giảm mạnh. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng DongABank.
Tiếp tục thực hiện mục tiêu tăng tỷ trọng nguồn vốn huy động dài hạn, sang đến năm 2025 cơ cấu nguồn vốn đã có sự thay đổi lớn khi vốn huy động trung hạn đã giảm tỷ trọng xuống chỉ còn 49,17% tương đương 222,50 tỷ đồng, giảm 21,15 tỷ đồng tương đương 8,68% so với năm 2024. Vốn huy động dài hạn tiếp tục tăng mạnh lên 55,71% tương đương 55,4 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 34,13% . Vốn huy động ngắn hạn tăng lên 20,05 tỷ đồng tương đương 36,06%, dẫn đến tỷ trọng trong tổng vốn huy động tăng nhẹ lên mức 16,7%. Nguyên nhân chính của sự tăng vốn dài hạn là do sự biến động của vàng và ngoại tệ làm người dân hoang mang, tiết kiệm qua ngân hàng là cách thức an toàn nhất. Chi nhánh luôn chú trọng tới nguồn vốn dài hạn vì có tính ổn định cao, bởi vậy đã áp dụng lãi suất gửi dài hạn hấp dẫn, do đó thu hút được nguồn vốn dài hạn lớn.
- Huy động vốn theo thành phần kinh tế
Biểu đồ 2.3. Tỷ trọng vốn huy động theo thành phần kinh tế
Đối tượng huy động vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất của Chi nhánh qua các năm luôn là các cá nhân và hộ gia đình đang có nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi. Điều này cũng đúng trong giai đoạn nền kinh tế tăng trưởng chậm sau cuộc khủng hoảng, các kênh đầu tư: vàng, thị trường chứng khoán, bất động sản chứa đựng nhiều rủi ro, thì gửi tiết kiệm ngân hàng là hình thức đầu tư an toàn và hiệu quả nhất. Năm 2023, tỷ trọng vốn huy động từ dân cư chiếm 62,63% tương đương 238,65 tỷ đồng, còn lại vốn huy động từ các Tổ chức kinh tế, xã hội chiếm 37,37% đạt 142,40 tỷ đồng. Đến năm 2024, tỷ trọng vốn huy động từ dân cư có sự tăng mạnh lên 74,74%, tương đương 298,00 tỷ đồng, tăng 59,35 tỷ so với năm 2023 (tương đương tăng 24,80%). Trong khi đó vốn huy động từ các Tổ chức kinh tế, xã hội lại giảm chỉ còn 100,7 tỷ đồng, giảm so với năm 2023 là 41,70 tỷ đồng tương đương 29,53%, chiếm tỷ trọng chỉ còn 25,26%. Năm 2025 tỷ trọng vốn huy động từ dân cư tiếp tục tăng lên tới 77,37%, khối lượng huy động được đạt 350,50 tỷ đồng, tăng lên 52,50 tỷ so với năm 2024 tương đương tăng 17,62%. Mặc dù tỷ trọng giảm còn 22,63%, nhưng vốn huy động được từ các Tổ chức kinh tế, xã hội năm 2025 của Chi nhánh tăng nhẹ ở mức 1,80 tỷ đồng, tương đương tăng 1,79%, đạt mức 102,50 tỷ đồng. Trong nguồn vốn huy động, chi nhánh luôn xác định tiền gửi của dân cư là nguồn vốn trọng tâm. Chi nhánh đã tiến hành khai thác nguồn vốn này một cách tối đa. Thêm vào đó, tâm lý người dân muốn gửi tiền vào ngân hàng để đảm bảo an toàn và hưởng lãi suất cao. Do đó nguồn vốn huy động từ dân cư tăng qua các năm. Ngược lại nguồn vốn huy huy động từ các Tổ chức kinh tế, xã hội giảm do cuộc khủng hoảng kinh tế để lại nhiều hậu quả, gây khó khăn lớn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của các tổ chức kinh tế, cũng không ít doanh nghiệp phá sản. Vì thế, để đảm bảo cho tình hình tài chính của mình, các doanh nghiệp phải rút vốn để chi trả và sản xuất.
- Huy động vốn theo loại tiền Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng DongABank.
Biểu đồ 2.4. Tỷ trọng vốn huy động phân theo loại tiền giai đoạn 2023-2025
Qua bảng 2.6 và biểu đồ 2.4 ta thấy, tỷ trọng nguồn vốn huy động bằng nội tệ và ngoại tệ không có sự thay đổi nhiều qua các năm. Nguồn vốn huy động bằng nội tệ luôn chiếm tỷ trọng rất cao trong tổng nguồn vốn huy động qua các năm. Lượng tiền VNĐ chiếm tỷ lệ cao do nguồn vốn huy động được chủ yếu từ các đối tượng trong nước. Cụ thể, qua các năm 2023,2024,2025 vốn huy động bằng nội tệ của chi nhánh chiếm tỷ trọng lần lượt là 91,21%, 90,84% và 92,03%. Xét về con số tuyệt đối, năm 2024 nguồn vốn huy động bằng cả nội tệ và ngoại tệ đều tăng nhưng tốc độ tăng của nguồn vốn ngoại tệ là 8,96% cao hơn tốc độ tăng của nguồn vốn nội tệ là 4,13%. Do chính sách chống đô la hóa của Ngân hàng nhà nước, người dân hạn chế trong việc sử dụng USD, nguồn ngoại tệ này dư thừa trong dân cư chính vì thế người dân có xu hướng gửi vào ngân hàng nhiều hơn so với năm trước. Đến năm 2025, sự biến động lại đi theo chiều ngược lại, nguồn vốn nội tệ lại tăng 53,75 tỷ đồng tương đương 14,85% trong khi nguồn vồn bằng ngoại tệ chỉ tăng 1,75 tỷ đồng tương đương 4,8%. Năm 2025 tỷ gia hối đoái có sự biến động liên tục, không ổn định; để đảm bảo an toàn ngoại hối Chi nhánh đã hạn chế huy động vốn bằng ngoại tệ.
- Huy động vốn theo đối tượng huy động
Biểu đồ 2.5. Tỷ trọng nguồn vốn huy động theo đối tượng huy động
Nhìn vào biểu đồ có thể dễ dàng nhận ra, Chi nhánh chủ yếu huy động vốn bằng hình thức nhận tiền gửi của khách hàng, nghiệp vụ phát hành giấy tờ có giá chỉ chiếm tỷ trọng rất nhỏ và có xu hướng ngày càng giảm. Cụ thể:
Năm 2023, trong tổng vốn huy động thì nghiệp vụ nhận tiền gửi chiếm tới 94,65%, đạt 360,65 tỷ đồng. Còn lại 5,35% tỷ trọng của nghiệp vụ phát hành Giấy tờ có giá, tương đương huy động được 20,40 tỷ đồng từ nghiệp vụ này.
Đến năm 2024, vốn huy động từ tiền gửi khách hàng tăng thêm 18,75 tỷ đồng, tương đương tăng 5,20%. Trong khi đó vốn huy động từ phát hành Giấy tờ có giá giảm 1,10 tỷ đồng (tương đương giảm 5,39%) xuống chỉ còn 19,30 tỷ đồng. Chính vì vậy mà tỷ trọng nguồn vốn huy động đã có sự thay đổi nhẹ, khi nhận tiền gửi tăng lên 95,16% và phát hành Giấy tờ có giá giảm còn 4,84%.
Xu hướng thay đổi của năm 2024 tiếp tục diễn biến sang năm 2025, khi tỷ trọng vốn huy động từ phát hành Giấy tờ có giá giảm chỉ còn 3,75% tương đương đạt 17 tỷ đồng, giảm tới 2,3 tỷ (tương đương giảm 11,92%). Vốn huy động từ nhận tiền gửi của khách hàng tiếp tục tăng, mức tăng là 56,60 tỷ đồng tương đương tăng 15,91%, lên đạt mức 436 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 96,25%.
Nguồn vốn huy động từ tiền gửi không ngừng gia tăng và chiếm tỷ trọng rất lớn trong những năm qua là do ngân hàng luôn chú trọng tới hoạt động huy động vốn từ nhận tiền gửi bởi đây là nguồn vốn có tính ổn định khá cao, giúp ngân hàng chủ động hơn trong hoạt động kinh doanh của mình. Để có được mức tăng trưởng đáng mừng như vậy chi nhánh đã không ngừng hoàn thiện và mở rộng các nghiệp vụ huy động vốn. Hoạt động phát hành Giấy tờ có giá của chi nhánh phụ thuộc vào từng đợt phát hành của hội sở chính vì chi nhánh chỉ có nhiệm vụ tiếp nhận rồi triển khai phân phối Giấy tờ có giá chứ bản thân chi nhánh không được phép phát hành một cách độc lập. Trong giai đoạn 2023-2025, hội sở chính cũng không thường xuyên phát hánh Giấy tờ có giá. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng DongABank.
2.2.4. Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động huy động vốn tại ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á chi nhánh Bắc Giang
- Nhóm chỉ tiêu phản ánh chi phí huy động vốn
Ngân hàng là trung gian đóng vai trò cầu nối giữa người cho vay và người đi vay, đòi hỏi Ngân hàng thương mại phải tìm cách điều chỉnh mức lãi suất sao cho hợp lý nhất đối với các bên nhưng vẫn phải đảm bảo lợi ích của ngân hàng. Vì vậy, trong huy động vốn mỗi ngân hàng đều cố gắng áp dụng mọi biện pháp có thể nhằm tìm kiếm được những nguồn vốn sao cho chi phí huy động vốn bình quân là nhỏ nhất. Lãi suất bình quân đóng vai trò quan trọng trong việc xác định mức lãi suất cho vay sao cho hợp lý, cân đối với lãi suất đi vay nhằm mang lại lợi nhuận cho ngân hàng
- Bảng 2.7. Chi phí huy động bình quân năm giai đoạn 2023-2025
- Biểu đồ 2.9. Biến động chi phí vốn bình quân năm giai đoạn 2023-2025
Chỉ tiêu này cho biết chi phí mà ngân hàng phải bỏ ra để thu hút về 100 đồng vốn huy động là bao nhiêu. Chỉ tiêu này thấp thể hiện chi phí vốn thấp, góp phần nâng cao lợi nhuận của ngân hàng và ngược lại. Năm 2023, chi phí huy động vốn bình quân là 14,73% tức là để huy động được 100 đồng vốn huy động thì ngân hàng phải bỏ ra 14,73 đồng chi phí. Đến năm 2024, chi phí bình quân giảm xuống còn 9,84%, để huy động được 100 đồng vốn huy động ngân hàng chỉ phải bỏ ra 9,84 đồng chi phí trả lãi. Do tỉ trọng vốn huy động ngắn hạn với lãi suất thấp của ngân hàng tăng còn tỷ trọng vốn huy động trung hạn với lãi suất cao hơn lại giảm dẫn đến chi phí vốn bình quân giảm. Đến năm 2025, vốn huy động trung và dài hạn tăng song vốn huy động ngắn hạn lại giảm làm đẩy cao chi phí huy động vốn bình quân lên 12,05%. Chi phí huy động bình quân của Chi nhánh được đánh giá cao hơn mức bình quân ngành ngân hàng do vốn huy động chủ yếu là vốn trung và dài hạn.
Ngoài ra, ta cũng xét đến chỉ tiêu tỷ suất chi phí huy động vốn Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng DongABank.
- Bảng 2.8. Tỷ suất chi phí huy động vốn năm giai đoạn 2023-2025
- Biểu đồ 2.10. Biến động tỷ suất chi phí huy động vốn giai đoạn 2023-2025
Chỉ tiêu này cho biết cứ 100 đồng doanh thu từ tiền lãi thu về thì ngân hàng phải bỏ ra bao nhiêu đồng chi phí tiền lãi. Tỷ suất chi phí huy động vốn càng nhỏ càng tốt, qua chỉ tiêu này có thể đánh giá được ngân hàng mất nhiều hay ít nguồn lực tài chính dành cho chi phí huy động vốn kinh doanh. Từ đó, ngân hàng sẽ điều chỉnh mức chi phí này hợp lý với tình hình kinh doanh thực tế. Qua Bảng 2.8 ta thấy để kiếm được 100 đồng doanh thu từ tiền lãi, năm 2023 Chi nhánh phải bỏ ra 77,67 đồng chi phí tiền lãi nhưng đến năm 2024 Chi nhánh chỉ phải bỏ ra 73,36 đồng chi phí tiền lãi, giảm 4,31 đồng. Năm 2025, tỷ suất huy động vốn tăng lên tới 79,48%, mức chi phí bỏ ra để có được 100 đồng doanh thu lên tới 79,48 đồng. Chỉ tiêu tỷ suất chi phí huy động vốn của Chi nhánh khá cao và đang có xu hướng tăng, nguyên nhân chủ yếu là do cơ cấu sử dụng vốn và huy động vốn bất hợp lý, nhiều nguồn vốn huy động nhàn rỗi không được sử dụng.
Nhóm chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sinh lời vốn huy động
- Bảng 2.9. Khả năng sinh lời của vốn huy động giai đoạn 2023-2025
- Biểu đồ 2.11. Khả năng sinh lời của vốn huy động giai đoạn 2023-2025
Khả năng sinh lời của vốn huy động cho biết một đồng vốn huy động tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ hoạt động huy động vốn hiệu quả, giúp ngân hàng kiếm được nhiều lợi nhuận từ nguồn vốn huy động. Qua Bảng 2.9 ta thấy được hệ số khả năng sinh lời của vốn huy động qua các năm 2023,2024,2025 lần lượt là 2,90% -2,83% -2,62%. Hiệu quả sinh lời trên vốn huy động giảm dần qua các năm. Nhận thấy, 100 đồng vốn huy động tạo ra được 2,90 đồng lợi nhuận sau thuế năm 2023, 2,83 đồng lợi nhuận sau thuế năm 2024, và lại giảm tiếp xuống còn 2,62 đồng năm 2025. Đây là điều đáng lo ngại bởi khả năng sinh lời giảm đồng nghĩa với việc hiệu quả hoạt động kinh doanh của đơn vị giảm. Chi nhánh cần phải tìm ra các biện pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, giảm thiểu chi phí nhằm nâng cao hệ số này, đảm bảo mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng DongABank.
- Bảng 2.10. Khả năng sinh lời của vốn Chủ sở hữu giai đoạn 2023-2025
Qua Bảng 2.10 ta thấy được hệ số khả năng sinh lời của vốn Chủ sở hữu các năm 2023,2024,2025 lần lượt là 45,97%-43,72%-34,88%. Hiệu quả sinh lời trên vốn Chủ sở hữu giảm dần qua các năm. Nhận thấy, 100 đồng vốn Chủ sở hữu tạo ra được 45,97 đồng lợi nhuận sau thuế năm 2023, 43,72 đồng lợi nhuận sau thuế năm 2024, và lại giảm tiếp xuống còn 34,88 đồng năm 2025. Đây là điều đáng lo ngại bởi khả năng sinh lời giảm đồng nghĩa với việc hiệu quả hoạt động kinh doanh của đơn vị giảm. Chi nhánh cần phải tìm ra các biện pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, giảm thiểu chi phí nhằm nâng cao hệ số này, đảm bảo mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận.
- Nhóm chỉ tiêu phản ánh mối quan hệ giữa huy động vốn và sử dụng vốn
Hệ số này cho biết trong một đồng vốn huy động thì có bao nhiêu đồng được sử dụng trong kỳ. Hệ số này càng cao càng tốt, chứng tỏ vốn hoạt động được sử dụng hiệu quả, số dư vốn huy động sau khi đã sử dụng càng ít thì ngân hàng càng tiết kiệm được chi phí trả lãi. Song, chỉ tiêu này cũng cần có hạn mức, không nên quá cao để đảm bảo tính thanh khoản cho ngân hàng.
- Bảng 2.11. Hệ số sử dụng vốn giai đoạn 2023-2025
Hoạt động huy động vốn và sử dụng vốn có mối liên hệ mật thiết với nhau, muốn có vốn để cho vay thì ngân hàng cần phải huy động vốn. Tuy nhiên nếu chỉ chú trọng huy động vốn mà không đầu tư và cho vay thì nguồn vốn sẽ bị ứ đọng, chi phí tăng cao trong khi thu nhập thấp dẫn tới giảm lợi nhuận. Ngược lại, nếu ngân hàng chỉ chú trọng đầu tư cho vay mà không đẩy mạnh huy động vốn thì ngân hàng sẽ trở nên bị động, thiếu vốn cho vay gây ảnh hưởng xấu tới uy tín của ngân hàng. Giai đoạn 2023-2025, hệ số sử dụng vốn huy động lần lượt là 0,86-0,93-0,91 cho ta thấy, cứ một đồng vốn huy động được Chi nhánh cho vay lần lượt 0,86 đồng năm 2023, 0,93 đồng năm 2024 và 0,91 đồng năm 2025. Hệ số sử dụng vốn nhỏ hơn 1 thể hiện Chi nhánh sử dụng vốn chưa hiệu quả, vẫn còn một bộ phận vốn huy động nhàn rỗi chưa được sử dụng.
- Bảng 2.12. Tính cân đối giữa huy động vốn và sử dụng vốn theo loại tiền
Ta thấy rằng, trong khi nguồn vốn huy động từ nội tệ luôn đáp ứng tốt nhu cầu, thì vốn ngoại tệ lại dư thừa rất lớn so với nhu cầu sử dụng của Chi nhánh. Mặc dù hệ số sử dụng có xu hướng tăng trong giai đoạn 2023-2025 tuy nhiên vẫn không đáng kể. Năm 2023 hệ số này là 0,12, sang năm 2024 tăng lên 0,14 và năm 2025 là 0,15. Như vậy, hoạt động huy động vốn và sử dụng vốn ngoại tệ của đơn vị không hiệu quả. Chi nhánh cần phải có hướng cải thiện nhằm đẩy mạnh công tác sử dụng vốn ngoại tệ như tăng cường cho vay ngoại tệ, kinh doanh ngoại tệ hoặc giảm bớt nguồn huy động từ ngoại tệ để tránh lãng phí, ứ đọng nguồn ngoại tệ. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng DongABank.
- Bảng 2.13. Tính cân đối giữa huy động vốn và sử dụng vốn theo kỳ hạn
Nhìn vào bảng số liệu ta thấy ngay sự mất cân đối giữa huy động và sử dụng vốn ngắn hạn tại chi nhánh. Năm 2023 hệ số sử dụng vốn huy động ngắn hạn là 2,93, năm 2024 lên tới 5,04 và đến năm 2025 là 4,21. Nhận thấy ngân hàng cho vay vốn ngắn hạn gấp 2 đến 5 lần số vốn ngắn hạn huy động được. Trong khi đó, hệ số sử dụng vốn trung và dài hạn lại rất thấp. Cụ thể, hệ số huy động vốn trung hạn qua 3 năm lần lượt là 0,35-0,36-0,41, đối với vốn dài hạn là 0,05-0,02-0,03. Qua phân tích trên ta thấy được Chi nhánh sử dụng chính sách thận trọng trong cung cấp tín dụng. Nhu cầu vay vốn ngắn hạn tại chi nhánh là rất lớn trong khi nguồn vốn huy động ngắn hạn lại quá ít. Điều này không chỉ ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Nguồn vốn trung và dài hạn dồi dào khiến ngân hàng tự chủ hơn trong việc kinh doanh, có cơ hội đầu tư nhiều hơn vào các dự án trung và dài hạn, tuy nhiên Chi nhánh lại không tận dụng được lợi thế này khi sử dụng vốn trung và dài hạn chưa đạt hiệu quả cao.
Tóm lại, việc huy động và sử dụng vốn của ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á chi nhánh Bắc Giang là chưa thực sự hợp lý và kém hiệu quả. Huy động vốn tăng nhưng vốn trung và dài hạn chiếm tỷ trọng quá lớn trong khi nhu cầu vay vốn trung và dài hạn ít còn nhu cầu vốn ngắn hạn lại cao. Với một cơ cấu vốn như vậy, tuy không ảnh hưởng gì tới uy tín của chi nhánh nhưng nó lại ảnh hưởng nghiêm trọng đến hiệu quả hoạt động của chi nhánh trong khi một trong những tiêu chí của hoạt động ngân hàng là sinh lời. Vì thế, chi nhánh cần xem xét, cân nhắc lại nguồn vốn đã huy động. Một lần nữa, ta có thể khẳng định rằng hiệu quả công tác huy động vốn không chỉ dừng ở việc chi nhánh có huy động được nhiều vốn hay không mà còn phải bao gồm cả sự hợp lý giữa việc huy động vốn và sử dụng vốn nhằm đạt mục tiêu cuối cùng là đem lại lợi nhuận cho chi nhánh.
2.3. Đánh giá về hiệu quả huy động vốn Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng DongABank.
2.3.1. Những kết quả đạt được
Mặc dù còn gặp nhiều khó khăn khi tình hình kinh tế bất ổn cũng như sự cạnh tranh gay gắt của các ngân hàng khác trên địa bàn hoạt động, nhưng hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động huy động vốn nói riêng của ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á chi nhánh Bắc Giang giai đoạn 2023-2025 vẫn đạt được những thành công nhất định, đảm bảo đáp ứng tốt hoạt động sử dụng vốn của Chi nhánh.
Thứ nhất, Chi nhánh đã sử dụng nhiều biện pháp nghiệp vụ, không ngừng đổi mới các hình thức thu hút khách hàng giúp cho nguồn vốn ngày càng tăng trưởng về mặt quy mô, đáp ứng tốt nhu cầu sử dụng vốn trên địa bàn. Chi nhánh tự cân đối nguồn vốn trung và dài hạn để đảm bảo kế hoạch cho vay trên địa bàn theo tiêu chí mà toàn bộ hệ thống ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á đề ra.
Thứ hai, do nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò quan trọng của công tác huy động vốn và điều hành trong huy động, lãnh đạo Chi nhánh luôn tập trung quan tâm chỉ đạo công tác này, coi tạo vốn là điều kiện tiên quyết để nâng cao thế và lực trong cạnh tranh, khẳng định vị thế, tầm vóc và uy tín của Chi nhánh cũng như toàn hệ thống ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á tại thời điểm này và trong các năm sắp tới. Chi nhánh đặc biệt chú trọng chỉ đạo, tạo điều kiện cho các cá nhân mở tài khoản và trả lương qua tài khoản của đơn vị nhằm tranh thủ nguồn vốn trong thanh toán.
Thứ ba, trong công tác xây dựng và thực hiện chính sách huy động vốn, Chi nhánh luôn theo dõi và nắm bắt kịp thời mọi biến động trên thị trường để từ đó điều chỉnh kịp thời lãi suất huy động đáp ứng được yêu cầu cạnh tranh. Với mạng lưới hoạt động rộng khắp, chi nhánh đã thu hút được nguồn vốn lớn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế tại khu vực.
Thứ tư, Chi nhánh không ngừng nâng cao năng lực cán bộ, đổi mới hoàn thiện phong cách phục vụ phù hợp với cơ chế thị trường và yêu cầu của khách hàng, tăng tính cạnh tranh. Cùng với việc động viên, khuyến khích cán bộ tham gia các khóa tập huấn, nâng cao năng lực; Chi nhánh còn có quy chế bổ nhiệm, đào tạo công khai, phù hợp với năng lực và hiệu quả công tác của từng cán bộ. ngoài ra, hệ thống hoạt động của Chi nhánh đã được hiện đại hóa với những chương trình phát triển công nghệ thông tin, mạng thanh toán riêng, nâng cao vai trò quản lý, thanh tra, kiểm soát vừa đảm bảo tính độc lập tự chủ trong kinh doanh vừa giữ an toàn về tài sản vật chất, bảo vệ lợi ích của khách hàng và của chính Chi nhánh. Do đó, Chi nhánh ngày càng thu hút được thêm nhiều khách hàng đến giao dịch.
2.3.2. Những hạn chế Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng DongABank.
Trong quá trình thực hiện hoạt động huy động vốn, ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á chi nhánh Bắc Giang cũng không tránh khỏi những sai sót nhất định như:
Thứ nhất, công tác huy động vốn chưa thực sự gắn với việc sử dụng vốn. Trong các năm vừa qua, việc huy động vốn và sử dụng vốn của Chi nhánh bị mất cân đối khá nghiêm trọng về kỳ hạn. Trong khi nguồn vốn trung và dài hạn khá lớn và dư thừa thì nguồn vốn ngắn hạn lại không đủ để đáp ứng cho nhu cầu sử dụng vốn ngắn hạn của Chi nhánh. Việc sử dụng nguồn vốn trung và dài hạn để cho vay ngắn hạn sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận của Chi nhánh. Ngoài ra, nguồn vốn ngoại tệ tại chi nhánh tuy chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng dư thừa gây tình trạng ứ đọng vốn khiến việc hoạt động của Chi nhánh trở nên chưa hiệu quả.
Thứ hai, chi phí huy động vốn còn cao so với toàn ngành. Do Chi nhánh huy động nhiều vốn trung hạn với mức lãi suất cao dẫn đến lãi phải trả cho phần vốn huy động cao. Tỷ suất chi phí huy đông vốn có chiều hướng giảm ở năm 2024 song lại tăng lên ở năm 2025. Chi phí huy động vốn cao làm cho lợi nhuận của Chi nhánh thấp, ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của Chi nhánh.
Thứ ba, khả năng sinh lời của nguồn vốn còn rất thấp. Khả năng sinh lời của vốn huy động chỉ ở mức dưới 3%. Điều này chứng tỏ hiệu quả huy động vốn của Chi nhánh chưa cao, nguồn vốn huy động được chỉ góp một phần nhỏ tạo nên lợi nhuận của Ngân hàng. Đây là điều đáng lo ngại bởi khả năng sinh lời giảm đồng nghĩa với việc hiệu quả hoạt động kinh doanh của đơn vị giảm. Chi nhánh cần tìm ra các biện pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, giảm thiểu chi phí nhằm nâng cao hệ số này, đảm bảo tính sinh lời của chi nhánh.
Thứ tư, mức độ đa dạng các hình thức huy động vốn còn thấp. Hình thức huy động còn đơn điệu, mang tính chất truyền thống, cơ bản vẫn sử dụng hình thức huy động bằng các hình thức tiết kiệm, tiền gửi thanh toán của các tổ chức, cá nhân đơn thuần dưới hình thức kỳ hạn ngắn, trung và dài hạn. Chi nhánh mới phát triển thêm các hình thức mới như: tiết kiệm tích lũy, tiết kiệm bậc thang,… nhưng còn chậm và mới chỉ dừng lại ở mức độ thăm dò, thử nghiệm.
2.3.3. Những nguyên nhân dẫn đến hạn chế
- Nguyên nhân khách quan Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng DongABank.
Trước hết, giai đoạn 2023-2025 vẫn thuộc giai đoạn hậu khủng hoảng, nền kinh tế đất nước chưa thực sự ổn định. Như chúng ta đã biết, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2020 đã tác động trực tiếp đến nền kinh tế trong nước, gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động không chỉ của Chi nhánh Bắc Giang mà còn toàn bộ hệ thống ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á và tất cả các Ngân hàng thương mại khác trong cả nước. Cuộc khủng hoảng đã ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống của người dân cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trên địa bàn. Kinh tế phát triển không ổn định, lạm phát tăng cao khiến người dân giảm tiêu dùng và đầu tư để tránh rủi ro, điều này đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động kinh doanh của Chi nhánh. Thực trạng này vẫn còn tiếp diễn trong giai đoạn hậu khủng hoảng, tuy nhiên hậu quả của nó đã phần nào được giảm bớt.
Thứ hai, lãi suất trong những năm qua cũng có nhiều biến động. Thực tế trong giai đoạn 2023-2025, Ngân hàng nhà nước đã thực hiện quá trình điều chỉnh giảm lãi suất. Cụ thể năm 2023, Ngân hàng nhà nước quy định trần lãi suất huy động VNĐ của các Tổ chức tín dụng là 14%, và từ đó đến tháng 6/2025 Ngân hàng nhà nước đã có tới 8 lần điều chỉnh giảm trần lãi suất huy động tiền gửi VNĐ. Qua các đợt điều chỉnh, lãi suất huy động VNĐ có kỳ hạn dưới 1 tháng giảm từ 7%/năm xuống 1,25%/năm, kỳ hạn từ 1 đến 12 tháng giảm từ 14%/năm xuống 7%/năm. Việc điều chỉnh giảm lãi suất này của Ngân hàng nhà nước tuy là động thái hợp lý, tích cực trong tình hình kinh tế hiện nay, nó không làm giảm nguồn vốn huy động do gửi tiền vào ngân hàng đã trở thành một kênh đầu tư an toàn và hiệu quả; nhưng lại làm thay đổi cơ cấu nguồn vốn huy động. Tiền gửi ngắn hạn có xu hướng giảm và nguồn vốn trung dài hạn tăng. Điều này đã được thể hiện rõ trong cơ cấu tiền gửi theo kỳ hạn, làm cho tính ổn định nguồn vốn của ngân hàng giảm xuống.
Cuối cùng, môi trường cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt cũng tác động đến hoạt động huy động vốn của Chi nhánh. Đặc biệt là trong một vài năm trở lại đây, thị trường vốn có nhiều biến động thất thường, các ngân hàng đua nhau hút vốn về phía mình thì Chi nhánh càng gặp nhiều khó khăn hơn trong hoạt động huy động vốn. Không những thế, ngoài việc phải đối mặt với các ngân hàng trong nước thì Chi nhánh còn phải đối mặt với các ngân hàng nước ngoài với ưu thế hơn hẳn về nhiều mặt. Thêm vào đó, các kênh huy động vốn khác ngoài ngân hàng như các công ty bảo hiểm nhân thọ, tiết kiệm bưu điện, trái phiếu kho bạc, đầu tư chứng khoán,… cũng ảnh hưởng đáng kể đến lượng vốn huy động vào ngân hàng.
- Nguyên nhân chủ quan Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng DongABank.
Thứ nhất, chính sách quản lý cơ cấu nguồn vốn của ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á chi nhánh Bắc Giang chưa hợp lý khiến cho nguồn vốn bị mất cân đối về kỳ hạn và loại tiền huy động, cơ cấu huy động vốn không cân xứng với cơ cấu sử dụng vốn. Chi nhánh quá tập trung vào việc huy động vốn bằng tiền gửi trung hạn và dài hạn trong khi nhu cầu vay vốn dài hạn tại địa bàn là không lớn. Ngược lại, nguồn vốn ngắn hạn tại Chi nhánh lại quá nhỏ, không đủ để đáp ứng nhu cầu vay vốn ngắn hạn luôn cao của người dân. Ngoài ra, nguồn vốn ngoại tệ của Chi nhánh tuy chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng xét về quy mô vẫn khá lớn, trong khi nhu cầu vay vốn ngoại tệ trên địa bàn tỉnh lại không nhiều. Mặc dù Chi nhánh cũng đã xem xét vấn đề này tuy nhiên các giải pháp đưa ra vẫn chưa thực sự có hiệu quả. Nếu thực hiện tốt công tác này, Chi nhánh có thể giảm bớt chi phí đầu vào, gia tăng lợi nhuận cho đơn vị.
Thứ hai, các công cụ huy động của Chi nhánh vẫn mạng tính chất truyền thống, chưa có sự đổi mới về sản phẩm nên chưa đủ sức cạnh tranh với các ngân hàng khác. Ngoài ra, các hoạt động về marketing ngân hàng, quảng bá sản phẩm, dịch vụ của Chi nhánh vẫn có những hạn chế nhất định về số lượng, phương thức tiếp thụ quảng cáo còn sơ sài. Mặc dù có phòng dịch vụ và marketing riêng nhưng hoạt động chưa đạt hiệu quả cao nên Chi nhánh vẫn gặp nhiều khó khăn trong hoạt động tìm kiếm khách hàng, phân khúc thị trường và phân nhóm khách hàng.
Thứ ba, Chi nhánh vẫn chưa xây dựng được chính sách khách hàng rõ ràng, chưa có sự phân loại khách theo từng nhóm đối tượng. Do đó, việc phát triển các gói sản phẩm dịch vụ vẫn chưa thực sự hấp dẫn được khách hàng. Bên cạnh đó, nguồn vốn huy động và dư nợ tại Chi nhánh chưa thu hút được nhiều khách hàng mới mà chỉ tập trung ở một lượng khách hàng nhất định. Vì vậy mà dễ gặp rủi ro cho hoạt động của Chi nhánh khi mà các khách hàng này gặp rủi ro trong kinh doanh. Ngoài ra, Chi nhánh thiếu các chương trình tri ân khách hàng, các dịch vụ hậu mãi và chăm sóc khách hàng chưa thực sự được chú trọng…
Thứ tư, mặc dù đã có nhiều tiến triển trong dịch vụ chăm sóc, tư vấn khách hàng, tuy nhiên vẫn còn một số ít cán bộ vẫn còn giữ thái độ xa cách, không thân thiện với khách hàng gây mất thiện cảm trong giao dịch, dẫn đến có thể mất khách hàng cũ đồng thời khó thu hút thêm nhiều đối tượng khách hàng mới. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng DongABank.
Thứ năm, Chi nhánh đã áp dụng nhiều thành tựu của khoa học công nghệ vào hoạt động cùng với toàn bộ hệ thống ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á và các Ngân hàng thương mại khác, nhưng nhìn chung còn có nhiều hạn chế so với các Ngân hàng thương mại khác, nhất là các Ngân hàng thương mại cổ phần và các Ngân hàng thương mại nước ngoài. Các dịch vụ, phương tiện thanh toán, các tiện ích mà Chi nhánh cung cấp cho khách hàng có quy mô còn nhỏ và chưa thực sự được quan tâm đúng mức. Ví dụ như các cây rút tiền tự động có quy mô và phạm vi tương đối hẹp, đôi khi còn xảy ra hiện tượng hết tiền, hỏng hóc dẫn đến không đáp ứng được nhu cầu rút tiền của khách hàng đặc biệt là trong những ngày lễ tết. Dịch vụ ngân hàng điện tử chưa được triển khai rộng rãi, lượng khách hàng sử dụng còn khá ít. Mức độ thỏa mãn nhu cầu xã hội nói chung và đặc biệt nhu cầu của dân cư về dịch vụ ngân hàng còn nhiều hạn chế do khả năng cung ứng dịch vụ của Chi nhánh còn chưa bắt kịp với nhu cầu của xã hội.
- KẾT LUẬN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CỦA CHƯƠNG 2
Những cơ sở lý luận chung về hoạt động huy động vốn của Ngân hàng thương mại ở chương 1 đã giúp khóa luận có thể đi sâu phân tích thực trạng hoạt động kinh doanh cũng như hoạt động huy động vốn của ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á chi nhánh Bắc Giang trong giai đoạn 2023-2025. Qua những phân tích trên, ta có thể thấy được hoạt động huy động vốn tại Chi nhánh đã có những chuyển biến tích cực mặc dù vẫn còn nhiều hạn chế tồn tại, đặc biệt là sự mất cân đối về kỳ hạn giữa huy động vốn và sử dụng vốn.
Những kết quả phân tích có được trong chương 2 sẽ là nền tảng để đưa ra những giải pháp ở chương 3 nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn của Chi nhánh, giúp cho hoạt động huy động vốn tại Chi nhánh hoàn thiện và phù hợp hơn với nhu cầu sử dụng vốn của đơn vị. Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng DongABank.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Giải pháp huy động vốn tại Ngân hàng DongABank
