Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Đánh giá chương trình cho vay ủy thác của ngân hàng hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Đánh giá chương trình cho vay ủy thác của ngân hàng chính sách xã hội thông qua các tổ chức xã hội trên địa bàn xã Tùng Vài, Quản Bạ, Hà Giang dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Tại các nước đang phát triển, một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển là hoạt động xóa đói giảm nghèo, đặc biệt là ở khu vực nông thôn.Trong đó hoạt động cho vay vốn là cách kích thích hoạt động tạo thu nhập để giúp người nghèo vượt khỏi đói nghèo. Cho vay tín dụng ưu đãi không giống như các yếu tố đầu vào thông thường như hạt giống hay phân bón, tín dụng giúp người nghèo nắm quyền kiểm soát tốt các nguồn tài nguyên, có tiếng nói hơn trong các giao dịch kinh tế cũng như quan hệ xã hội.
Ở Việt Nam, xóa đói giảm nghèo là một trong những nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài của Đảng, của toàn dân ta.Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ chương, chính sách hỗ trợ, giúp đỡ người nghèo và các vùng nghèo vươn lên thoát nghèo.Một trong những chính sách đó là chính sách tín dụng ưu đãi. Ngày 4/10/2002 Chính phủ ban hành Nghị định số 78/2002/NĐ-CP về tín dụng đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác. Đồng thời Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 131/TTg thành lập Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) (trên cơ sở tổ chức lại Ngân hàng Phục vụ người nghèo được thành lập theo quyết định số 230/QĐ-NH5, ngày 1/9/1995 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam) để thực hiện tín dụng ưu đãi đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác. (Đào Văn Hùng, 2005)
Quản Bạ là một huyện miền núi của tỉnh Hà Giang cũng là huyện còn nhiều khó khăn trên địa bàn tỉnh.Trong những năm qua, huyện Quản Bạ đã triển khai nhiều chương trình cho vay vốn hỗ trợ cho nông dân có điều kiện phát triển kinh tế.Trong 15 năm qua, các điểm giao dịch tại các xã, thị trấn.Luôn chủ động phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương, các tổ chức đoàn thể cơ sở thực hiện tốt việc giúp đỡ hộ nghèo và các đối tượng chính sách tiếp cận với các nguồn vốn ưu đãi để đầu tư sản xuất, chăn nuôi hiệu quả.Hiện nay trên toàn huyện có 13 điểm giao dịch. Hoạt động tại các điểm giao dịch được thực hiện nghiêm túc theo đúng nội dung văn bản hướng dẫn của Tổng Giám đốc Ngân hàng chinh sách xã hội. Tại các điểm giao dịch xã, thị trấn Ngân hàng chinh sách xã hội thực hiện cho vay, thu nợ, thu lãi, nhận tiền gửi và triển khai các chính sách tín dụng mới, giao ban với các hội đoàn thể nhận ủy thác, Tổ Tiết kiệm và vay vốn (TK&VV). Việc hoạt động hiệu quả của các điểm giao dịch tại xã, thị trấn đã đạt được các kết quả như, tổng dư nợ cho vay các chương trình của Ngân hàng chinh sách xã hội đến 31/12/2024 là 224,100 triệu đồng/ 6.600 hộ vay vốn, đạt 100% kế hoạch đề ra, tỷ lệ nợ quá hạn chỉ chiếm còn 0,04%/tổng dư nợ. Bên cạnh đó, ngân hàng chính sách xã hội huyện thường xuyên quan tâm nâng cao chất lượng, hoạt động của các tổ TK&VV tại cơ sở. Thực hiện giải ngân ở các nội dung như chương trình cho vay hộ nghèo, hộ cận nghèo, giải quyết việc làm, cho vay nhà ở, sản xuất kinh doanh, đầu tư chăn nuôi phát triển trâu bò, sinh sản. Qua đó, giúp các đối tượng được thụ hưởng từ nguồn vốn ngân hàng chính sách xã hội huyện được tiếp cận với nguồn vốn để đầu tư thúc đẩy sản xuất kinh doanh, tạo thêm việc làm mới, từng bước vươn lên thoát nghèo.(Báo cáo tổng kết, kết quả hoạt động Ngân hàng chinh sách xã hội huyện Quản Bạ, 2024).
Dù đã đạt được những kết quả đó, việc thực hiện chính sách tín dụng trên địa bàn huyện còn gặp một số khó khăn như: Một số chính quyền địa phương chưa quan tâm đúng mức đến công tác củng cố, nâng cao chất lượng tín dụng chính sách, chưa có các biện pháp cụ thể và tích cực để cải thiện chất lượng tín dụng, nhất là các biện pháp nhằm xử lý đối với các hộ gia đình đang còn dư nợ Ngân hàng chinh sách xã hội nhưng đã chuyển đi khỏi địa phương. Công tác thông tin, tuyên truyền về các chủ trương, chính sách tín dụng ưu đãi tại một số xã vùng khó khăn, vùng biên giới còn hạn chế, vẫn còn một số bộ phận hộ nghèo và đối tượng chính sách khác chưa hiểu hoặc chưa nắm bắt được các chương trình tín dụng ưu đãi để tiếp cận nguồn vốn tín dụng chính sách. Trình độ nhận thức, tập quán sản xuất của một số hộ tại các vùng cao, vùng đặc biệt khó khăn còn rất hạn chế, hộ vay vốn chủ yếu dựa vào điều kiện tự nhiên, đất đai để chăn nuôi, sản xuất nên hiệu quả vốn tín dụng đầu tư thấp, tiềm ẩn nhiều rủi ro; sản phẩm sản xuất ra nhỏ lẻ, không tạo thành hàng hóa, khó tiêu thụ, lợi nhuận thấp, dẫn đến hiệu quả đồng vốn vay không cao. Một số nơi, chất lượng hoạt động ủy thác của các tổ chức Chính trị – Xã hội cấp xã còn thiếu sâu sắc chưa chủ động thực hiện đầy đủ các nội dung công việc được ủy thác theo hợp đồng đã ký, dẫn đến chất lượng hoạt động của Tổ TK&VV còn hạn chế. Khóa luận: Đánh giá chương trình cho vay ủy thác của ngân hàng.
Vì vậy để chính sách tín dụng thực sự phát huy hiệu quả trong việc trợ giúp người dân, đồng bào dân tộc thiểu số phát triển sản xuất, thoát nghèo bền vững, đặc biệt trên địa bàn xã Tùng Vài nơi tôi sinh sống, nên tôi chọn đề tài “Đánh giá chương trình cho vay ủy thác của Ngân hàng chính sách xã hội thông qua các tổ chức xã hội trên địa bàn xã Tùng Vài, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang” làm báo cáo kết quả thực tập tốt nghiệp.
1.2. Mục tiêu của đề tài
- Đánh giá thực trạng chương trình cho vay uỷ thác của Ngân hàng chính sách xã hội thông qua các tổ chức xã hội trên địa bàn xã Tùng Vài, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang;
- Đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của chương trình cho vay ủy thác của Ngân hàng chính sách xã hội thông qua các tổ chức xã hội trên địa xã Tùng Vài, Quản Bạ, Hà Giang;
- Đề xuất một số giải pháp để chương trình này phục vụ khách hàng tốt hơn trong thời gian tới.
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến chương trình cho vay ủy thác của Ngân hàng Chính sách xã hội thông qua các tổ chức xã hội trên địa bàn xã Tùng Vài, huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang
Đối tượng khảo sát là cán bộ, hội viên Hội nông dân, hội viên Hội cựu chiến binh, hội viên Hội Phụ nữ, chi Đoàn Thanh niên, những người đã và đang vay vốn, các cán bộ phụ trách tín dụng cấp xã, cán bộ Ngân hàng chính sách xã hội huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang
1.3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Đề tài tập trung nghiên cứu chương trình cho vay ủy thác của Ngân hàng Chính sách xã hội thông qua các tổ chức xã hội, từ đó đề xuất một số giải pháp để Chương trình cho vay ủy thác của Ngân hàng Chính sách xã hội phục vụ khách hàng tốt hơn. Khóa luận: Đánh giá chương trình cho vay ủy thác của ngân hàng.
- Phạm vi không gian: Đề tài được tiến hành trên địa bàn xã Tùng Vài.
- Phạm vi thời gian:
Thời gian thực hiện đề tài từ ngày 10/1/2026 đến ngày 10/5/2026
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở nghiên cứu
2.1.1. Khái niệm về tín dụng
- Tín dụng
Tín dụng: Là sự vay mượn tiền mặt và vật tư, hàng hóa như tín dụng ngân hàng, quỹ tín dụng. (Nguyễn Văn Ngọc, 2024)
Tín dụng ngân hàng: Là quan hệ chuyển nhượng sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời gian nhất định với một khoản chi phí nhất định. (Nguyễn Minh Kiều,2007)
- Tín dụng ưu đãi
Tín dụng ưu đãi: Là một khái niệm chỉ một khoản vay bằng tiền mặt hay bằng hàng hóa được cung cấp từ một bên (bên cho vay) dành cho bên một bên khác (bên đi vay) với những ưu đãi đặc biệt dưới hình thức lãi suất hay hình thức nào đó nhằm hướng đến một một mục đích nhất định nằm trong thỏa thuận dựa trên sự tin tưởng lẫn nhau của hai bên hoặc có sự bảo lãnh của bên thứ ba. (Nguyễn Đức Thắng, 2022).
Trong phạm vi của Đề tài thì Tín dụng ưu đãi của ngân hàng chính sách xã hội huyện Quản Bạ, tỉnh Hà Giang thực chất là các khoản vay của Ngân hàng chính sách xã hội huyện Quản Bạ, Hà Giang cung cấp các khoản tín dụng cho các đối tượng thuộc diện như hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ khó khăn về nhà ở, học sinh, sinh viên gặp hoàn cảnh khó khăn… với những ưu đãi đặc biệt về lãi suất, mức vốn vay, thời hạn cho vay và quy trình cho vay… nhằm mục đích giúp các đối tượng trên cải thiện và ổn định cuộc sống, nâng cao dân trí, giảm chênh lệch giàu nghèo trong xã hội.
- Khái niệm tín dụng Ngân hàng Chính sách xã hội Khóa luận: Đánh giá chương trình cho vay ủy thác của ngân hàng.
Nghị định số 78/2002/NĐ-CP: “Tín dụng Ngân hàng Chính sách xã hội là việc sử dụng các nguồn lực tài chính do Nhà nước huy động để cho người nghèo và các Đối tượng chính sách khác vay ưu đãi phục vụ sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống; góp phần thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói, giảm nghèo, ổn định xã hội”; “Người nghèo và các Đối tượng chính sách khác được vay vốn tin dụng ưu đãi (TDUĐ) gồm: (1) Hộ nghèo. (2) Học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn đang học đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và học nghề. (3) Các đối tượng cần vay vốn để giải quyết việc làm theo Nghị quyết 120/HĐBT ngày 11/4/1992 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ). (4) Các Đối tượng chính sách đi lao động có thời hạn ở nước ngoài. (5) Các tổ chức kinh tế và hộ sản xuất, kinh doanh thuộc hải đảo; thuộc khu vực II, III miền núi và thuộc chương trình phát triển KT-XH các xã đặc biệt khó khăn miền núi, vùng sâu, vùng xa (sau đây gọi là chương trình 135). (6) Các đối tượng khác khi có quyết định của Thủ tướng chính phủ”.
- Đặc điểm tín dụng Ngân hàng Chính sách xã hội
Tín dụng Ngân hàng Chính sách xã hội có các đặc điểm sau: (1) Người nghèo và các Đối tượng chính sách khác khi vay vốn tại Ngân hàng Chính sách xã hội không phải thế chấp tài sản ngoại trừ các tổ chức kinh tế vay vốn để giải quyết việc làm theo Nghị quyết 120/HĐBT ngày11/4/1992 của Hội đồng Bộ trưởng và các tổ chức kinh tế thuộc hải đảo; khu vực II, III miền núi; chương trình phát triển kinh tế – xã hội các xã đặc biệt khó khăn miền núi, vùng sâu, vùng xa nhưng phải gia nhập Tổ TK&VV tại địa phương do tổ chức chính trị – xã hội (CT-XH) nhận uỷ thác của Ngân hàng Chính sách xã hội thành lập và Uỷ ban nhân dân (UBND) cấp xã cho phép hoạt động. (2) Hộ nghèo được miễn lệ phí làm Thủ tục hành chính trong việc vay vốn. (3) Lãi suất ưu đãi (thấp hơn lãi suất của Ngân hàng thương mại).
2.1.2. Khái niệm ủy thác Khóa luận: Đánh giá chương trình cho vay ủy thác của ngân hàng.
Ủy thác là việc giao cho cá nhân, pháp nhân bên được nhận ủy thác, nhân danh người nhận ủy thác để làm một việc nhất định mà người ủy thác không thể làm trực tiếp hoặc không muốn làm.
2.1.3. Khái niệm về hoạt động cho vay vốn ủy thác
Hoạt động ủy thác là việc bên ủy thác giao vốn (bằng tiền) cho bên nhận ủy thác để sử dụng cho đối tượng thụ hưởng của ủy thác với mục đích,lợi ích hợp pháp do bên ủy thác chỉ định trên cơ sở hợp đồng ủy thác.
Bên ủy thác là bên giao vốn (bằng tiền) cho bên nhận ủy thác để thực hiện hoạt động ủy thác được quy định cụ thể tại hợp đồng ủy thác.
Bên nhận ủy thác là bên nhận vốn (bằng tiền) do bên ủy thác giao để thực hiện hoạt động ủy thác được quy định cụ thể tại hợp đồng ủy thác.
Ủy thác cho vay là hoạt động ủy thác mà bên ủy thác giao vốn (bằng tiền) cho bên nhận ủy thác để cho vay đối tượng thụ hưởng của ủy thác.
Vốn ủy thác là khoản tiền của bên ủy thác giao cho bên nhận ủy thác để sử dụng cho đối tượng ủy thác với mục đích sinh lời hoặc lợi ích hợp pháp khác do bên ủy thác chỉ định trên cơ sở hợp đồng ủy thác.
2.1.4. Hoạt động cho vay vốn ủy thác của Ngân hàng Chính sách xã hội
- Về ký kết văn bản ủy thác với các tổ chức Chính trị – xã hội
Thực hiện Điều 5 Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của Chính phủ, Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) và các tổ chức chính trị xã hội (04 tổ chức chính trị – xã hội gồm: Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh) đã ký kết văn bản liên tịch và văn bản thỏa thuận “về tổ chức thực hiện uỷ thác cho vay hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác”. Sau hơn 10 năm thực hiện, một số nội dung không còn phù hợp với thực tiễn, nên ngày 03/12/2020, Ngân hàng chinh sách xã hội cùng với 04 tổ chức Chính trị – xã hội nhận ủy thác thống nhất và ký lại Văn bản thoả thuận số 3948/VBTT-NHCS-HPN-HND-HCCB-ĐTNCSHCM “Về việc thực hiện ủy thác cho vay vốn đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác” thay thế các văn bản đã ký kết trước đây.
Tại các cấp, Ngân hàng chinh sách xã hội đã phối hợp với các cấp Hội, đoàn thể ký các Văn bản liên tịch và Hợp đồng ủy thác, cụ thể: Khóa luận: Đánh giá chương trình cho vay ủy thác của ngân hàng.
- Cấp tỉnh: Ký Văn bản Liên tịch về việc thực hiện ủy thác cho vay vốn đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác theo mẫu số 01/UT.
- Cấp huyện: Ký Văn bản Liên tịch về việc thực hiện ủy thác cho vay vốn đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác theo mẫu số 02/UT
- Cấp xã: Ký Hợp đồng ủy thác về việc cho vay vốn đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác theo mẫu số 03/UT. (Ban phong trào Thanh niên tỉnh đoàn Quảng Trị, 2021)
2.1.5. Điều kiện thực hiện ký hợp đồng cho vay
Những tổ chức Hội, đoàn thể có tín nhiệm với Ngân hàng chinh sách xã hội, phải đảm bảo các điều kiện sau:
- Có uy tín trong nhân dân;
- Có mạng lưới tổ chức phù hợp với hoạt động của Ngân hàng chinh sách xã hội;
- Có khả năng tuyên truyền, vận động;
- Có khả năng kiểm tra, giám sát;
- Có các cán bộ nhiệt tình, am hiểu nghiệp vụ cho vay của Ngân hàng chinh sách xã hội, được Ngân hàng chinh sách xã hội tập huấn nghiệp vụ được ủy thác. (Ban phong trào Thanh niên tỉnh đoàn Quảng Trị, 2021)
2.1.6. Ý nghĩa hoạt động ủy thác cho vay thông qua các tổ chức xã hội
Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị xã hội, trong đó có các tổ chức hội, đoàn thể tạo nên một kênh dẫn vốn, quản lý vốn tín dụng chính sách an toàn, hữu hiệu, tin cậy đối với nhân dân và cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương.
Xã hội hóa công khai hóa hoạt động tín dụng chính sách nói chung và hoạt động chính sách ngân hàng nói riêng, để các chương trình cho vay vốn ưu đãi được triển khai rộng thu hút nhiều hội viên nông dân tham gia giám sát thực hiện, nhằm đưa vốn đến đúng đối tượng thụ hưởng, đồng thời nâng cao tín dụng chính sách và củng cố thêm mối quan hệ chặt chẽ giữa ngân hàng chính sách xã hội với các tổ chức hội, đoàn thể.
Củng cố hoạt động của các tổ chức hội,đoàn thể thông qua hoạt động ủy thác của ngân hàng chính sách xã hội, các tổ chức hội,đoàn thể có điều kiện quan tâm hơn đến hội viên làm cho sinh hoạt hội có nội dung phong phú hơn, lồng ghép triển khai thực hiện nhiệm vụ chính trị khác góp phần giảm chi phí xã hội.
Giúp cho hộ nghèo, hộ cận nghèo và đối tượng chính sách khác tiếp cận với các hoạt động vay vốn, gửi tiền của ngân hàng Chính sách xã hội một cách nhanh chóng, thuận lợi an toàn hiệu quả,tiết kiệm thời gian và chi phí của hội viên khi vay vốn. (Ban phong trào Thanh niên tỉnh đoàn Quảng Trị, 2021)
2.1.7. Nội dung ủy thác cho vay thông qua các tổ chức xã hội Khóa luận: Đánh giá chương trình cho vay ủy thác của ngân hàng.
- Công tác tuyên truyền, vận động
a1) Thực hiện tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Chính phủ về chính sách tín dụng ưu đãi và các chương trình tín dụng đối với hộ nghèo và các đối tượng chính sách khác…
a2) Vận động việc thành lập Tổ TK&VV theo đúng Quy chế về tổ chức và hoạt động của Tổ TK&VV ban hành theo Quyết định số 15/QĐ-HĐQT ngày 05/3/2019 của Hội đồng quản trị Ngân hàng chinh sách xã hội.
a3) Vận động, đôn đốc Ban quản lý Tổ TK&VV tham dự đầy đủ các phiên giao dịch của Ngân hàng chinh sách xã hội; hướng dẫn tổ viên Tổ TK&VV giao dịch với Ngân hàng chinh sách xã hội.
a4) Vận động tổ viên chấp hành Quy ước hoạt động của Tổ TK&VV, thực hành tiết kiệm; giúp đỡ nhau, cùng chia sẻ kinh nghiệm trong việc sử dụng vốn vay đúng mục đích, có hiệu quả, góp phần nâng cao đời sống, thực hiện trả nợ, trả lãi đúng kỳ hạn đã cam kết với Ngân hàng.
a5) Vận động, khuyến khích các tổ viên Tổ TK&VV tham gia các hoạt động khác của Ngân hàng chinh sách xã hội.
a6) Tổ chức tập huấn hoặc phối hợp với Ngân hàng chinh sách xã hội tập huấn nghiệp vụ ủy thác cho cán bộ Hội, đoàn thể cấp dưới và Ban quản lý Tổ TK&VV.
- Kiểm tra, giám sát hoạt động của Tổ TK&VV, Ban Quản lý Tổ và tổ viên Tổ TK&VV
b1) Giám sát toàn diện các hoạt động của Tổ TK&VV theo đúng Quy chế ban hành kèm theo Quyết định số 15/QĐ-HĐQT ngày 05/3/2019 của Hội đồng quản trị Ngân hàng chinh sách xã hội. Tổ chức Hội, đoàn thể phải trực tiếp tham gia họp và chỉ đạo các buổi họp sau:
- Họp thành lập Tổ TK&VV;
- Họp bầu mới, thay đổi Ban quản lý Tổ TK&VV;
- Họp xây dựng quy ước hoạt động của Tổ TK&VV;
- Họp bình xét cho
b2) Giám sát và đôn đốc Ban quản lý Tổ thực hiện đúng các nhiệm vụ được ủy nhiệm theo Hợp đồng đã ký với Ngân hàng chinh sách xã hội.
b3) Kiểm tra việc sử dụng vốn vay của 100% các món vay mới trong vòng 30 ngày kể từ ngày Ngân hàng chinh sách xã hội giải ngân cho hộ vay.
b4) Đôn đốc Ban quản lý Tổ giám sát việc sử dụng vốn vay đúng mục đích và có hiệu quả, trả nợ, trả lãi, thực hành tiết kiệm… của tổ viên.
b5) Giám sát các phiên giao dịch, các hoạt động giao dịch của Ngân hàng chinh sách xã hội tại xã; giám sát, bảo quản các nội dung công khai của Ngân hàng chinh sách xã hội tại Điểm giao dịch; giám sát các hoạt động của Ngân hàng chinh sách xã hội tại hộ vay, Tổ TK&VV. Khóa luận: Đánh giá chương trình cho vay ủy thác của ngân hàng.
b6) Thông báo kịp thời cho Ngân hàng nơi cho vay về các trường hợp sử dụng vốn vay bị rủi ro do nguyên nhân khách quan (thiên tai, dịch bệnh, hỏa hoạn, chết, mất tích…) và rủi ro do nguyên nhân chủ quan (sử dụng vốn vay sai mục đích, người vay trốn,…) để có biện pháp xử lý thích hợp.
- Các hoạt động phối hợp thực hiện cùng Ngân hàng chinh sách xã hội
c1) Nhận và thông báo kết quả phê duyệt Danh sách hộ gia đình được vay vốn chuyển cho Tổ TK&VV để Tổ thông báo đến từng hộ gia đình.
c2) Phối hợp với Ngân hàng chinh sách xã hội và chính quyền địa phương xử lý các trường hợp nợ chây ỳ, nợ quá hạn, người vay bỏ đi khỏi nơi cư trú và hướng dẫn hộ vay lập hồ sơ đề nghị xử lý nợ rủi ro do nguyên nhân khách quan; tham gia Tổ đôn đốc thu hồi nợ khó đòi cấp xã (nếu có).
c3) Phối hợp với Ngân hàng chinh sách xã hội thực hiện đánh giá phân loại chất lượng hoạt động của Tổ TK&VV; thực hiện các giải pháp củng cố, kiện toàn hoạt động của các Tổ TK&VV. (Ban phong trào Thanh niên tỉnh đoàn Quảng Trị, 2021)
2.2. Cơ sở thực tiễn Khóa luận: Đánh giá chương trình cho vay ủy thác của ngân hàng.
2.2.1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài về khả năng tiếp cận nguồn tín dụng và tín dụng ưu đãi
Nghiêm Hồng Sơn (2006) đã nghiên cứu về sự ảnh hưởng của tài chính vi mô tại Việt Nam. Trong nghiên cứu tác giả đã sử dụng mô hình DEA thông qua khảo sát 46 đề án ở miền bắc và miền trung Việt nam. Nghiên cứu đánh giá hiệu quả kỹ thuật và hiệu quả quy mô của các chương trình tài chính vi mô. Trong nghiên cứu đã sử dụng một số biến như số năm hoạt động, số người tham gia, số người vay, số người trả…. Để xem xét hiệu quả của các chương trình cho vay tín dụng này.
Ja Afolabi (2016), Phân tích khả năng trả nợ vay của nông dân sản xuất qui mô nhỏ ở bang Oyo, Nigeria, Vụ Kinh tế nông nghiệp và khuyến nông, Đại học liên bang công nghệ Akure. Nghiên cứu tập trung xác định các đặc điểm kinh tế – xă hội của nông hộ ở bang Oyo và ảnh hưởng của chúng đến khả năng trả nợ vay của nông hộ. Mô hình hồi quy Ordinary Least Square (OLS) cũng được sử dụng trong nghiên cứu nhằm xác định số lượng và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến khả năng vay vốn của nông hộ sản xuất quy mô nhỏ trong khu vực nghiên cứu. Các biến phụ thuộc là khả năng trả nợ vay của nông hộ bao gồm: Tuổi của chủ hộ, kinh nghiệm canh tác của hộ, việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, thu nhập của hộ, quy mô sản xuất, quy mô gia đình, chi phí sản xuất, và lãi suất của món tiền vay mà hộ đã vay từ Ngân hàng. (Phạm Thị An, 2025)
2.2.2. Các công trình nghiên cứu ở trong nước về khả năng tiếp cận các nguồn tín dụng và tín dụng ưu đãi Khóa luận: Đánh giá chương trình cho vay ủy thác của ngân hàng.
Nguyễn Thanh Hùng và các cộng sự (2021) Đánh giá hiệu quả chương trình tín dụng ưu đãi của Chính phủ đối với hộ nghèo tại huyện Trà Cú: Đánh giá từ phía người vay. Trong nghiên cứu tác giả sử dụng hai hồi quy đó là Probit: biến phụ thuộc là 0 đối với trường hợp không vay vốn và 1 nếu là vay vốn. Hồi quy Tobit với biến phụ thuộc là lượng vốn vay mà các hộ nghèo vay vốn. Trong nghiên cứu tác giả đã chỉ ra được các biến tác động đến quyết định vay vốn của các hộ nghèo (giá trị tài sản của hộ, thu nhập trung bình một năm, tổng diện tích, giới tính, trình độ học vấn, đất có giấy chứng nhận). Tác giả cũng đã chỉ ra những biến tác động đến số vốn vay (thu nhập trung bình một năm, chi tiêu trung bình một năm, giới tính của chủ hộ, tuổi của chủ hộ, trình độ học vấn, nghề nghiệp chủ hộ, mục đích vay vốn, số người phụ thuộc, đất có giấy chứng nhận).
Phan Thị Nữ (2016), Đánh giá tác động của tín dụng đối với giảm nghèo ở nông thôn Việt Nam, Nghiên cứu này đánh giá tác động của tín dụng đối với giảm nghèo ở nông thôn Việt Nam dựa trên số liệu điều tra mức sống hộ gia đình và sử dụng phương án khác biệt trong khác biệt (Difference in difference) kết hợp với hồi qui OLS. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng tín dụng có tác động tích cực lên mức sống của người nghèo thông qua làm tăng thu nhập của các hộ nghèo. Đó là: Khi tác giả sử dụng hồi quy với biến phụ thuộc là thu nhập bình quân đầu người và biến độc lập là số vốn vay, các nhóm hộ…thì với mức ý nghĩa 5%, việc vay vốn làm tăng thu nhập của hộ lên 42,9 nghìn đồng/người/tháng. Tiếp theo tác giả đưa thêm các biến khác vào mô hình như quy mô hộ, trình độ giáo dục trung bình, dân tộc, tuổi chủ hộ…Thì với mức ý nghĩa là 5% thì tín dụng có tác động làm tăng thu nhập hộ nghèo lên 39,3 nghìn đồng/người/tháng so với trường hợp không vay vốn. Tín dụng chính thức mặc dù có giá rẻ nhưng rất khó đến được với người nghèo do những thủ tục rườm rà và khoảng cách xa so với người nghèo. Ngoài ra, nghiên cứu cũng tìm thấy tác động tích cực của giáo dục và đa dạng hóa việc làm đến mức sống của hộ nghèo. Đề tài đã đề xuất một số gợi ý chính sách để cải thiện mức sống cho người nghèo ở nông thôn Việt Nam, bao gồm: Đơn giản hóa thủ tục vay vốn và mở rộng mạng lưới chi nhánh, phòng giao dịch của Ngân hàng; điều chỉnh lãi suất ở nông thôn; kết hợp cho vay vốn và khuyến nông. Nguyễn Văn Châu (2015), Ảnh hưởng tín dụng ưu đãi Ngân hàng CSXH để giảm tỷ lệ nghèo tại huyện Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang. Tác giả đã phỏng vấn trực tiếp 240 hộ nghèo trên địa bàn huyện Vị Xuyên để đánh giá ảnh hưởng của tín dụng Ngân hàng Chính sách xã hội đến khả năng tiếp cận vốn vay và cải thiện thu nhập của hộ nghèo. Kết quả nghiên cứu cho thấy mức vay cao nhất của Ngân hàng Chính sách xã hội là 30 triệu đồng/hộ và thấp nhất là 5 triệu đồng/hộ; 64,7% số vốn vay của Ngân hàng Chính sách xã hội được đầu tư vào lĩnh vực sản xuất nông lâm nghiệp; tín dụng vay thông qua Ngân hàng Chính sách xã hội làm tăng thu nhập bình quân 1,0 triệu đồng/người/năm. Nguồn vốn Ngân hàng Chính sách xã hội đã tạo ra trên 4.000 việc làm và trên 1.500 lao động xuất khẩu trong đó ra nước ngoài gần 361 lao động. Tác giả đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao ảnh hưởng tích cực của tín dụng Ngân hàng Chính sách xã hội đến giảm nghèo tại huyện Vị Xuyên: Đảm bảo đủ vốn cho các hộ nghèo cần vay vốn sản xuất; Quản lý tốt nguồn vốn ưu đãi hỗ trợ thông qua các dự án; Kết hợp nguồn vốn ưu đãi Ngân hàng Chính sách xã hội với các Chương trình dự án khác. Báo cáo của Oxfam và AAV (2018) tổng hợp kết quả theo nghèo nông thôn tại mạng lưới các điểm quan trắc giai đoạn 2007-2017 cũng cho thấy mức độ giảm nghèo không đồng đều giữa các địa bàn dân cư. Tỷ lệ nghèo theo chuẩn nghèo của Chính phủ tại các vùng dân tộc thiểu số giảm chậm và còn ở mức rất cao. Cuộc sống của đồng bào dân tộc thiểu số còn rất khó khăn với những bất lợi đa chiều, điển hình là bất lợi về điều kiện sống (nước sinh hoạt, nhà vệ sinh), tiếp cận thị trường, việc làm phi nông nghiệp và chống đỡ rủi ro. Tỷ lệ hộ làm thuần nông nghiệp còn khá cao, trong khi đây là một tiêu chí nghèo quan trọng theo cảm nhận của người dân. tình trạng “thiếu ăn” vào thời điểm giáp hạt, gặp thiên tai dịch bệnh vẫn là thách thức lớn đối với một bộ phận dân cư ở vùng dân tộc thiểu số. Ngay trong một cộng đồng cũng có nhiều nhóm gặp khó khăn đặc thù, như nhóm nghèo kinh niên, nhóm nghèo tạm thời, nhóm nghèo dễ bị tổn thương, và nhóm cận nghèo hoặc mới thoát nghèo, cần có chính sách hỗ trợ phù hợp với từng nhóm. Khóa luận: Đánh giá chương trình cho vay ủy thác của ngân hàng.
Phùng Đức Tùng và cộng sự thuộc Công ty nghiên cứu và tư vấn Đông Dương (2018), “Tác động của Chương trình 135 giai đoạn II qua lăng kính hai cuộc điều tra đầu kỳ và cuối kỳ” tại hội thảo đánh giá tác động của Chương trình phát triển kinh tế xã hội các xã đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi (Chương trình 135). Chương trình 135 giai đoạn II( CT 135-II) ( từ 2006 – 2016). Tác giả đã sử dụng phương pháp đánh giá tác động của chương trình 135 lên mức sống của hộ nghèo bằng 2 phương pháp đánh giá: Một là, Phương pháp khác biệt kép kết hợp với hồi quy OLS; Hai là, Phương pháp hồi quy dữ liệu bảng nhân tố cố định (fixed-effects regressions). Kết quả nghiên cứu cho thấy, Chương trình 135 đã giúp cải thiện rõ rệt việc tiếp cận đến các cơ sở hạ tầng cơ bản, tiếp cận đến thị trường,do vậy làm tăng năng suất trong nông nghiệp, cơ hội việc làm phi nông nghiệp đã làm tăng thu nhập và cải thiện đời sống của các hộ gia đình trong các xã thuộc Chương trình 135. Thu nhập bình quân đầu người của các hộ tăng khoảng 20% trong khoảng thời gian 2007 – 2018. Các hộ có thu nhập thấp có mức tăng thấp hơn các hộ thu nhập cao. Do đó, bất bình đẳng về thu nhập giữa các hộ trong các xã 135 giai đoạn II ngày một tăng lên. Kết quả giảm nghèo ở các xã thuộc CT135-II đạt được chủ yếu do tăng thu nhập. Các hộ nằm trong các xã CT 135-II phụ thuộc rất nhiều vào thu nhập nông nghiệp. Gần 60% thu nhập của các hộ từ các hoạt động nông nghiệp. Tỷ trọng đóng góp từ tiền công/tiền lương vào tổng thu nhập có chiều hướng gia tăng tuy nhiên vẫn ở tỷ lệ khá nhỏ. Tỷ trọng thu nhập từ phi nông nghiệp còn khá hạn chế, chỉ ở 20 mức khoảng 5%. Tỷ lệ các hộ nghèo tạm thời là khá lớn. Có đến 22,1% hộ thoát khỏi đói nghèo nhưng lại có đến 14,3% các hộ trở thành hộ nghèo giữa 2 năm. Các hộ dân tộc Kinh dễ có khuynh hướng trở thành hộ nghèo tạm thời trong khi các hộ đồng bào thiểu số lại có nhiều khả năng là hộ nghèo kinh niên. Các nghiên cứu ở trên chủ yếu tập trung vào vấn đề nghèo đói ở các khu vực khác nhau của Việt Nam. Phương pháp đánh giá tác động khác biệt trong (DID – difference-in-differences) kết hợp với hồi qui OLS được sử dụng khi đánh giá tác động của tín dụng đối với hộ nghèo được 2 tác giả là Phan Thị Nữ (2016) và Nguyễn Thanh Bình (2016) sử dụng có ưu điểm là phản ánh chính xác hơn tác động của tín dụng đối với mức sống của người nghèo so với các mô hình hồi quy OLS thông thường ở các nghiên cứu khác. (Phạm Thị An, 2025)
2.2.3. Bài học cho Ngân hàng chinh sách xã hội huyện Quản Bạ Khóa luận: Đánh giá chương trình cho vay ủy thác của ngân hàng.
Từ các nghiên cứu xem xét tác động của vốn từ Ngân hàng Chính sách xã hội cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách là tương đối tích cực, nó góp phần nâng cao thu nhập và xóa đói giảm nghèo. Để phát huy được điều đó, Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Quản Bạ có thể tham khảo các bài học từ các địa phương và Ngân hàng Chính sách xã hội khác như sau:
Thứ nhất: Mở rộng địa bàn hoạt động tín dụng, để thuận tiện cho các hộ giao dịch cần mở rộng hơn nữa mạng lưới tín dụng của Ngân hàng Chính sách xã hội vì các hộ nghèo thường tập trung tại các vùng địa hình đi lại khó khăn, vùng xa trung tâm văn hóa nên việc tiếp cận thông tin về các chương trình vay vốn, các chính sách của Đảng và Nhà nước thường kém hơn các hộ khác.
Thứ hai: Tăng cường liên kết với các tổ tiết kiệm và vay vốn. Đây là cầu nối giữa Ngân hàng Chính sách xã hội và người dân. Tổ sẽ thay mặt Ngân hàng Chính sách xã hội hướng dẫn và triển khai các chương trình vay vốn để người dân hiểu và thực hiện các thủ tục vay vốn. Thêm vào đó là Tổ sẽ giám sát việc sử dụng vốn vay, những trường hợp sử dụng vốn không đúng mục địch sẽ kịp thời nhắc nhở và báo cáo Ngân hàng để sớm giải quyết. Khóa luận: Đánh giá chương trình cho vay ủy thác của ngân hàng.
Thứ ba: Đơn giản hóa các thủ tục hành chính. Các hộ nghèo thường các chủ hộ có trình độ thấp nên việc thực hiện các thủ tục hành chính gặp nhiều khó khăn.Chính vì vậy, Ngân hàng Chính sách xã hội cần đơn giản hóa các thủ tục, nhanh chóng cấp tiền cho các hộ để sớm triển khai đưa vào sản xuất. Các cán bộ Ngân hàng cần nắm chắc nghiệp vụ, không gây hoang mang cũng như tâm lý đối với các hộ khi thực hiện các thủ tục hành chính để vay vốn.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: PPNC Đánh giá chương trình cho vay ủy thác của NH
