Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Chính sách tài chính tiền tệ với sự phát triển của DN hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Chính sách tài chính, tiền tệ của Chính phủ đối với sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ. Kinh nghiệm của các nước trên thế giới và bài học đối với Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
LỜI MỞ ĐẦU
Trong hầu hết các quốc gia trên thế giới từ những nước đang phát triển đến các nước phát triển, doanh nghiệp vừa và nhỏ luôn đóng một vai trò quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu kinh tế – xã hội của quốc gia đó. Hiện nay, doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam chiếm đại bộ phận trong tổng số các doanh nghiệp trên cả nước. Các doanh nghiệp này đã và đang tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau như hợp tác xã, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần… Những doanh nghiệp này đóng một vai trò quan trọng trong việc khai thác các tiềm năng của đất nước, tạo ra nhiều việc làm trong xã hội, cung cấp nhiều sản phẩm hàng hóa, đóng góp một phần nhất định vào tỷ trọng GDP của cả nước cũng như thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung. Chính vì vậy, sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ ngày càng có ý nghĩa quan trọng đối với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế – xã hội của nước ta.
Trong những năm qua, nhận thức được tầm quan trọng của doanh nghiệp vừa và nhỏ, Nhà nước ta đã không ngừng hoàn thiện các chính sách khuyến khích, hỗ trợ và định hướng sự phát triển của các doanh nghiệp này. Có thể nói, hiện nay sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam chịu tác động rất lớn từ các chính sách điều tiết kinh tế vĩ mô cũng như các chính sách định hướng sự phát triển kinh tế của Chính phủ. Trong các chính sách điều tiết nền kinh tế có ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ thì chính sách tài chính, tiền tệ là một trong những công cụ quan trọng thường được Chính phủ sử dụng. Bản chất của các chính sách này là việc Chính phủ sử dụng các công cụ tài chính và công cụ tiền tệ để khuyến khích hoặc hạn chế đầu tư từ các tầng lớp dân cư và các tổ chức xã hội trong xã hội nhằm tạo ra của cải ngày càng nhiều cho xã hội. Cụ thể, thông qua 2 công cụ chủ yếu và thường được sử dụng là chính sách thuế và chính sách tín dụng, Chính phủ đã thực hiện các biện pháp hỗ trợ, khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ phát huy tính chủ động, sáng tạo, nâng cao hiểu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh, góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế của đất nước.
Việc nhìn nhận và đánh giá đúng đắn tác động của các công cụ của chính sách tài chính, tiền tệ của Chính phủ trong việc hỗ trợ sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ để từ đó hoàn thiện và phát huy hơn nữa vai trò của Chính phủ đối với việc định hướng và phát triển loại hình doanh nghiệp này là một yêu cầu cấp thiết có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn trong giai đoạn hiện nay đối với các quốc gia trên thế giới nói chung và với Việt Nam nói riêng. Đó chính là lý do tác giả chọn đề tài “Chính sách tài chính, tiền tệ của Chính phủ đối với sự phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ. Kinh nghiệm của các nước trên thế giới và bài học đối với Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu khóa luận tốt nghiệp.
Mục đích nghiên cứu: Khóa luận tốt nghiệp tập trung phân tích, đánh giá tác động của các công cụ của chính sách tài chính, tiền tệ trong việc hỗ trợ sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Việt Nam trong thời gian qua, nêu kinh nghiệm của các nước trên thế giới, từ đó đề ra những giải pháp nhằm hoàn thiện và sử dụng có hiệu quả các công cụ của chính sách tài chính, tiền tệ trong việc khuyến khích và định hướng phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nước ta.
Phạm vi nghiên cứu: xem xét việc sử dụng các công cụ của chính sách tài chính, tiền tệ của Chính phủ trong việc khuyến khích và định hướng phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, mà cụ thể là thông qua chính sách thuế và tín dụng.
Phương pháp nghiên cứu: Vận dụng các phương pháp nghiên cứu khác nhau: tổng hợp và phân tích, diễn giải và quy nạp, thống kê, so sánh. Khóa luận: Chính sách tài chính tiền tệ với sự phát triển của DN.
Kết cấu của đề tài: Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục viết tắt, danh mục bảng biểu và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của đề tài được thể hiện ở 3 chương:
- Chương I: Lý luận chung về Doanh nghiệp vừa và nhỏ và chính sách tài chính, tiền tệ của Chính phủ đối với sự phát triển của Doanh nghiệp vừa và nhỏ.
- Chương II: Nghiên cứu việc sử dụng chính sách tài chính, tiền tệ của Việt Nam trong việc định hướng và khuyến khích phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ và kinh nghiệm của một số nước trên thế giới.
- Chương III: Các giải pháp nhằm sử dụng có hiệu quả các công cụ của chính sách tài chính, tiền tệ trong việc thúc đẩy sự phát triển của Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam.
Chương I: Lý luận chung về Doanh nghiệp vừa và nhỏ và chính sách tài chính, tiền tệ của Chính phủ đối với sự phát triển của Doanh nghiệp vừa và nhỏ.
I. DNVVN TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1. Khái niệm và tiêu chí xác định Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Ngày nay, trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng cụm danh từ “Doanh nghiệp vừa và nhỏ” (DNVVN) đã được dùng tương đối phổ biến. Vậy thế nào là một Doanh nghiệp vừa và nhỏ ? Câu trả lời này tưởng chừng như đơn giản nhưng lại rất khác nhau trong các nước khác nhau, điểm giống nhau duy nhất trong quan niệm về Doanh nghiệp vừa và nhỏ là khái niệm này dùng để chỉ một loại hình doanh nghiệp được xếp loại theo những tiêu chí nhất định thường là dựa vào quy mô sản xuất của doanh nghiệp. Khóa luận: Chính sách tài chính tiền tệ với sự phát triển của DN.
Đứng trên giác độ quy mô người ta hay nói đến số lượng lao động thường xuyên có trên thực tế hoặc tổng số vốn đầu tư thể hiện tổng giá trị tài sản hoặc doanh thu trong năm của 1 doanh nghiệp. Các nước trên thế giới đã dựa vào 2 chỉ tiêu này để xác định quy mô của loại hình Doanh nghiệp vừa và nhỏ nhưng ở các mức độ định lượng rất khác nhau.
Việc xác định quy mô Doanh nghiệp vừa và nhỏ trên thế giới chỉ mang tính chất tương đối vì nó chịu tác động của các yếu tố như trình độ phát triển mỗi nước, tính chất ngành nghề và điều kiện phát triển của một vùng lãnh thổ nhất định hay mục đích phân loại doanh nghiệp trong từng thời kỳ nhất định. Nhìn chung, trên thế giới, việc xác định 1 doanh nghiệp có phải là Doanh nghiệp vừa và nhỏ hay không tuỳ thuộc vào 2 nhóm tiêu thức phổ biến là: Tiêu chí định tính và Tiêu chí định lượng
Nhóm tiêu chí định tính: Dựa trên nhóm tiêu thức cơ bản như bộ máy quản lý, cơ chế ra quyết định, các nghiệp vụ tài chính, hình thức tổ chức doanh nghiệp, trình độ chuyên môn hoá… Các tiêu thức này có uy thế là phản ánh đúng bản chất của vấn đề nhưng thường khó xác định trên thực tế. Do đó, chúng chỉ được dùng làm cơ sở để tham khảo mà ít được sử dụng để phân loại.
Nhóm tiêu chí định lượng: Được xây dựng dựa trên các chỉ tiêu như số lượng lao động, tổng giá trị tài sản (hay tổng vốn), doanh thu hoặc lợi nhuận của doanh nghiệp. Số lao động có thể là số lao động trung bình trong danh sách hoặc số lao động thường xuyên thực tế của doanh nghiệp. Tài sản hoặc vốn có thể bao gồm tổng giá trị tài sản (hay vốn) cố định hoặc giá trị tài sản (hay vốn) còn lại của doanh nghiệp
Các tiêu chí định lượng đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc xác định quy mô doanh nghiệp. Vào những thời điểm khác nhau các tiêu chí này rất khác nhau giữa các ngành nghề mặc dù chúng vẫn có những yếu tố chung nhất định. Bản thân trong một nước thì các tiêu thức để xác định Doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng là không cố định mà được thay đổi tuỳ theo sự phát triển của từng thời kỳ nhất định. Ta có thể tham khảo các tiêu thức phân loại Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở các nước khác nhau trên thế giới qua bảng 1 dưới đây: Khóa luận: Chính sách tài chính tiền tệ với sự phát triển của DN.
- Bảng 1: Tiêu thức xác định Doanh nghiệp vừa và nhỏ của một số nước trên thế giới
Ở nước ta, trước năm 2015, chưa có một văn bản pháp luật chính thức nào quy định tiêu chuẩn cụ thể của Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Do đó, mỗi tổ chức đưa ra một quan niệm khác nhau về Doanh nghiệp vừa và nhỏ nhằm định hướng mục tiêu và đối tượng hỗ trợ hoạt động của tổ chức mình. Ngân hàng Công thương Việt Nam đưa ra tiêu chuẩn Doanh nghiệp vừa và nhỏ là những doanh nghiệp có giá trị tài sản dưới 10 tỷ đồng, vốn lưu động dưới 8 tỷ đồng, doanh thu dưới 8 tỷ đồng và số lao động thường xuyên dưới 500 người. Theo tiêu chuẩn này thì Doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể tồn tại dưới bất kỳ hình thức sở hữu nào. Thành phố Hồ Chí Minh lại xác định những doanh nghiệp có vốn pháp định trên 1 tỷ đồng, doanh thu hàng năm trên 10 tỷ đồng và lao động thường xuyên có trên 100 người là những doanh nghiệp có quy mô vừa. Những doanh nghiệp dưới mức tiêu chuẩn đó là các doanh nghiệp nhỏ. Tổ chức hỗ trợ UNIDO tại Việt Nam lại đưa ra tiêu thức xác định Doanh nghiệp vừa và nhỏ dựa trên mục tiêu hỗ trợ của họ, đó là doanh nghiệp nhỏ là doanh nghiệp có ít hơn 50 lao động, tổng số vốn và doanh thu dưới 1 tỷ đồng, doanh nghiệp vừa là doanh nghiệp có số lao động từ 51 đến 200 người, tổng số vốn và doanh thu từ 1 đến 5 tỷ đồng.
Tháng 6 năm 2015, công văn số 681/CP-KTN của Văn phòng Chính phủ được ban hành là văn bản pháp lý đầu tiên của nước ta chính thức đề cập đến DNNVV. Theo đó, DNNVV trong ngành công nghiệp là các doanh nghiệp phải có vốn điều lệ dưới 5 tỷ đồng và số lao động trung bình hàng năm dưới 300 người; trong ngành thương mại dịch vụ là những doanh nghiệp có vốn sản xuất dưới 3 tỷ đồng và số lao động dưới 200 người. Trong đó, doanh nghiệp có vốn dưới 1 tỷ đồng và số lao động dưới 50 người trong công nghiệp và dưới 30 người trong thương mại dịch vụ là doanh nghiệp nhỏ. Tiêu chí này dựa trên 2 căn cứ là tổng số vốn và số lao động. Các tiêu thức về Doanh nghiệp vừa và nhỏ trong công văn này đã trở thành một căn cứ pháp lý quan trọng đầu tiên để chính thức xác định các đối tượng là Doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam. Theo các tiêu thức này, các doanh nghiệp không tính đến hình thức sở hữu là các doanh nghiệp quốc doanh hay các doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
Ngày 23 tháng 11 năm 2018 Chính phủ đã ban hành nghị định 90/2018/NĐ-CP về trợ giúp phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Trong nghị định này, Chính phủ đã đưa ra một định nghĩa chung về Doanh nghiệp vừa và nhỏ để các ban ngành, địa phương có căn cứ để xác định đối tượng được Chính phủ trợ giúp phát triển. Theo định nghĩa này, “DNVVN là những đơn vị sản xuất kinh doanh độc lập, đã đăng kí kinh doanh theo pháp luật hiện hành, có mức vốn đăng kí không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hàng năm không quá 300 người”. Theo nghị định này, đối tượng được xác định là Doanh nghiệp vừa và nhỏ bao gồm:
- Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật doanh nghiệp.
- Các doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo Luật doanh nghiệp nhà nước.
- Các hợp tác xã thành lập và hoạt động theo Luật hợp tác xã.
- Các hộ kinh doanh cá thể đăng ký theo Nghị định 02/2017/NĐ-CP ngày 03 tháng 02 năm 2017 của Chính phủ về đăng ký kinh doanh. Khóa luận: Chính sách tài chính tiền tệ với sự phát triển của DN.
Như vậy, theo định nghĩa này tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có đăng ký kinh doanh và thỏa mãn hai tiêu thức lao động và vốn đưa ra trong nghị định này đều được coi là Doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam. Theo cách phân loại này, số Doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm khoảng 96% trong tổng số các doanh nghiệp hiện có tại Việt Nam (theo tiêu chí lao động) và chiếm 88% (theo tiêu chí vốn đăng ký kinh doanh). Các tiêu chí phân loại này tương đối phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội của Việt Nam hiện nay. Tuy nhiên việc dùng 2 tiêu chí lao động bình quân hàng năm và vốn đăng ký kinh doanh còn quá chung chung. Lao động bình quân ở đây cần làm rõ là lao động thường xuyên hay bao gồm cả lao động thời vụ gồm những lao động thực tế của doanh nghiệp hay chỉ gồm những lao động ký hợp đồng và có đóng bảo hiểm ? Theo tác giả, nếu sử dụng chỉ tiêu lao động nên dựa vào số lao động làm việc thường xuyên hay số lao động làm việc từ 1 năm trở lên.
Yếu tố vốn đăng ký cũng cần xem xét. Thực tế cho thấy, số vốn đăng ký của các doanh nghiệp khi thành lập khác xa so với số vốn thực tế đưa vào kinh doanh. Số lượng lao động của các doanh nghiệp thay đổi hàng năm tùy thuộc vào kết quả kinh doanh của từng doanh nghiệp. Trong khi đó, vốn đăng ký của các doanh nghiệp là cố định khi đăng ký kinh doanh và thực tế số doanh nghiệp thay đổi vốn đăng ký là không nhiều và không thường xuyên. Do đó nếu lấy tiêu chí vốn đăng ký để xác định Doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ không đảm bảo phản ánh đúng thực trạng quy mô của doanh nghiệp. Trong khi đó, chỉ tiêu doanh số cho thấy chính xác hơn quy mô doanh nghiệp, về thực trạng hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp thay vì chỉ là các doanh nghiệp có đăng ký. Tác giả cho rằng chỉ tiêu doanh số hàng năm của các doanh nghiệp sẽ phản ánh chính xác hơn quy mô của doanh nghiệp trong từng giai đoạn thay vì tiêu chí vốn đăng ký.
Việc sử dụng cả 2 tiêu chí lao động và vốn/doanh thu sẽ khuyến khích các doanh nghiệp vừa sử dụng nhiều lao động lại vừa tập trung tích tụ vốn để phát triển. Sử dụng một tiêu chí lao động để xác định Doanh nghiệp vừa và nhỏ đồng nghĩa với việc tất cả các doanh nghiệp dù có vốn kinh doanh/doanh số lớn hay nhỏ đều được hưởng các chính sách ưu đãi của Chính phủ dành cho các Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Điều đó sẽ không hạn chế các doanh nghiệp đầu tư vốn lớn kinh doanh trong lúc vẫn muốn hưởng ưu đãi từ các chính sách dành cho Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tương tự như vậy, nếu sử dụng tiêu chí vốn kinh doanh/doanh số thì các doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động cũng vẫn được hưởng lợi từ các chính sách phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Vì vậy, việc xác định Doanh nghiệp vừa và nhỏ nên dựa trên cả 2 tiêu chí là doanh số và số lao động thường xuyên trung bình hàng năm của các doanh nghiệp.
2. Các đặc điểm của Doanh nghiệp vừa và nhỏ Khóa luận: Chính sách tài chính tiền tệ với sự phát triển của DN.
2.1. Điểm mạnh
Thứ nhất, các Doanh nghiệp vừa và nhỏ dễ khởi sự. Đa phần các doanh nghiệp chỉ cần một số lượng vốn nhỏ, số lao động không nhiều với các điều kiện làm việc đơn giản là có thể tiến hành kinh doanh. Điều này phù hợp với hoàn cảnh kinh tế xã hội của Việt Nam do nước ta còn ở trình độ phát triển thấp, khoảng cách chênh lệch với các nước trong khu vực và thế giới rất lớn. Quy mô cũng như cách thức không đòi hỏi sự phức tạp và khó khăn và điều này thôi thúc những người có ý tưởng kinh doanh bước đầu thành lập doanh nghiệp.
Thứ hai, các doanh nghiệp này có tính linh hoạt cao. Do quy mô nhỏ nên các Doanh nghiệp vừa và nhỏ nhạy cảm với những thay đổi của thị trường. Khi thị trường có những biến động, các doanh nghiệp này có thể chuyển hướng sang những ngành nghề khác đem lại lợi nhuận cho công ty dễ dàng hơn so với các doanh nghiệp lớn. Nhìn chung Doanh nghiệp vừa và nhỏ năng động hơn và dễ thích ứng hơn so với diễn biến nhanh chóng của môi trường kinh doanh ngày nay.
Thứ ba, các Doanh nghiệp vừa và nhỏ luôn có lợi thế trong việc duy trì và phát triển các ngành nghề truyền thống. Những ngành nghề này đòi hỏi vốn ít, nhân công dồi dào sẵn có, lại luôn nhận được sự ưu tiên khuyến khích phát triển của chính quyền địa phương, rất phù hợp với quy mô của Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đồng thời các doanh nghiệp này có khả năng khai thác và sử dụng có hiệu quả những nguồn lực đầu vào như lao động, tài nguyên….
Thứ tư, các doanh nghiệp này có lợi thế về sử dụng lao động. Đặc điểm của nước ta là nguồn nhân lực dồi dào song trình độ không cao. Quá trình phát triển kinh tế – xã hội luôn đòi hỏi phải tạo công ăn việc làm cho mọi người lao động. Nhiều Doanh nghiệp vừa và nhỏ không đòi hỏi người lao động có trình độ cao do vậy mà các doanh nghiệp này thường xuyên thu hút được một lượng lớn các lao động đến làm việc cho công ty của họ. Hơn thế nữa, quan hệ lao động trong các Doanh nghiệp vừa và nhỏ có tính chất thân thiện gần gũi hơn so với các doanh nghiệp lớn. Người lao động thường được quan tâm, động viên, khuyến khích trong công việc. Khóa luận: Chính sách tài chính tiền tệ với sự phát triển của DN.
2.2. Điểm yếu
Đặc điểm của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ chính là ở quy mô nhỏ, vốn ít. Chính điều này cũng trở thành bất lợi cho các doanh nghiệp khi tham gia quá trình kinh doanh.
Khả năng quản lý hạn chế. Bản thân những người đứng ra thành lập doanh nghiệp đa phần là những người có nhiều kinh nghiệm kinh doanh trên thương trường song họ lại chưa được đào tạo chuyên nghiệp, đầy đủ. Họ có thể có những ý tưởng kinh doanh tốt, có nhiều kinh nghiệm quý giá sau nhiều năm tiến hành kinh doanh nhưng lại thiếu kiến thức về quản lý để công ty hoạt động hiệu quả hơn. Họ vừa là người quản lý doanh nghiệp, vừa tham gia trực tiếp vào sản xuất nên mức độ chuyên môn trong quản lý không cao. Việc tách bạch các bộ phận không cụ thể, người quản lý các bộ phận cũng không được phân công nhiệm vụ rõ ràng.
Trình độ tay nghề của người lao động thấp. Việc thuê lao động có trình độ chuyên môn cao đòi hỏi một chi phí lớn mà không phải doanh nghiệp vừa và nhỏ nμo cũng có thể làm được. Hơn thế nữa, khi các doanh nghiệp này có nhu cầu bồi dưỡng trình độ nghiệp vụ cho nhân viên của mình thì cản trở chủ yếu cũng là do vấn đề tài chính. Điều này cũng khiến nhiều lao động có chuyên môn không muốn làm việc cho các Doanh nghiệp vừa và nhỏ do bản thân họ không có được nhiều cơ hội để nâng cao trình độ, kỹ năng làm việc. Vì vậy mà các doanh nghiệp thường khó khăn trong việc thực hiện các ý tưởng kinh doanh lớn, hoặc các dự án đầu tư lớn, các dự án đầu tư công cộng do thiếu nguồn lực.
Khả năng về công nghệ thấp do không đủ khả năng tài chính cho nghiên cứu triển khai nên các doanh nghiệp này gặp nhiều khó khăn trong đầu tư công nghệ mới đặc biệt là công nghệ đòi hỏi vốn đầu tư lớn. Từ đó ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng và hiệu quả, hạn chế khả năng cạnh tranh trên thị trường.
Khả năng tiếp cận thị trường kém đặc biệt là thị trường nước ngoài. Nguyên nhân chủ yếu là do các Doanh nghiệp vừa và nhỏ thường là những doanh nghiệp mới hình thành, khả năng tài chính cho các hoạt động marketing không có và họ cũng chưa có nhiều khách hàng truyền thống. Thêm vào đó, quy mô thị trường của các doanh nghiệp này thường bó hẹp trong phạm vi địa phương, việc mở rộng ra các thị trường mới là rất khó khăn. Các Doanh nghiệp vừa và nhỏ rất linh hoạt trong môi trường kinh doanh đầy biến động song cũng phải chịu nhiều rủi ro trong kinh doanh. Các doanh nghiệp này không có lợi thế kinh tế theo quy mô và thường không có mối quan hệ với các ngân hàng, các tổ chức tài chính nên thường gặp khó khăn trong việc vay vốn để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh hay nhận được sự giúp đỡ từ chính quyền địa phương nếu gặp khó khăn. Các doanh nghiệp này cũng không có khả năng mở rộng thị trường khi mà không có đội ngũ cán bộ dày dặn kinh nghiệm… Nhìn chung số lượng các Doanh nghiệp vừa và nhỏ ra đời ngày càng nhiều song cũng nhiều Doanh nghiệp vừa và nhỏ bị phá sản.
3. Vai trò của Doanh nghiệp vừa và nhỏ đối với quá trình phát triển kinh tế xã hội Khóa luận: Chính sách tài chính tiền tệ với sự phát triển của DN.
Ở Việt Nam cũng như nhiều nước khác trên thế giới, hoạt động của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ đóng một vai trò rất quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội.
3.1. Về khía cạnh kinh tế
- Thứ nhất, các Doanh nghiệp vừa và nhỏ góp phần đẩy mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế, làm tăng GDP
Cũng như Doanh nghiệp vừa và nhỏ tất cả các nước, Doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam cung cấp ra thị trường nhiều loại hàng hóa khác nhau đáp ứng nhu cầu sản xuất và tiêu dùng trong nước như trang thiết bị và linh kiện cần thiết cho các ngành sản xuất hàng tiêu dùng và các ngành thủ công nghiệp cũng như các hàng hóa tiêu dùng khác. Theo số liệu thống kê trong những năm vừa qua Doanh nghiệp vừa và nhỏ đã đóng góp từ 23 – 26% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) cả nước. Ngoài ra, Doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam còn cung cấp hầu hết sản phẩm cho nhiều ngành công nghiệp truyền thống thu hút nhiều lao động như mây tre đan, thủ công mỹ nghệ, giầy dép,… Việc mở rộng và phát triển các Doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ góp phần không nhỏ trong việc làm tăng GDP.
- Thứ hai, các Doanh nghiệp vừa và nhỏ thu hút vốn và khai thác các nguồn lực sẵn có trong dân cư.
Vốn đầu tư là một yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất. Vốn là yếu tố cơ bản để khai thác và phối hợp các yếu tố sản xuất khác như lao động, đất đai, công nghệ và quản lý để tạo ra lợi nhuận cho các chủ doanh nghiệp. Vốn có vai trò to lớn trong việc đầu tư trang thiết bị, cải tiến công nghệ, đào tạo nghề, nâng cao trình độ tay nghề cho công nhân cũng như trình độ quản lý của chủ doanh nghiệp. Tuy nhiên, một nghịch lý hiện nay là trong khi có nhiều doanh nghiệp đang thiếu vốn trầm trọng thì vốn nhàn rỗi trong dân cư còn nhiều nhưng không huy động được. Khi chính sách tín dụng của Chính phủ và các ngân hàng chưa thực sự gây được niềm tin đối với những người có vốn nhàn rỗi trong các tầng lớp dân cư thì nhiều Doanh nghiệp vừa và nhỏ đã tiếp xúc trực tiếp với người dân và huy động được vốn để kinh doanh, hoặc bản thân chính người có tiền đứng ra đầu tư kinh doanh, thành lập doanh nghiệp. Dưới khía cạnh đó, Doanh nghiệp vừa và nhỏ có vai trò to lớn trong việc huy động vốn để phát triển kinh tế. Khóa luận: Chính sách tài chính tiền tệ với sự phát triển của DN.
- Thứ ba, các Doanh nghiệp vừa và nhỏ góp phần làm tăng chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Việc phát triển các Doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ dẫn đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo tất cả các khía cạnh vùng kinh tế, ngành kinh tế và thành phần kinh tế. Điều này đặc biệt có ý nghĩa quan trọng đối với vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa. Khi các doanh nghiệp tiến hành thành lập doanh nghiệp tại những khu vực này sẽ góp phần làm giảm tỷ trọng nông nghiệp và tăng tỷ trọng ngành công nghiệp và dịch vụ đồng thời góp phần tạo công ăn việc làm, giảm bớt chênh lệch thu nhập giữa các vùng dân cư. Khi các Doanh nghiệp vừa và nhỏ ra đời ngày càng nhiều và cùng với sự lớn mạnh của khối doanh nghiệp này thì buộc các thành phần kinh tế khác phải củng cố lại, kinh doanh có hiệu quả hơn nhằm đứng vững trên thị trường. Hơn nữa việc các Doanh nghiệp vừa và nhỏ kinh doanh trên nhiều lĩnh vực sẽ góp phần đa dạng hóa ngành nghề đẩy mạnh phát triển cơ cấu ngành.
- Thứ tư, các Doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ góp phần làm cho nền kinh tế phát triển ổn định và hiệu quả hơn.
Do đặc thù của loại hình doanh nghiệp này là khá linh hoạt, nhạy cảm trước những biến động của thị trường nên có ưu thế hơn trong việc chuyển hướng sang những ngành nghề kinh doanh đem lại lợi nhuận cao hơn. Mặt khác sự ra đời của những Doanh nghiệp vừa và nhỏ này cũng làm tăng tính cạnh tranh trong nền kinh tế. Việc thành lập và hoạt động của doanh nghiệp này sẽ làm giảm độc quyền, buộc các doanh nghiệp khác cùng phải cạnh tranh mới có thể tồn tại và phát triển được. Trước áp lực cạnh tranh gay gắt những doanh nghiệp nào yếu kém sẽ bị đào thải hoặc buộc phải liên kết với các doanh nghiệp khác. Về cơ bản điều này luôn đòi hỏi các doanh nghiệp phải tiến hành đổi mới, tăng năng suất, nâng cao chất lượng sản phẩm đồng thời hạ giá thành sản phẩm.
- Thứ năm, các Doanh nghiệp vừa và nhỏ tích cực đóng góp vào ngân sách Nhà nước.
Khuyến khích và định hướng Doanh nghiệp vừa và nhỏ phát triển sẽ làm tăng tỷ lệ đóng góp vào ngân sách Nhà nước. Ngân sách nhà nước có ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế và xã hội. Thông qua việc hình thành và sử dụng ngân sách nhà nước, Nhà nước điều chỉnh phân bố các nguồn lực kinh tế, xây dựng kết cấu hạ tầng, bảo đảm công bằng trong phân phối và thực hịên các chức năng của mình. Khóa luận: Chính sách tài chính tiền tệ với sự phát triển của DN.
- Thứ sáu, Doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ là cơ sở hình thành các doanh nghiệp lớn.
Sự lớn mạnh của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ về quy mô và chất lượng sẽ hình thành nên những doanh nghiệp lớn, các tập đoàn kinh tế toàn cầu. Một số nước cũng đã minh chứng điều này, cụ thể là Nhật Bản. Ngay cả những tập đoàn hàng đầu của Nhật Bản ban đầu cũng chỉ là công ty nhỏ kinh doanh một lĩnh vực nhất định, sau nhờ xây dựng chiến lược phát triển riêng vμ có sự hậu thuẫn của Chính phủ, các công ty này vươn mình ra thế giới, giúp Nhật Bản trở thành một siêu cường kinh tế. Ngoài ra, với số lượng doanh nghiệp tham gia thị trường lớn, điều kịên gia nhập dễ dàng, đơn giản thì ngày càng có nhiều doanh nghiệp ra đời hơn. Bên cạnh đó những doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả sẽ sát nhập cùng nhau trở thành doanh nghiệp lớn để tồn tại và phát triển. Với quy mô lớn hơn, các doanh nghiệp lớn có nhiều cơ hội hơn trong việc tiếp cận thị trường mới do lợi thế về vốn, nhân lực….
3.2. Về khía cạnh xã hội
- Tạo việc làm cho người lao động, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp.
Hàng năm Việt Nam có khoảng 1,4 triệu người gia nhập vào lực lượng lao động. Vì vậy, bài toán tạo công ăn việc làm trở thành vấn đề nhức nhối của các cơ quan ban ngành. Sự ra đời và phát triển của Doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ góp phần thu hút lực lượng lao động nhàn rỗi tham gia vμo quá trình sản xuất. Các Doanh nghiệp vừa và nhỏ đã tạo ra nhiều công ăn việc làm mới với tốc độ tăng trưởng cao. Nếu không kể hộ kinh doanh cá thể thì khu vực Doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm 7% lực lượng lao động trong các ngành kinh tế, hay 20% lực lượng lao động phi nông nghiệp, hoặc 82.5% số lao động trong khu vực doanh nghiệp. Nếu kể cả hộ kinh doanh cá thể thì khu vực Doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm khoảng 19% lực lượng lao động làm việc trong tất cả các ngành kinh tế.
Trong gần bốn năm qua ước tính các Doanh nghiệp vừa và nhỏ, hộ kinh doanh cá thể mới thành lập đã tạo khoảng 1,6 đến 2 triệu chỗ làm việc mới, đưa tổng số lao động làm việc trong các doanh nghiệp là 1.845.200 người, xấp xỉ bằng tổng số lao động làm việc trong các doanh nghiệp Nhà nước. Điều này xuất phát từ đặc điểm của các doanh nghiệp là ít vốn vμ hoạt động chủ yếu trong các ngành sử dụng nhiều lao động. Với quy mô nhỏ, chi phí tạo ra một chỗ làm việc thấp nên các Doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam đang đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra và tăng thêm việc làm cho nền kinh tế, góp phần làm giảm tỷ lệ thất nghiệp và tăng cường ổn định xã hội. Khóa luận: Chính sách tài chính tiền tệ với sự phát triển của DN.
Các cá nhân sau khi tham gia hoạt động sản xuất tại các doanh nghiệp nμy lại có cơ hội nâng cao tay nghề, nghiệp vụ được học tập thông qua các chương trình đào tạo của doanh nghiệp. Rõ ràng các doanh nghiệp này không chỉ thu hút lao động mà từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ nhân công. Vấn đề này ngày càng được Nhà nước quan tâm vì việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực sẽ đáp ứng được nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, đưa nền kinh tế Việt Nam lên một vị thế mới.
- Nâng cao thu nhập của dân cư, góp phần xóa đói giảm nghèo, thực hiện công bằng xã hội
Khi một bộ phận dân cư có công ăn việc làm, đồng nghĩa với việc người dân có thu nhập phục vụ cuộc sống mưu sinh hàng ngày, Chính quyền địa phương sẽ bớt gánh nặng xã hội trong việc trợ cấp. Dân cư có công ăn việc làm ổn định sẽ hạn chế nảy sinh những tệ nạn xã hội, góp phần xây dựng một lối sống văn hoá lành mạnh. Hơn thế nữa, việc phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở khu vực thành thị cũng như nông thôn sẽ góp phần làm giảm chênh lệch giữa các bộ phận dân cư, giảm khoảng cách giμu nghèo trong xã hội. Tăng thu nhập dân cư ngoài việc nâng cao mức sống dân cư mà còn làm cho cuộc sống bớt rủi ro hơn, nhất là vùng có những điều kịên tự nhiên khó khăn, chịu ảnh hưởng lớn của thiên tai.
- Tạo điều kiện phát triển các tài năng kinh doanh
Việc khuyến khích sự ra đời các Doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ thúc đẩy những cá nhân có ý tưởng kinh doanh tốt tham gia vμo thương trường. Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt, điều này sẽ hình thành, phát triển đội ngũ các nhà kinh doanh năng động. Các cá nhân này được thử thách, chọn lọc qua thực tế sẽ là những gương mặt điển hình, xuất sắc trong quản lý các Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Đây là lực lượng cần thiết để góp phần thúc đẩy hoạt động sản xuất, kinh doanh ở Việt Nam phát triển.
II. CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH, TIỀN TỆ CỦA CHÍNH PHỦ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA Doanh nghiệp vừa và nhỏ Khóa luận: Chính sách tài chính tiền tệ với sự phát triển của DN.
Chính sách tài chính, tiền tệ là công cụ của chính sách kinh tế vĩ mô, hay nói rộng ra, công cụ của chính sách kinh tế vĩ mô bao gồm chính sách tài chính, chính sách tiền tệ, chính sách thu nhập, và chính sách kinh tế đối ngoại, giúp việc điều hành hoạt động kinh tế tầm vĩ mô. Chính sách tài chính, tiền tệ được coi là chính sách của chính sách, một bộ phận của chính sách lại là hệ thống của nhiều chính sách khác nhau. Hai chính sách này tồn tại độc lập và bổ sung hỗ trợ cho nhau. Chính sách tài chính, tiền tệ tác động nhiều tới đời sống xã hội và hoạt động kinh tế của quốc gia, chúng thường được Chính phủ các nước phát triển sử dụng nhằm đạt được các mục tiêu về tăng trưởng sản lượng, việc làm và ổn định giá cả. Vào thời kỳ bị hoặc có dấu hiệu suy thoái, tăng trưởng chậm, thất nghiệp cao, năng lực vốn dư thừa… thì Chính phủ sẽ thực hiện biện pháp giảm lãi suất, mở rộng tín dụng ngân hàng, giảm thuế suất và tăng chi tiêu của Chính phủ, từ đó mở rộng chi tiêu và khuyến khích tăng trưởng. Ngược lại, khi có lạm phát cao thì Chính phủ các nước phát triển lại thường tăng lãi suất, thu hẹp tín dụng ngân hàng, đặt thuế suất cao hơn, giảm chi tiêu Chính phủ và thậm chí, còn khống chế tiền lương và giá, nhằm giảm tổng chi tiêu.
Chính sách tài chính, tiền tệ là một trong những công cụ quan trọng để Chính phủ tiến hành điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Bản chất của các chính sách này là việc Chính phủ sử dụng 2 công cụ quan trọng là công cụ tài chính và công cụ tiền tệ để khuyến khích hoặc hạn chế đầu tư từ các tầng lớp dân cư và các tổ chức trong xã hội nhằm tạo ra của cải ngày càng nhiều cho xã hội. Trong nền kinh tế thị trường, chính sách tài chính, tiền tệ là trung tâm của hệ thống chính sách. Do đó, chính sách này có tác động mạnh mẽ và quyết định đối với sự phát triển khu vực kinh tế ngoài quốc doanh nói riêng và các Doanh nghiệp vừa và nhỏ nói chung.
1. Chính sách tài chính Khóa luận: Chính sách tài chính tiền tệ với sự phát triển của DN.
Hiện nay trên các phương tiện thông tin, thuật ngữ chính sách tài chính được sử dụng với nội dung không thống nhất. Có trường hợp chính sách tài chính được sử dụng như là chính sách tài khóa (Fiscal Policy), nhưng cũng có trường hợp chính sách tài chính được quan niệm bao hàm cả chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ, chính sách tỷ giá… mang ý nghĩa là chính sách tài chính quốc gia (Financial Policy).
Để tránh nhầm lẫn và phù hợp với phạm vi nghiên cứu của đề tài, thuật ngữ chính sách tài chính được đề cập đến là chính sách tài chính theo nghĩa hẹp – nghĩa là, chính sách tài khóa. Với việc giới hạn nội dung của thuật ngữ như vậy, chính sách tài chính được hiểu là chính sách liên quan đến những điều chỉnh trong các hoạt động thu – chi ngân sách nhà nước, cơ cấu của thu chi ngân sách và quan hệ giữa chúng với nhau nhằm hướng nền kinh tế tới mục tiêu kinh tế vĩ mô mong muốn.
Các công cụ chủ yếu của chính sách tài chính là chi tiêu cho tiêu dùng và đầu tư của Chính phủ; các loại thuế trực thu, gián thu và các khoản thu khác – trong đó thu ngân sách chủ yếu là thu từ thuế; và các khoản chuyển nhượng (chuyển khoản).
Chính sách tài chính chủ yếu và trực tiếp gây nên những biến đổi ở thị trường hàng hóa – về mặt ngắn hạn. Thông qua những điều chỉnh ngân sách cả về phía nguồn thu, nguồn chi lẫn cơ cấu của cả nguồn thu – chi ngân sách, chính sách tài chính đã tác động làm thay đổi tổng cầu (AD) của nền kinh tế, làm thay đổi những điều kiện cân bằng của thị trường hàng hóa, do đó đã làm thay đổi mức giá cả, việc làm, sản lượng của nền kinh tế, hướng nền kinh tế tới mục tiêu mong muốn. Do chủ yếu chỉ tác động đến tổng cầu của nền kinh tế nên chính sách tài chính chỉ chủ yếu gây nên những biến đổi về mặt ngắn hạn của nền kinh tế, tuy nhiên nó cũng có thể gây nên những ảnh hưởng cả về trung và dài hạn. Thông qua chính sách thuế, chính sách tài chính có thể gián tiếp tác động đến đầu tư bằng cách tác động đến các hoạt động tập trung – thu hút vốn, thay đổi các nguồn và các luồng vốn đầu tư, đối tượng và môi trường đầu tư… Hoặc, sự hoạt động của chính sách tài chính có thể gián tiếp tác động đến thị trường tiền tệ, làm thay đổi tổng mức cầu tiền do đó có thể làm thay đổi mặt bằng lãi suất – tác động không nhỏ đến hoạt động đầu tư… Và như vậy, chính sách tài chính có thể tác động làm thay đổi các yếu tố đầu vào của sản xuất, làm thay đổi giới hạn khả năng sản xuất của nền kinh tế… Khóa luận: Chính sách tài chính tiền tệ với sự phát triển của DN.
Về phía nguồn thu, chính sách tài chính chủ yếu được phản ánh ở chính sách thuế và các chính sách thu khác (thu về bán và cho thuê các tài sản thuộc sở hữu của Nhà nước, thu lợi tức cổ phần của Nhà nước…) để đảm bảo nguồn thu của ngân sách Nhà nước và các mục tiêu điều tiết nền kinh tế thông qua chính sách thu ngân sách. Khác với các công cụ thu khác, thuế có 2 đặc trưng nổi bật: Thứ nhất, đó là khoản thu có tính bắt buộc, cưỡng chế không phải tự nguyện; thứ hai, người ta nộp thuế không nhằm mục đích để có được một khoản bồi hoàn nào đó từ phía Nhà nước mà là vì nghĩa vụ, mặc dù điều đó không có nghĩa là người nộp thuế không thu đựơc lợi ích gì từ những họat động của Nhà nước. Bên cạnh những tác động có vẻ “tiêu cực” như làm giảm thu nhập khả dụng của nền kinh tế thì thuế còn có chức năng vô cùng quan trọng là điều tiết vĩ mô nền đối với nền kinh tế, nó không chỉ hạn chế sức mua của người đóng thuế nhằm dành những nguồn lực đó cho Nhà nước, phân bổ lại thu nhập giữa các tầng lớp dân cư… mà còn là công cụ đắc lực để điều phối các nguồn và luồng đầu tư sao cho hiệu quả, gián tiếp tác động cơ cấu lại sản xuất.
Phân loại theo tính chất, thuế được chia thành 2 loại:
- Thuế trực thu: là loại thuế đánh trực tiếp vào người nộp thuế, người nộp thuế cũng là người chịu thuế. Ví dụ: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân.
- Thuế gián thu: là loại thuế đánh vào người tiêu dùng thông qua giá cả hàng hóa và dịch vụ, nghĩa là người nộp thuế không phải là người chịu thuế. Ví dụ: thuế giá trị gia tăng (VAT), thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất nhập khẩu.
Chi ngân sách bao gồm hai bộ phận cơ bản: chi tiêu của Chính phủ (G) và các khoản chuyển nhượng (TR) trong đó thông thường ở nhiều nước G chiếm tỷ trọng rất cao khoảng từ 60 đến hơn 80%. Trong cơ cấu của G thường bao gồm các khoản chi chủ yếu sau: Chi sản xuất hàng hóa công cộng, ví dụ như: xây dựng trường học, bệnh viện, đê đập, kè cống, đường sắt; Chi lương cho công chức của Chính phủ; Chi cho An ninh – Quốc phòng.
Trong thực tế chi ngân sách thường được thể hiện ở nhiều cơ cấu khác nữa như: hoặc là bao gồm chi tích lũy, chi tiêu dùng và chi khác, hoặc là bao gồm chi xây dựng cơ bản, chi trả nợ, chi thường xuyên, chi đầu tư phát triển v.v… việc phân chia chi ngân sách thành những cơ cấu khác nhau đó phụ thuộc vào những nhiệm vụ KT-XH nhất định tương ứng với những điều kiện hoàn cảnh cụ thể của nền kinh tế và phù hợp với thông lệ quốc tế.
Nhìn chung, để phân tích đánh giá tình hình hoạt động cũng như hiệu quả tác động của chính sách tài chính đối với nền kinh tế thì cần thiết phải đánh giá ảnh hưởng của thu ngân sách, chi ngân sách, quan hệ giữa thu chi ngân sách. Ngoài ra, cơ cấu của nguồn thu và chi ngân sách cũng như những điều kiện hoàn cảnh đặc biệt có thể được coi như là tiêu chuẩn cơ bản, được ưu tiên hàng đầu khi đánh giá tình hình hoạt động của chính sách tài chính.
2. Chính sách tiền tệ Khóa luận: Chính sách tài chính tiền tệ với sự phát triển của DN.
Chính sách tiền tệ, với tư cách là một bộ phận của chính sách kinh tế, là tổng thể các biện pháp của Nhà nước nhằm mục đích cung ứng những phương tiện thanh toán cần thiết và tạo dựng những khuôn khổ tiền tệ cho các mối quan hệ kinh tế của nền kinh tế nhằm những mục tiêu cơ bản như: ổn định một cách tương đối giá trị của bản tệ góp phần tạo ra mức công ăn việc làm cao hiệu quả, ổn định tỷ giá hối đoái, cân bằng cán cân thanh toán, tăng trưởng kinh tế ổn định…
Kinh tế thị trường về thực chất là một nền kinh tế tiền tệ. ở đó, bao giờ chính sách tiền tệ cũng là một trong những công cụ quản lý kinh tế vĩ mô quan trọng nhất của Nhà nước, bên cạnh chính sách tài khóa, chính sách phân phối thu nhập, chính sách kinh tế đối ngoại…
Trong một quãng thời gian nhất định nào đó, chính sách tiền tệ của một quốc gia có thể được hoạch định theo một trong hai hướng sau:
- Chính sách tiền tệ mở rộng, nhằm tăng lượng tiền cung ứng, khuyến khích đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, tạo việc làm. Trường hợp này, chính sách tiền tệ nhằm chống suy thoái kinh tế, chống thất nghiệp.
- Chính sách tiền tệ thắt chặt nhằm giảm lượng tiền cung ứng, hạn chế đầu tư, kìm hãm sự phát triển quá đà của nền kinh tế. Trường hợp này, chính sách tiền tệ nhằm chống lạm phát. Khóa luận: Chính sách tài chính tiền tệ với sự phát triển của DN.
Để thực thi được chính sách tiền tệ sao cho có hiệu quả thì phổ biến hiện nay các lý thuyết kinh tế đều cho rằng chính sách tiền tệ có các công cụ cơ bản sau: dự trữ bắt buộc, chính sách tái chiết khấu và nghiệp vụ thị trường mở. Ngoài ra, ngân hàng trung ương ở một số quốc gia còn bổ sung thêm chính sách can thiệp trên thị trường hối đoái.
Dự trữ bắt buộc là công cụ của ngân hàng trung ương để khống chế khả năng tạo tiền của các tổ chức tín dụng do đó điều tiết mức cung tiền, lãi suất của nền kinh tế – thực thi chính sách tiền tệ. Thông thường, các tổ chức tín dụng (ngân hàng thương mại, quỹ tín dụng, công ty bảo hiểm…) căn cứ vào quy định của ngân hàng trung ương mà phải trích gửi vào tài khoản riêng tại ngân hàng trung ương một bộ phận tiền theo một tỷ lệ nhất định trên tổng số tiền huy động được, và thường là không được hưởng lãi. Do quy định này mà ngân hàng thương mại không thể kinh doanh (cho vay, đầu tư…) được toàn bộ số tiền huy động được – khả năng kinh doanh bị hạn chế thì lợi nhuận cũng bị giảm. Khả năng cho vay càng bị giảm hơn nữa nếu tỷ lệ dự trữ bắt buộc càng tăng và do vậy khối lượng tín dụng kèm theo đó là khả năng tạo tiền của các ngân hàng thương mại cũng giảm, và ngược lại. Không chỉ vậy, với việc phân biệt chi tiết tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với từng loại tiền gửi khác nhau, dự trữ bắt buộc còn có tác dụng giữ khả năng thanh toán cho các tổ chức tín dụng, tránh rủi ro cho người gửi tiền. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc có ảnh hưởng rất nhanh, mạnh đến thị trường tiền tệ và do đó đến nền kinh tế, vì vậy nó thường đựơc cố định lại – “đóng băng”. Mặc dù vậy, để công cụ dự trữ bắt buộc tác động hiệu quả và linh hoạt hơn thì ở nhiều nước có những quy định linh hoạt về đối tượng phải nộp dự trữ – chẳng hạn, đó là tiền mặt, số dư trái phiếu hay tín phiếu kho bạc… Chính sách tái chiết khấu. Với tư cách là người thực hiện phương sách cho vay cuối cùng đối với các tổ chức tín dụng. thông qua việc tái cấp vốn mà ngân hàng trung ương có thể điều tiết được tổng cung bằng cả hai công cụ: khối lượng tín dụng tái cấp vốn và lãi suất tái cấp vốn, theo nguyên tắc chỉ cho vay ngắn hạn dưới hình thức cho vay tái chiết khấu hoặc cầm cố có giá. Như vậy lãi suất tái chiết khấu được quy định chung cho tất cả các tổ chức tín dụng và được coi là lãi suất chỉ đạo đối với mặt bằng lãi suất trên thị trường tiền tệ. Khi ngân hàng trung ương nâng lãi suất tái chiết khấu nghĩa là tín dụng tái chiết khấu “đắt lên” do đó đã hạn chế cầu, buộc các tổ chức tín dụng phải nâng lãi suất chiết khấu của mình lên để đảm bảo lợi nhuận kinh doanh ngân hàng – kết quả cầu tiền tệ và tín dụng của nền kinh tế có xu hướng giảm… và ngược lại, để kích thích tăng trưởng kinh tế thì ngân hàng trung ương sẽ hạ lãi suất để mở rộng tín dụng. Tuy nhiên, ảnh hưởng của lãi suất chiết khấu có thể còn lớn hơn vì nó còn có thể tác động tới những tính toán của các doanh nghiệp; nó còn có thể ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới lãi suất cho vay ngắn hạn khác, điều đó có thể làm thay đổi giá chứng khoán… Tóm lại, những thay đổi về lãi suất chiết khấu là một phương tiện quan trọng để tác động đến lạm phát và suy thoái. Khóa luận: Chính sách tài chính tiền tệ với sự phát triển của DN.
Nghiệp vụ thị trường mở: là phương pháp điều tiết linh hoạt, can thiệp một cách êm ả vào thị trường tiền tệ mà không gây nên những đột biến, xáo trộn lớn. Với tư cách là chủ thể chủ động của thị trường tiền tệ, ở nghiệp vụ thị trường mở ngân hàng trung ương bán ra hoặc mua vào một lượng nhất định những loại giấy có giá do mình tự lựa chọn ở những mức giá cả nhất định, linh hoạt qua đó ngân hàng trung ương thực hiện việc hút tiền về hoặc bơm tiền vào lưu thông.
3. Vai trò của chính sách tài chính, tiền tệ của Chính phủ trong việc thúc đẩy sự phát triển của Doanh nghiệp vừa và nhỏ
3.1. Sự cần thiết khuyến khích và định hướng của Nhà nước đối với sự phát triển của Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trước hết, việc thực hiện các biện pháp hỗ trợ Doanh nghiệp vừa và nhỏ xuất phát từ vai trò cũng như những đóng góp của Doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế quốc dân. Đồng thời điều nμy cũng thể hiện vai trò quản lý của Nhà nước trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế. Khuyến khích và định hướng phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ là yêu cầu của nền kinh tế nhiều thành phần. Phát triển kinh tế đồng nghĩa với việc khai thác, sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực của đất nước. Với chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần, không phân biệt doanh nghiệp trong nước hay nước ngoài, Nhà nước hay tư nhân, quy mô lớn hay nhỏ sẽ là động lực để giải phóng sức sản xuất, khai thác mọi tiềm năng vốn có của đất nước, huy động sức người, sức của vào công cuộc dựng xây đất nước. Mặt khác chính sách này góp phần đa dạng hoá loại hình đầu tư, đa dạng hoá doanh nghiệp giúp cho những người kinh doanh dễ dàng hơn trong việc thành lập phát triển công ty, tạo đà cho sự tăng trưởng của nền kinh tế. Trong một môi trường phát triển thuận lợi như vậy, doanh nghiệp cũng có điều kiện hơn để định hình và vươn lên. Đặc biệt là đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ do nhu cầu vốn ít, dễ thích ứng với môi trường sẽ càng thuận lợi trong việc tiến hành kinh doanh. Một khi loại hình doanh nghiệp này phát triển mạnh mẽ sẽ tạo nền tảng hình thành các doanh nghiệp có quy mô lớn, đứng vững trên thị trường trong và ngoài nước. Khóa luận: Chính sách tài chính tiền tệ với sự phát triển của DN.
Khuyến khích và định hướng cũng là yêu cầu đối với sự phát triển của Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Các Doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tới 96% tổng số doanh nghiệp trên cả nước. Lực lượng đông đảo nhưng thực tế năng lực cạnh tranh thấp, vốn ít, trình độ nhân lực hạn chế, phải chịu áp lực cạnh tranh từ các doanh nghiệp lớn trong nước cũng như các doanh nghiệp nước ngoài. Phát triển đội ngũ doanh nghiệp này lớn mạnh và trưởng thành sẽ là hạt nhân cho sự tăng trưởng của nền kinh tế. Tuy nhiên để Doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể đứng vững trên thị trường thì cần có sự hỗ trợ từ phía Nhà nước. Nhà nước đóng vai trò trong việc khuyến khích và định hướng doanh nghiệp theo yêu cầu khách quan của nền kinh tế. Mỗi giai đoạn phát triển của nền kinh tế cần có những định hướng và chiến lược phát triển khác nhau. Vai trò của Nhà nước trong việc đưa ra cơ chế hỗ trợ một mặt sẽ thúc đẩy được sự lớn mạnh của Doanh nghiệp vừa và nhỏ, mặt khác sẽ thực hiện được mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội.
Khuyến khích và định hướng là yêu cầu cần thiết trong việc quản lý của Nhà nước đối với sự phát triển của Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Mọi nền kinh tế đều cần có bàn tay hữu hình của Nhà nước. Tuy nhiên sự can thiệp của Nhà nước ở mức độ và theo cách thức như thế nào lại tuỳ thuộc vào chính sách, chiến lược phát triển kinh tế của đất nước. Nhìn chung xu thế hiện nay trên thế giới là giảm sự can thiệp, hỗ trợ trực tiếp của Nhà nước, tăng cường những biện pháp gián tiếp qua đó định hướng và khuyến khích doanh nghiệp phát triển nhằm đạt được những mục tiêu đã đề ra. Cơ chế hỗ trợ phải đảm bảo môi trường kinh doanh thuận lợi, bình đẳng đồng thời sử dụng công cụ quản lý vĩ mô nền kinh tế nhằm hướng dẫn, điều tiết và kiểm soát hoạt động của của doanh nghiệp. Việc thực hiện các biện pháp hỗ trợ cũng phải đảm bảo phù hợp với thông lệ quốc tế một khi Việt Nam hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới.
Thứ hai, Doanh nghiệp vừa và nhỏ là một bộ phận cấu thành nền kinh tế, không thể tách rời đối với sự phát triển của nền kinh tế. Nếu để một bộ phận phát triển không hoàn chỉnh hoặc lệch lạc sẽ dẫn đến sự mất cân đối trong mục tiêu phát triển kinh tế. Sự can thiệp của Nhà nước sẽ là chất xúc tác để bôi trơn, vận hành cỗ máy kinh tế của đất nước được thuận lợi. Là một bộ phận của nền kinh tế, Doanh nghiệp vừa và nhỏ sẽ phải phát huy lợi thế vốn có của nó để đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước. Thế nhưng với những hạn chế như đã nêu ở phần trên, khối doanh nghiệp này sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc gia nhập thị trường cũng như đững vững và lớn mạnh trong bối cảnh Việt Nam hòa nhập vào nền kinh tế thế giới. Điều này đòi hỏi cần phải có sự can thiệp từ phía Nhà nước để hỗ trợ, khuyến khích định hướng doanh nghiệp đi theo những mục tiêu đề ra.
Chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước đã được thể hiện trong các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc. Cụ thể trong văn kiện Đại hội lần thứ VI có nêu: “Nhà nước và xã hội khuyến khích các doanh nghiệp ngoài quốc doanh hoạt động có hiệu quả và hợp pháp”. Đây được coi là bước đệm cho sự phát triển của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh đặc biệt là cho các Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 7 khoá VII cũng có nêu: “Phát triển các loại hình doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ với công nghệ tiên tiến, vốn đầu tư ít, sinh lời cao, thời gian thu hồi vốn nhanh”. Với chủ trương này một lần nữa đã khẳng định sự quan tâm của Nhà nước tới loại hình doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ. Đến năm 2013, Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII khẳng định: “Trong phát triển mới, ưu tiên quy mô vừa và nhỏ, công nghệ tiên tiến, tạo nhiều việc làm, thu hồi vốn nhanh; đồng thời xây dựng một số công trình quy mô lớn thật cần thiết và hiệu quả”. Và trong văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX cũng đã nêu bật: “Chú trọng phát triển các Doanh nghiệp vừa và nhỏ; việc xây dựng một số tập đoμn doanh nghiệp lớn cần thiết có hiệu quả đi đầu trong cạnh tranh và hiện đại hoá.”. Như vậy, quan điểm phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ của Nhà nước ta là phải hài hoà thống nhất với các loại hình doanh nghiệp khác. Mỗi loại hình doanh nghiệp đều được đưa ra đường lối phát triển riêng, cụ thể song đều nhằm đạt được sự ổn định xã hội và tạo thế vững chắc cho sự phát triển kinh tế.
Trong hệ thống các công cụ tài chính, tiền tệ của Chính phủ có ảnh hưởng trực tiếp tới việc khuyến khích và định hướng phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ thì hiện nay chính sách thuế và tín dụng là 2 nhân tố thường được sử dụng và có hiệu lực rất to lớn. Trong điều kiện thời gian và phạm vi nghiên cứu có hạn, tác giả xin tập trung phân tích, đánh giá tác động của 2 chính sách này trong hệ thống các công cụ tài chính của Chính phủ đối với sự phát triển của Doanh nghiệp vừa và nhỏ.
- Vai trò của các công cụ này được thể hiện trong nội dung chủ yếu sau: Khóa luận: Chính sách tài chính tiền tệ với sự phát triển của DN.
3.2. Chính sách thuế trong việc khuyến khích và định hướng phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Thuế là một hình thức phân phối được Nhà nước sử dụng để động viên một phần thu nhập của các pháp nhân và thế nhân trong xã hội, là khoản đóng góp mang tính chất pháp lệnh mà Nhà nước bắt buộc các pháp nhân và thế nhân phải nộp cho Nhà nước. Thuế là công cụ tài chính của Nhà nước, nó không chỉ đóng vai trò là công cụ động viên nguồn tài chính cho Nhà nước, là công cụ điều hòa thu nhập góp phần thực hiện công bằng xã hội mà quan trọng hơn nữa thuế là công cụ điều chỉnh vĩ mô đối với các hoạt động kinh tế xã hội. Vai trò điều tiết vĩ mô của thuế được thể hiện ở những nội dug chủ yếu sau:
- Thông qua thuế Nhà nước có thể chủ động điều chỉnh việc tiêu dùng và đầu tư trong nền kinh tế.
Thuế có tác động trực tiếp đến giá cả, thu nhập của hộ gia đình và doanh nghiệp, từ đó tác động đến cung, cầu hàng hóa trên thị trường. Do vậy, bằng việc tăng hay giảm thuế Nhà nước có thể kích thích hay hạn chế tiêu dùng và đầu tư trong nền kinh tế theo định hướng đã đề ra.
Thông qua việc quy định thuế suất và điều kiện miễn, giảm thuế Nhà nước có thể thực hiện việc phân phối các nguồn lực trong xã hội, thực hiện viêc điều chỉnh cơ cấu kinh tế.
Mỗi sắc thuế khi ban hành Nhà nước phải xem xét yêu cầu về kinh tế, chính trị, xã hội, từ đó cân nhắc để xác định thuế suất, điều kiện ưu đãi thuế. Việc quy định các mức thuế suất khác nhau, cũng như việc quy định ưu đãi thuế đối với việc đầu tư vào những ngành, những vùng lãnh thổ nhất định đã khiến cho thuế mang trong nó yếu tố điều chỉnh tự động trong việc phân bổ các nguồn lực xã hội và chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo mong muốn của Nhà nước. Người kinh doanh sẽ tự rời bỏ khỏi các ngành có thuế suất quá cao và sẽ tập trung đầu tư nhiều hơn vào các ngành, các địa bàn có ưu đãi về thuế.
Thuế còn là một công cụ của Nhà nước để bảo hộ hợp lý sản xuất trong các nước đang phát triển. Khi mà những ngành sản xuất mới còn non trẻ chưa đủ sức cạnh tranh với hàng hóa của nước ngoài, Nhà nước sử dụng hàng rào thuế quan hoặc thực hiện việc đánh thuế tiêu thụ cao vào những hàng hóa nhập ngoại để bảo vệ những ngành sản xuất trong nước và nhờ đó Doanh nghiệp vừa và nhỏ có điều kiện hơn để phát triển. Khóa luận: Chính sách tài chính tiền tệ với sự phát triển của DN.
Với vai trò là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế thuế là phương tiện quan trọng và hiệu quả trong việc khuyến khích và định hướng đầu tư cũng như phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Việc khuyến khích và định hướng bằng công cụ thuế chủ yếu được thực hiện qua hệ thống ưu đãi về thuế. Hệ thống này được Nhà nước xác lập phù hợp với chính sách kinh tế của Nhà nước, phục vụ các nhiệm vụ kinh tế và gắn với các mục tiêu ưu tiên được hình thành trong các kế hoạch và chương trình phát triển kinh tế.
Trong hệ thống ưu đãi thuế của mỗi nước, thường bao gồm nhiều hình thức ưu đãi khác nhau. Tuy vậy, có thể thấy những hình thức ưu đãi quan trọng nhất và thường được sử dụng là miễn, giảm thuế và hoãn thuế thông qua hình thức cho phép doanh nghiệp khấu hao nhanh tài sản cố định.
- Miễn thuế và giảm thuế.
Hình thức cơ bản trong việc ưu đãi về thuế là thực hiện miễn, giảm thuế. Có nhiều hình thức miễn, giảm thuế khác nhau, nội dung cơ bản là làm tăng khả năng thu lợi nhuận từ đầu tư trong những lĩnh vực, những vùng hay loại hình doanh nghiệp mà Nhà nước nhận thấy có lợi cho quốc kế dân sinh cần phải thúc đẩy đầu tư.
Về nguyên tắc, để khuyến khích đầu tư, nhà nước có thể sử dụng thuế trực thu và gián thu. Nhưng việc sử dụng thuế trực thu mà đối với doanh nghiệp là thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) có tác động trực tiếp đến nhà đầu tư. Động cơ thúc đẩy người ta bỏ vốn là lợi nhuận. Thuế Thu nhập doanh nghiệp là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận ròng mà người đầu tư có thể thu được. Vì vậy, thuế Thu nhập doanh nghiệp quá cao sẽ làm nản lòng các nhà đầu tư. Hiện nay ở nhiều nước có xu hướng thực hiện chính sách giảm thuế để kích thích đầu tư. Khóa luận: Chính sách tài chính tiền tệ với sự phát triển của DN.
Mặt khác, với sự dẫn dắt của cơ chế thị trường người đầu tư sẽ tập trung bỏ vốn vào những lĩnh vực, ngành đưa lại lợi nhuận cao. Trong khi đó, trên thực tế có những lĩnh vực hoạt động của thị trường còn yếu ớt hoặc không hoàn hảo, cũng như có những vùng của đất nước mà điều kiện tự nhiên lẫn kinh tế, xã hội còn nhiều khó khăn. Nếu không có sự định hướng của Nhà nước thì vốn đầu tư chỉ tập trung vào một số lĩnh vực, một số vùng có nhiều thuận lợi, sẽ tạo ra tình trạng mất cân đối về cơ cấu kinh tế và sự chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế, xã hội giữa các vùng trong một đất nước. Do đó, nhà nước phải dành một số khuyến khích, ưu đãi cho các nhà đầu tư vào các lĩnh vực, các vùng có nhiều khó khăn. Một trong những ưu đãi tạo được động lực hấp dẫn người có vốn đầu tư trực tiếp là thực hiện miễn, giảm thuế. Với sự ưu đãi đó sẽ giảm bớt được rủi ro hoặc nâng cao khả năng tăng lợi nhuận cho người đầu tư từ đó kích thích thu hút nhiều người bỏ vốn đầu tư mà trước hết là kích thích được sự phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ nói riêng.
- Khấu hao nhanh tài sản cố định – Một hình thức hoãn thuế
Một trong những hình thức được coi là ưu đãi thuế đối với doanh nghiệp mà nhiều nước áp dụng là Nhà nước cho phép doanh nghiệp thực hiện phương pháp khấu hao nhanh tài sản cố định.
Xem xét trên góc độ tài chính doanh nghiệp thì việc Nhà nước cho phép khấu hao nhanh tài sản cố định đưa lại cho doanh nghiệp hai điểm lợi chủ yếu:
Thứ nhất là doanh nghiệp có thể thu hồi nhanh vốn cố định, hạn chế được tổn thất về hao mòn vô hình do sự tiến bộ của khoa học và công nghệ. Khóa luận: Chính sách tài chính tiền tệ với sự phát triển của DN.
Thứ hai là khấu hao nhanh được coi như là một hình thức Nhà nước cho phép doanh nghiệp hoãn nợ một phần thuế lợi tức để tăng nhanh việc tích tụ vốn tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp đổi mới thiết bị, công nghệ nhanh hơn.
Nếu đứng trên tổng thể và dài hạn để xem xét thì về mặt lý thuyết việc khấu hao nhanh hay khấu hao bình thường theo phương pháp tuyến tính (khấu hao bình quân theo năm) không làm thay đổi tổng số thuế lợi tức mà doanh nghiệp phải nộp trong một thời kỳ. Khi thực hiện khấu hao nhanh thì số tiền khấu hao tài sản cố định tập trung phần lớn ở những năm đầu và giảm đi ở những năm sau, trong khi đó, số thuế Thu nhập doanh nghiệp doanh nghiệp phải nộp ở những năm đầu sẽ thấp hơn so với cách tính thuế theo phương pháp khấu hao thông thường, nhưng phải nộp nhiều hơn ở những năm sau. Tuy vậy, với phương pháp khấu hao nhanh, số thuế lợi tức doanh nghiệp phải nộp ở những năm đầu là ít hơn so với theo phương pháp khấu hao bình thường. Số chênh lệch nộp ít hơn đó được coi như Nhà nước đã cho phép doanh nghiệp nộp chậm lại vào những năm sau và nhờ đó doanh nghiệp tập trung được số tiền khấu hao lớn hơn ngay từ những năm đầu để sử dụng trở lại cho sản xuất kinh doanh. Hơn nữa, trên quan điểm xem xét mối quan hệ giữa giá trị và thời gian cho thấy, đồng vốn có giá trị về mặt thời gian. Điều đó có nghĩa là: một đồng vốn hôm nay nhận được có giá trị cao hơn một đồng vốn nhận được tại một thời điểm trong tương lai, từ đó giá trị hiện tại của các đồng vốn nhận được càng sát thời điểm hiện tại thì giá trị của nó càng cao hơn. Do vậy, việc Nhà nước cho phép khấu hao nhanh càng có lợi cho doanh nghiệp và là một cách hoãn nộp một phần thuế lợi tức cho doanh nghiệp. Đối với các Doanh nghiệp vừa và nhỏ điều đó càng có ý nghĩa quan trọng hơn, bởi vì khả năng tài chính của doanh nghiệp rất hạn hẹp, việc hoãn thuế lợi tức tạo cho doanh nghiệp tập trung thêm được vốn cho hoạt động kinh doanh.
3.3. Chính sách tín dụng trong việc khuyến khích và định hướng phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Tín dụng là một phạm trù kinh tế thể hiện các quan hệ sử dụng vốn lẫn nhau trong xã hội. Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, tín dụng ngày càng phát triển và đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Tín dụng cũng là một công cụ quan trọng của Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Nhà nước thông qua chính sách tiền tệ – tín dụng mà trung tâm là chính sách lãi suất để điều chỉnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư và kích thích tăng trưởng kinh tế.
Lãi suất là giá cả mà người đi vay phải trả cho người cho vay để đựơc quyền sử dụng tiền trong một thời gian nhất định. Lãi suất là một trong những vấn đề trung tâm của nền kinh tế, nó tác động mạnh mẽ đến các hoạt động trong đời sống kinh tế – xã hội đến tiết kiệm và đầu tư. Lãi suất thể hiện chi phí của việc sử dụng vốn vay nên nó chi phối đến chi phí đầu tư và do vậy, lãi suất tín dụng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định đầu tư và tổng mức cầu về đầu tư trong nền kinh tế. Khi lãi suất thấp, người đầu tư sẽ thu lại lợi nhuận ròng cao hơn từ đầu tư hay nói cách khác đi tỷ lệ sinh lời của các dự án đầu tư tăng lên. Và vì vậy, nhiều dự án đâu tư sẽ được thực hiện làm cho mức cầu về đầu tư trong nền kinh tế tăng lên. Đó là một yếu tố chủ yếu dẫn đến tăng trưởng kinh tế. Chính vì thế, việc áp dụng một chính sách lãi suất thấp được coi như đầu mối của quá trình thúc đẩy đầu tư và tăng trưởng kinh tế. Khóa luận: Chính sách tài chính tiền tệ với sự phát triển của DN.
Với vai trò là một công cụ điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế, tín dụng cũng là một công cụ quan trọng, có hiệu quả của Nhà nước để khuyến khích và định hướng sự phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Việc sử dụng công cụ này được thực hiện thông qua nhiều biện pháp khác nhau, nhưng có thể tập trung ở các phương thức chủ yếu sau:
- Tín dụng ưu đãi
Tín dụng ưu đãi là một biện pháp quan trọng trong việc sử dụng công cụ tín dụng để khuyến khích và định hướng phát triển Doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Trong tín dụng ưu đãi, Nhà nước là người chủ yếu cấp tín dụng cho các Doanh nghiệp vừa và nhỏ với mức lãi suất thấp.
Tín dụng ưu đãi có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy và hướng dẫn sự phát triển đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Vai trò đó được thể hiện ở chỗ:
- Thứ nhất là tăng cường khả năng tài chính cho Doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Hạn chế lớn nhất của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ là vốn ít, từ đó hạn chế đến việc trang bị máy móc, thiết bị và công nghệ tiên tiến đồng thời cũng rất khó khăn trong việc mở rộng hoạt động kinh doanh. Với tín dụng ưu đãi đã tăng thêm vốn kinh doanh cho doanh nghiệp. Khi Chính phủ cho vay vốn với lãi suất thấp trên thực tế là đã thực hiện một khoản trợ cấp tài chính cho doanh nghiệp. Mặt khác, cho vay vốn với lãi suất thấp được xem như một cách giảm chi phí đầu tư, nâng cao khả năng thu lợi nhuận cho doanh nghiệp. Khóa luận: Chính sách tài chính tiền tệ với sự phát triển của DN.
- Thứ hai là thúc đẩy các doanh nghiệp đầu tư thực hiện các mục tiêu ưu tiên về kinh tế – xã hội theo định hướng Nhà nước đề ra.
Việc cho vay ưu đãi được gắn liền những mục tiêu khuyến khích đối với các lĩnh vực, ngành nghề, khu vực nhất định, như tín dụng ưu đãi cho đổi mới thiết bị công nghệ, tín dụng ưu đãi cho xuất khẩu, tín dụng ưu đãi đầu tư vào vùng khó khăn v.v…
Như vậy, cùng với việc cấp tín dụng ưu đãi Nhà nước đã thực hiện định hướng phát triển đối với doanh nghiệp. ở đây cũng cần làm sáng tỏ thêm vấn đề: phải chăng việc cấp tín dụng ưu đãi trong kinh tế thị trường cũng giống như bao cấp vốn qua tín dụng cho doanh nghiệp trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung. Tác giả cho rằng, tín dụng ưu đãi trong kinh tế thị trường khác hẳn với việc bao cấp vốn cho doanh nghiệp qua tín dụng ngân hàng trước đây. Bởi lẽ:
Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, ngân hàng cho các doanh nghiệp vay vốn với mức lãi suất rất thấp, có tính chất bình quân tràn lan, ít chú ý đến hiệu quả kinh tế, chủ yếu theo kiểu mệnh lệnh hành chính để các doanh nghiệp hoàn thành được các chỉ tiêu pháp lệnh.
Tín dụng ưu đãi trong kinh tế thị trường thực hiện gắn với những mục tiêu kinh tế – xã hội nhất định theo những chương trình cụ thể. Mặt khác, tín dụng ưu đãi chỉ cấp cho doanh nghiệp có khả năng thực hiện có kết quả đầu tư và theo tiến độ thực hiện đầu tư. Tín dụng ưu đãi được sử dụng như một đòn bẩy kinh tế kích thích thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp.
Nguồn vốn cấp tín dụng ưu đãi cho Doanh nghiệp vừa và nhỏ chủ yếu là phần vốn từ ngân sách Nhà nước và vốn góp của tổ chức tài chính tín dụng trong nước và có thể có sự đóng góp trợ giúp của các tổ chức tài chính nước ngoài và tổ chức tài chính quốc tế; và được hình thành dưới hình thức quỹ hỗ trợ đầu tư gắn với chương trình đầu tư theo mục tiêu nhất định và thường được sử dụng cho vay trung hạn và dài hạn với lãi suất ưu đãi. Để tiến hành và quản lý các loại quỹ hỗ trợ đầu tư ở những nước mà quỹ có quy mô lớn đã thiết lập các tổ chức tài chính của Chính phủ chuyên cung cấp sự trợ giúp tín dụng cho các Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Khóa luận: Chính sách tài chính tiền tệ với sự phát triển của DN.
Xem xét tín dụng ưu đãi cho thấy, có sự khác nhau giữa lãi suất tín dụng ngân hàng và tín dụng ưu đãi. Lãi suất tín dụng ngân hàng được hình thành trên thị trường tùy thuộc chủ yếu vào cung và cầu vốn trên thị trường. Lãi suất ưu đãi chủ yếu do Chính phủ quyết định dựa trên cơ sở các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội, nó không phụ thuộc vào thị trường nhưng không vì thế nó hoàn toàn tách biệt với lãi suất thị trường.
- Hỗ trợ vốn thông qua quỹ bảo lãnh tín dụng.
Các ngân hàng thường hạn chế cho các Doanh nghiệp vừa và nhỏ vay vốn do nghi ngờ về khả năng thanh toán của các doanh nghiệp này đồng thời cũng đòi hỏi doanh nghiệp phải có tài sản thế chấp. Nhiều Doanh nghiệp vừa và nhỏ gặp nhiều khó khăn do sau một thời gian hoạt động, họ có nhu cầu vay vốn để mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng lại không có tμi sản thế chấp, hoặc không đủ tμi sản thế chấp để đảm bảo khả năng thanh toán cho các ngân hμng nμy.
Mô hình này đòi hỏi Nhà nước đứng ra thành lập quỹ bảo lãnh tín dụng cho Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Quỹ hoạt động với tư cách là một tổ chức tài chính của Chính phủ. Nguồn vốn của quỹ có thể huy động từ ngân sách Nhà nước, từ tài trợ đóng góp của các tổ chức tài chính, tổ chức tín dụng trong nước. Quỹ bảo lãnh tín dụng đảm bảo các khoản vay không cần có tài sản thế chấp. Khi một doanh nghiệp có phương án đầu tư khả thi, doanh nghiệp có thể yêu cầu quỹ bảo lãnh tín dụng xin được bảo lãnh tín dụng cho khoản vay. Sau khi xem xét, nếu quỹ bảo lãnh tín dụng chấp nhận thì quỹ này sẽ là bên thứ ba đứng ra bảo lãnh, cam kết với người cho vay sẽ bảo đảm thanh toán nợ khi doanh nghiệp vay vốn nhưng không thể thực hiện được nghĩa vụ trả nợ theo thời gian cam kết. Doanh nghiệp được bảo lãnh tín dụng sẽ phải nộp một khoản phí bảo đảm cho quỹ tín dụng. Tuỳ theo quy mô của quỹ và mức độ ưu tiên để xác định phạm vi bảo lãnh và giới hạn khối lượng tín dụng bảo lãnh của Quỹ.
Với mô hình này, doanh nghiệp sẽ được khơi thông nguồn vốn, tăng khả năng vay vốn. Nhà nước có thể chia sẻ những rủi ro với người cho vay, khuyến khích ngân hàng, các tổ chức tín dụng mở rộng việc cung cấp tín dụng cho các Doanh nghiệp vừa và nhỏ. Bởi luôn đứng đằng sau là Nhà nước, là người sẽ đảm bảo rủi ro trong trường hợp doanh nghiệp không có khả năng thanh toán. Khóa luận: Chính sách tài chính tiền tệ với sự phát triển của DN.
- Hình thức tín dụng thuê mua
Đây là hình thức tín dụng trung hạn và dài hạn thông qua việc cho thuê tài sản. Bên cho thuê cho thuê tài sản và nắm quyền sở hữu tài sản đối với tài sản cho thuê. Bên thuê sử dụng tài sản thuê và thanh toán tiền thuê trong suốt thời hạn thuê đã được hai bên thoả thuận và không được huỷ bỏ hợp đồng trước thời hạn. Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được chuyển quyền sở hữu, mua lại hoặc tiếp tục thuê tài sản đi theo các điều kiện đã thoả thuận trong hoạt động thuê.
Đặc điểm của hình thức này là ngưòi thuê là người chọn lựa tài sản cần thiết cho thuê. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, người cho thuê nắm quyền sở hữu tài sản và người thuê được quyền sử dụng tài sản. Cả hai bên không được quyền huỷ bỏ hợp đồng. Hình thức này có tính an toàn cao hơn. Đối với Doanh nghiệp vừa và nhỏ thì đây được coi là hình thức cung cấp vốn thích hợp và hiệu quả: cung cấp vốn trung và dài hạn; đổi mới trang thiết bị máy móc; cải thiện tình hình tài chính vì doanh nghiệp không phải ghi tăng thêm nợ vào bảng tổng kết tài sản do đó mà hệ số nợ giữ thấp, doanh nghiệp vẫn có thể tiếp tục vay vốn từ các nguồn khác để mở rộng hoạt động kinh doanh.
- Nhà nước hay các hiệp hội đóng vai trò là trung gian để các doanh nghiệp có thể tiếp cận được nguồn vốn từ các ngân hàng thương mại. Khóa luận: Chính sách tài chính tiền tệ với sự phát triển của DN.
Để vay được vốn các doanh nghiệp ngoài việc cần có một dự án khả thi còn phải cần có tài sản thế chấp để đảm bảo khả năng thanh toán. Thông thường Doanh nghiệp vừa và nhỏ rất khó tiếp cận được các nguồn vốn từ các ngân hàng thương mại do cách đánh giá dự án giữa ngân hàng và doanh nghiệp không đồng nhất, có những cách phân tích khác nhau.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Thực trạng tài chính tiền tệ với sự phát triển của DN
