Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Hoạt động các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài tại Việt Nam và thách thức đối với doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Kể từ khi Việt Nam chưa chính thức mở cửa thị trường bảo hiểm thì các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài đã chuẩn bị sẵn cho mình kế hoạch để chờ đến thời khắc mở cửa chính thức. Vì vậy, ngay sau khi Việt Nam mở cửa thị trường bảo hiểm, hàng loạt doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài đã ồ ạt vào Việt Nam. Điều đáng lưu ý là những doanh nghiệp này không chỉ “tấn công” vào thị trường, mà còn tấn công cả các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước. Từ đây một môi trường cạnh tranh sôi động, nhưng cũng khắc nghiệt đang diễn ra, các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài đang khẳng định được nhiều lợi thế vượt trội so với các doanh nghiệp trong nước.
Trước năm 2009 ở Việt Nam chỉ tồn tại duy nhất Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt) vừa tiến hành hoạt động kinh doanh bảo hiểm, vừa thực hiện chức năng quản lý nhà nước. Sau năm 2009, thực hiện chính sách mở cửa thị trường, ngành bảo hiểm Việt Nam đã có những bước phát triển mới cả về số lượng lẫn chất lượng phục vụ khách hàng, song vẫn còn rất non yếu. Vậy, các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam sẽ phải làm gì để có thể cạnh tranh với các hãng bảo hiểm lớn, có kinh nghiệm lâu năm và tiền lực tài chính vững mạnh trên thế giới?
Xuất phát từ bối cảnh các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam còn non trẻ, việc đánh giá hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài tại Việt Nam, phân tích những thách thức mà các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam đang và sẽ phải đối mặt, cũng như cơ hội có thể tiếp nhận để từ đó tìm ra được một số giải pháp nhằm giúp các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam vượt qua thách thức là một yêu cầu tất yếu về mặt lý luận và thực tiễn. Đó là lý do vì sao vấn đề này được tác giả lựa chọn làm đề tài của Luận văn Thạc sỹ kinh tế.
2. Tình hình nghiên cứu:
Bảo hiểm là một dịch vụ tài chính đóng vai trò rất quan trọng đối với sự ổn định của nền kinh tế quốc dân và đời sống xã hội. Đây là một lĩnh vực tuy không mới đối với thế giới, song với một thị trường còn non trẻ và đang rất ngỡ ngàng trước tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế như Việt Nam thì bảo hiểm vẫn là một lĩnh vực mới và khá hấp dẫn. Cho đến nay, đã có nhiều người nghiên cứu về hoạt động kinh doanh bảo hiểm và tái bảo hiểm song những đề tài này tập trung đi sâu vào từng nghiệp vụ kinh doanh cụ thể. Có thể nói đề tài Hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài tại Việt Nam vẫn còn là một vấn đề mở, đòi hỏi phải có những nghiên cứu sâu hơn, bao quát hơn để tìm ra giải pháp cho các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam chủ động hội nhập.
3. Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở phân tích và đánh giá một cách khách quan thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài tại Việt Nam, luận văn sẽ tổng hợp những thách thức và cơ hội của doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam. Liệu đứng trước những trở ngại và khó khăn trong khi tiềm lực còn chưa đủ mạnh thì các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam sẽ phải làm gì để tồn tại và phát triển? Chính vì vậy trong Luận văn này, tác giả xin đề xuất một số giải pháp cụ thể hơn để phát triển các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam trong bối cảnh hội nhập.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Nghiên cứu hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài ở Việt Nam trong thời gian qua.
- Tìm hiểu những thách thức và cơ hội phát triển cho các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam trước cơ hội và thách thức trong bối cảnh hội nhập.
5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu: Khóa luận: Hoạt động các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài.
5.1 Đối tượng nghiên cứu:
Xuất phát từ mục đích nghiên cứu của đề tài, luận văn tập trung phân tích thực trạng hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài tại Việt nam, tìm ra cơ hội, thách thức đối với các doanh nghiệp bảo hiểm của Việt Nam để đưa ra được những giải pháp phát triển các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam.
5.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Căn cứ vào yêu cầu của đề tài, tác giả sẽ nghiên cứu thực trạng hoạt động các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài tại Việt Nam.
- Hoạt động bảo hiểm được đề cập ở đây là bảo hiểm mang tính thương mại, chứ không phải bảo hiểm mang tính xã hội như bảo hiểm xã hội hay bảo hiểm y tế bắt buộc đang được thực hiện tại Việt Nam.
6. Phương pháp nghiên cứu:
Khi nghiên cứu đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích – tổng hợp
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp so sánh
7. Kết cấu của luận văn:
Kết cấu của luận văn ngoài phần mở đầu, phần kết luận gồm 3 chương sau:
- Chương I: Bảo hiểm Việt Nam và những cam kết hội nhập quốc tế của Việt Nam trong lĩnh vực bảo hiểm
- Chương II: Hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài tại Việt Nam và những thách thức đối với doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam
- Chương III: Một số giải pháp cho các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam nhằm vượt qua thách thức
Đề tài được tiến hành trong điều kiện công tác thống kê của toàn ngành chưa hoàn thiện, việc trao đổi và cập nhật thông tin giữa các cơ quan quản lý bảo hiểm, hiệp hội bảo hiểm còn nhiều hạn chế, bởi vậy luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự thông cảm và nhiệt tình đóng góp của thầy, cô và bạn bè.
Tôi xin chân thành cảm ơn khoa Sau Đại học, các thầy, cô là giảng viên cho lớp Cao học 14 trường Đại học Ngoại Thương, Hà Nội đã nhiệt tình giảng dạy, truyền bá những kiến thức quý báu, sâu rộng giúp tôi có nền tảng khoa học khi thực hiện đề tài nghiên cứu này. Tôi xin gửi lời cảm ơn và tỏ lòng biết ơn đặc biệt tới PGS.TS Nguyễn Như Tiến, người thầy đã tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện đề tài này. Khóa luận: Hoạt động các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài.
CHƯƠNG 1: BẢO HIỂM VIỆT NAM VÀ NHỮNG CAM KẾT HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM TRONG LĨNH VỰC BẢO HIỂM
1.1 Vài nét về thị trường bảo hiểm Việt Nam
1.1.1 Quá trình ra đời và phát triển của thị trường bảo hiểm Việt Nam
Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20 bảo hiểm đã xuất hiện ở Việt Nam nhưng dưới hình thức đại lý bảo hiểm của nước ngoài. Hầu hết những luật lệ, quy định về bảo hiểm trong giai đoạn này là của Pháp. Đến năm 1964, do yêu cầu cấp bách trong việc thực hiện các biện pháp cấp thiết để đảm bảo an toàn cho con người, tài sản, và các phương tiện vận tải trong hoàn cảnh chiến tranh, ngày 17/12/1964 Chính phủ quyết định thành lập Công ty bảo hiểm Việt Nam (nay là Tổng Công ty bảo hiểm Việt Nam). Với hơn 40 năm hình thành và phát triển, có thể nói thị trường bảo hiểm Việt Nam có thể chia thành ba giai đoạn như sau:
- Giai đoạn 1965 – 1986
Trong giai đoạn này, trên thị trường chỉ có duy nhất một công ty bảo hiểm của Nhà nước hoạt động, đó là Công ty bảo hiểm Việt Nam. Bên cạnh chức năng độc quyền là cung cấp các dịch vụ bảo hiểm cho thị trường nội địa, Công ty bảo hiểm Việt Nam còn giữ vai trò quản lý Nhà nước và điều hành hoạt động của thị trường bảo hiểm trong nước. Sản phẩm bảo hiểm trong giai đoạn này hết sức nghèo nàn. Tuy có đủ 3 loại hình bảo hiểm là bảo hiểm tai nạn, bảo hiểm trách nhiệm dân sự và bảo hiểm con người nhưng số lượng nghiệp vụ và sản phẩm không nhiều.
- Giai đoạn 1987 – 2010
Cùng với tác động của công cuộc đổi mới kinh tế, Công ty bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt) cũng chuyển hướng hoạt động của mình cho phù hợp hơn với cơ chế thị trường. Tuy nhiên, trong thời gian này, Bảo Việt vẫn nắm giữ vai trò độc quyền trên thị trường bảo hiểm Việt Nam. Số lượng nghiệp vụ và sản phẩm bảo hiểm trong giai đoạn này khoảng trên 30 loại hình. Năm 1989, Bảo Việt được Nhà nước chuyển đổi thành Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam với các công ty bảo hiểm trực thuộc ở tất cả các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Khóa luận: Hoạt động các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài.
- Giai đoạn 2010 đến nay
Vào năm 2010, khi Chính phủ quyết định mở cửa thị trường bảo hiểm bằng việc cho phép các công ty bảo hiểm khác được ra đời, vai trò độc quyền của Bảo Việt chấm dứt. Theo đánh của Bộ Tài chính thì vào thời điểm đó , Bảo Việt mới chỉ đáp ứng được từ 10-15% nhu cầu thị trường. Sau năm 2010, một loạt công ty bảo hiểm trong nước được thành lập. Các khách hàng chủ yếu của thị trường bảo hiểm trong giai đoạn này vẫn là các doanh nghiệp quốc doanh lớn như Tổng Công ty hàng không Việt Nam, Petro Việt Nam, Tổng Công ty than Bên cạnh đó, hệ thống các liên doanh giữa doanh nghiệp Việt
Nam và nước ngoài cũng là những khách hàng quan trọng của thị trường bảo hiểm. Theo các quy định của Chính phủ về kinh doanh bảo hiểm và luật đầu tư nước ngoài, tất cả các dự án đầu tư nước ngoài đều phải tiến hành bảo hiểm tài sản và trách nhiệm dân sự tại các công ty bảo hiểm được phép hoạt động ở Việt Nam. Trước đó, chưa có các chế tài bắt buộc nên có rất ít các dự án đầu tư nước ngoài mua bảo hiểm ở Việt Nam. Các quy định này đã làm cho thị trường bảo hiểm Việt Nam sôi động hơn. Thị trường bảo hiểm Việt Nam đã thực sự được hình thành và có bước phát triển nhanh chóng. Theo ước tính, tốc độ tăng trưởng bình quân của thị trường này là 30-40%/năm.
Năm 2012, lần đầu tiên Bộ Tài Chính cho phép Bảo Việt được bán các sản phẩm nhân thọ. Đây là một bước lớn thể hiện nỗ lực của Chính phủ Việt Nam trong việc đa dạng hoá các sản phẩm trên thị trường bảo hiểm, cũng như trong việc tối đa hoá tiềm năng của thị trường này. Nếu như doanh thu phí bảo hiểm nhân thọ chỉ chiếm 10% tổng phí bảo hiểm trên cả thị trường vào năm 2014, thì đến năm 2024, tỷ trọng đã là 48%. Trong giai đoạn tiếp theo, thị trường bảo hiểm nhân thọ sẽ vẫn là nhân tố chủ đạo cho mục tiêu tăng trưởng vượt bậc của thị trường bảo hiểm Việt Nam.
Ngày 9/7/2015, Thủ tướng Chính phủ đã quyết định thành lập Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam. Mục đích của Hiệp hội là “đại diện và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của hội viên, liên kết, hỗ trợ, hợp tác, thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển lành mạnh trong thị trưởng bảo hiểm Việt Nam trong khuôn khổ pháp luật Việt Nam”. Tuy nhiên sau khi chính thức đi vào hoạt động, vai trò của Hiệp hội mới chỉ dừng lại ở mức độ hạn chế. Tình trạng không tôn trọng cam kết trong Hiệp hội vẫn thường xuyên xảy ra, điều này làm cho liên kết giữa các doanh nghiệp trong Hiệp hội càng trở nên yếu ớt.[13]
Tháng 12 năm 2016, Quốc hội đã phê chuẩn Luật Kinh doanh bảo hiểm và bắt đầu có hiệu lực thi hành từ ngày 1/4/2017. Vậy là sau 40 năm ra đời và hoạt động, ngành bảo hiểm Việt Nam đã có văn bản pháp lý cao nhất của riêng mình và đây cũng chính là việc tạo điều kiện cho ngành bảo hiểm Việt Nam nhanh chóng hoà nhập với thị trường bảo hiểm khu vực và thế giới.
Như vậy, với một chặng đường phát triển tương đối ngắn, thời gian hoạt động theo cơ chế thị trường chưa dài nhưng thị trường bảo hiểm Việt Nam đã có bước phát triển về chất và lượng, với một hệ thống khung pháp lý khá hoàn thiện, tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ của thị trường sản phẩm cả về số lượng sản phẩm và doanh thu phí, có thể nói thị trường bảo hiểm Việt Nam đã có những bước phát triển đáng ngạc nhiên, bước vào giai đoạn phát triển mới – hội nhập kinh tế quốc tế.
1.1.2 Môi trường pháp lý cho hoạt động kinh doanh bảo hiểm Khóa luận: Hoạt động các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài.
Phát triển thị trường dịch vụ tài chính nói chung và thị trường bảo hiểm nói riêng luôn là một trong những ưu tiên hàng đầu của Chính phủ Việt Nam. Để có được một thị trường bảo hiểm phát triển lành mạnh, việc hình thành khung pháp lý điều tiết thị trường có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Trong những năm qua, Chính phủ luôn quan tâm và khuyến khích phát triển thị trường bảo hiểm, thể hiện qua việc tạo ra một hành lang pháp lý dần được hoàn thiện để tạo điều kiện tốt hơn, giúp các doanh nghiệp bảo hiểm tiến hành hoạt động kinh doanh và phát triển.
Sau một thời gian dài không phân định rõ chức năng quản lý Nhà nước và kinh doanh bảo hiểm trên thị trường, việc Chính phủ ban hành Nghị định 100/CP ngày 18/12/2009 về kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam có thể nói đã thiết lập được khung pháp lý cơ bản đầu tiên để điều tiết quá trình vận hành thị trường bảo hiểm Việt Nam. Tuy nhiên, khung pháp lý điều chỉnh thị trường này chỉ thực sự phát triển với việc lần đầu tiên Luật Kinh doanh bảo hiểm được Quốc hội chính thức thông qua vào ngày 9/12/2016. Đặc biệt, Chính phủ còn xây dựng “Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm Việt Nam từ năm 2019 đến năm 2026” thể hiện qua Quyết định số 175/2019/QĐ-TTg ngày 29/8/2019. Điều này có ý nghĩa hết sức to lớn đối với sự phát triển của toàn ngành bảo hiểm trong những năm tiếp theo an toàn, hiệu quả và sẵn sàng hội nhập. Để thực hiện chiến lược này, hàng loạt văn bản, chế độ mới đã được khẩn trương xây dựng và ban hành theo đúng kế hoạch đã đề ra. Cùng với việc xây dựng cơ chế chính sách mới, việc tiếp tục hoàn thiện những văn bản đã ban hành nhằm cải thiện môi trường kinh doanh, tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm theo các nguyên tắc và chuẩn mực quốc tế cũng được quan tâm, thể hiện qua việc ban hành các văn bản sau:
- Nghị định 45/2023/NĐ-CP, Nghị định 46/2023/NĐ-CP ngày 27/3/2023 (thay thế Nghị định số 42/2017/NĐ-CP, Nghị định số 43/2017/NĐ-CP). Khóa luận: Hoạt động các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài.
- Thông tư 155/2023/TT-BTC, Thông tư 156/2023/TT-BTC ngày 20/12/2023 (thay thế Thông tư 98/2020/TT-BTC, Thông tư 99/2020/TT-BTC ngày 19/10/2020).
- Quyết định 96/2023/QĐ-BTC của Bộ Tài chính ngày 23/11/2023 Ban hành Quy chế triển khai sản phẩm bảo hiểm liên kết đơn vị.
- Quyết định 23/2023/QĐ-BTC của Bộ Tài chính ngày 9/4/2023 Ban hành Quy tắc biểu phí BHBB TNDS chủ xe cơ giới.
- Quyết định 28/2023/QĐ-BTC ngày 24/4/2023 ban hành Quy tắc biểu phí bảo hiểm cháy nổ bắt buộc.
- Nghị định 103/2024/NĐ-CP ngày 16/9/2024 về chế độ bảo hiểm bắt buộc TNDS chủ xe cơ giới.
- Nghị định 118/2019/NĐ-CP ngày 13/10/2019 về xử phạt hành chính trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
Nghị định 45/2023/NĐ-CP, Nghị định 46/2023/NĐ-CP ngày 27/3/2023, Thông tư 155/2023/TT-BTC, Thông tư 156/2023/TT-BTC ngày 20/12/2023 đã tạo ra được rào cản kỹ thuật để sàng lọc các Doanh nghiệp bảo hiểm muốn được thành lập và hoạt động như tăng vốn pháp định từ 70 tỷ đồng lên 300 tỷ đồng đối với doanh nghiệp phi nhân thọ, 140 tỷ đồng lên 600 tỷ đồng đối với doanh nghiệp nhân thọ, tổ chức nước ngoài đứng ra thành lập doanh nghiệp bảo hiểm phải có trên 10 năm hoạt động kinh doanh bảo hiểm và tổng tài sản trên 2 tỷ USD, quy định về năng lực quản lý và chuyên môn cho các chức danh Chủ tịch và ủy viên Hội đồng quản trị, Giám đốc và Phó Giám đốc Chi nhánh, điều kiện mở thêm chi nhánh và phòng kinh doanh.
Tiến tới năm 2026 sửa đổi Luật kinh doanh bảo hiểm phù hợp với tiêu chuẩn, chuẩn mực quản lý và tổ chức hoạt động kinh doanh bảo hiểm và bảo vệ quyền lợi khách hàng ngày một tốt hơn. [1]
Bên cạnh đó, để đáp ứng nhu cầu mới phát sinh trong thực tiễn, tránh thất thoát, lãng phí trong xây dựng cơ bản, Bộ Tài chính đã ban hành các quy tắc, điều khoản, biểu phí bảo hiểm xây dựng, lắp đặt áp dụng đối với các công trình sử dụng vốn có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước.
Có thể thấy rằng, công tác xây dựng chế độ chính sách trong lĩnh vực bảo hiểm đã đi đúng hướng, đảm bảo tính khả thi và phù hợp với điều kiện thực tế của thị trường. Cơ chế chính sách đã từng bước được công khai, minh bạch hoá tạo ra một môi trường pháp lý phù hợp nhằm phát triển một thị trường bảo hiểm toàn diện, an toàn, lành mạnh nhằm đáp ứng nhu cầu bảo hiểm cơ bản của nền kinh tế và dân cư, đảm bảo cho các tổ chức, cá nhân được thụ hưởng những sản phẩm bảo hiểm đạt tiêu chuẩn quốc tế; thu hút các nguồn lực trong nước và nước ngoài cho đầu tư phát triển kinh tế – xã hội; nâng cao năng lực tài chính, kinh doanh của các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh bảo hiểm; đáp ứng yêu cầu cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế.
1.1.3 Quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm Khóa luận: Hoạt động các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài.
Từ tháng 6/2008, Bộ Tài chính đã tách chức năng quản lý Nhà nước và chức năng kinh doanh của Tổng Công ty bảo hiểm Việt Nam và thành lập một Phòng quản lý Nhà nước về kinh doanh bảo hiểm thuộc Vụ Tài chính Ngân hàng, tham mưu cho Bộ Tài chính trong công tác quản lý Nhà nước về hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Đến năm 2019, do sự phát triển nhanh chóng của thị trường bảo hiểm Việt Nam trong cơ chế mở cửa, Phòng quản lý bảo hiểm đã được tách ra trở thành Vụ bảo hiểm. Như vậy, việc quản lý về bảo hiểm đã được chuyên môn hoá với tầm quản lý vĩ mô cao hơn rất nhiều so với trước đây. Từ đây, thị trường bảo hiểm Việt Nam đã có điều kiện để phát triển mạnh. Vụ bảo hiểm là cơ quan quản lý trực tiếp của Nhà nước về lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm; tiếp nhận cấp, thu hồi giấy phép kinh doanh bảo hiểm…. Vụ quản lý bảo hiểm chính là cơ quan giám sát các doanh nghiệp bảo hiểm; phê chuẩn, ban hành, xác nhận hoàn tất thủ tục đăng ký quy tắc, điều khoản, biểu phí, hoa hồng của các nghiệp vụ bảo hiểm cụ thể.
Nhận thức rõ sự cần thiết khách quan của việc duy trì một thị trường bảo hiểm phát triển lành mạnh, an toàn và bền vững, trong thời gian qua Bộ Tài chính đã chú trọng công tác quản lý, giám sát các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm cả về số lượng và chất lượng, cả chiều rộng lẫn chiều sâu. Mạnh dạn đổi mới phương thức quản lý trên cơ sở hạn chế sự can thiệp hành chính vào hoạt động của doanh nghiệp, kết hợp giữa kiểm tra tại chỗ và giám sát từ xa, sử dụng các công cụ phân tích tài chính – kinh doanh, hệ thống các chỉ tiêu đánh giá kết quả hoạt động và phần mềm quản lý, đồng thời nâng cao tính tự giác và tự chịu trách nhiệm của các doanh nghiệp. Cơ quan chức năng không tuỳ tiện can thiệp vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, trừ các vấn đề quyết định đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp. Quan hệ giữa các cơ quan quản lý và doanh nghiệp dựa trên tinh thần hợp tác và xây dựng. Thông qua các hoạt động của mình, cơ quan quản lý bảo hiểm đã kịp thời phát hiện kiên quyết xử lý và chấn chỉnh những biểu hiện lệch lạc như cạnh tranh không lành mạnh, trục lợi không tuân thủ các yêu cầu tài chính… làm ảnh hưởng đến quyền lợi chính đáng của người tham gia bảo hiểm. Bên cạnh đó công tác tuyên truyền, hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện nhiều chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước tiếp tục được quan tâm, thực hiện có kết quả và hướng đến nhiều đối tượng khác nhau, thông qua nhiều hình thức thiết thực, phong phú, sinh động như báo chí, đài phát thanh, hội thảo….Qua đó, góp phần xử lý kịp thời các yêu cầu mới phát sinh, đảm bảo thị trường phát triển ổn định và nâng cao nhận thức của người dân về kinh doanh bảo hiểm và quản lý Nhà nước đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
Đặc biệt, được sự đồng ý của Chính phủ và Bộ Tài chính, ngày 9/7/2015, Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam đã được thành lập với chức năng đại diện cho tiếng nói và quyền lợi của các doanh nghiệp bảo hiểm trước các cơ quan nhà nước có thẩm quyền và công chúng. Việc thành lập Hiệp hội đã góp phần hỗ trợ cho công tác quản lý Nhà nước được hiệu quả hơn.
1.2 Thực trạng hoạt động kinh doanh bảo hiểm ở Việt Nam Khóa luận: Hoạt động các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài.
1.2.1 Cơ cấu và quy mô thị trường bảo hiểm
Trong những năm vừa qua, thị trường bảo hiểm Việt Nam đã có những bước phát triển nhanh chóng cả về chất và lượng, đánh dấu bước phát triển căn bản từ một thị trường độc quyền nhà nước sang một thị trường khá hoàn chỉnh theo cơ chế thị trường với sự tham gia của đủ mọi thành phần kinh tế (nhà nước, cổ phần, liên doanh, 100% vốn nước ngoài) hoạt động trong khu vực kinh doanh bảo hiểm. Năm 2024, thị trường có thêm 9 doanh nghiệp được cấp phép mới, nâng tổng số doanh nghiệp lên 49 doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia hoạt động kinh doanh bảo hiểm bao gồm 2 doanh nghiệp Nhà nước, 23 công ty cổ phần, 4 doanh nghiệp liên doanh và 20 doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài.[2]
- BẢNG 1.1: SỐ LƯỢNG CÁC DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM THEO KHỐI DOANH NGHIỆP NĂM 2024
Bên cạnh đó, sự góp mặt của 42 văn phòng đại diện của các tổ chức bảo hiểm nước ngoài tại Việt Nam cũng góp phần cải thiện môi trường đầu tư và tăng lòng tin của các nhà đầu tư nước ngoài khi đến làm ăn tại Việt Nam.
Thị trường bảo hiểm tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao so với tăng trưởng GDP, doanh thu toàn ngành đạt 27.668 tỷ đồng, tăng 15,45% so với năm 2023 trong đó doanh thu phí bảo hiểm đạt 21.253 tỷ đồng, doanh thu đầu tư đạt 6.799 tỷ đồng. Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, vai trò, vị trí của các doanh nghiệp bảo hiểm trong nước tiếp tục được củng cố và tăng cường, chiếm 64,97% tổng doanh thu phí bảo hiểm.
- BẢNG 1.2: DOANH THU PHÍ BẢO HIỂM VÀ THỊ PHẦN THEO KHỐI DOANH NGHIỆP NĂM 2023 – 2024
1.2.2 Hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ Khóa luận: Hoạt động các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài.
Bảo hiểm Phi nhân thọ đạt doanh thu 10.950 tỷ VND tăng 33,33% so với năm 2023. Thị phần doanh thu phí bảo hiểm tiếp tục tập trung vào các doanh nghiệp lớn hoạt động trên thị trường, dẫn đầu là Bảo hiểm Bảo Việt 3.320 tỷ VND, tiếp đó là PVI 2.020 tỷ VND, Bảo Minh 1.884 tỷ VND, PJICO 1.060 tỷ VND, PTI 443 tỷ VND. Chiếm tỷ trọng lớn là nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới 3.182 tỷ VND, bảo hiểm tài sản kỹ thuật 2.024 tỷ VND, bảo hiểm con người 1.597 tỷ VND, bảo hiểm thân tàu và TNDS của chủ tàu 1.266 tỷ VND, bảo hiểm hàng hóa vận chuyển 972 tỷ VND.
Toàn thị trường đã giải quyết bồi thường 4.511 tỷ VND, tỷ lệ bồi thường 41,5%. Các nghiệp vụ có tỷ lệ bồi thường cao là bảo hiểm xe cơ giới 1.830 tỷ VND (chiếm 58%), bảo hiểm con người 724 tỷ VND (chiếm 45,3%), bảo hiểm thân tàu và TNDS của chủ tàu 583 tỷ VND (chiếm 46%), bảo hiểm tài sản thiệt hại 695 tỷ VND (chiếm 34,3%). Các doanh nghiệp có tỷ lệ bồi thường cao là Bảo Minh 50,5%, Bảo Việt 48%, PVI 43,4%. Tỷ lệ bồi thường trên nếu so với phí được hưởng (50% phí thực thu trong năm) là cao, có nhiều nghiệp vụ và doanh nghiệp bảo hiểm ở mức đáng báo động. Chính vì vậy, năm 2024 có nhiều doanh nghiệp bảo hiểm có kết quả kinh doanh nghiệp vụ bảo hiểm là con số âm phải sử dụng đến sự phòng giao động lớn. Lãi có được từ kết quả kinh doanh nói chung chủ yếu thu được từ lãi đầu tư trong đó có tiền gửi ngân hàng.[5]
Sau quá trình thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp Chiến lược phát triển thị trường bảo hiểm, năng lực tài chính, năng lực kinh doanh của các doanh nghiệp đã tăng lên đáng kể, công tác đánh giá rủi ro và đề phòng hạn chế tổn thất cũng được cải thiện. Kết quả là mức phí bảo hiểm giữ lại của toàn thị trường bảo hiểm phi nhân thọ tăng 39,2% so với năm 2023 lên mức 7.334 tỷ đồng.
Bên cạnh điểm sáng về tăng trưởng doanh thu, tình hình cạnh tranh phi kỹ thuật trên thị trường vẫn tiếp tục diễn ra rất quyết liệt, trong khi đó chi phí khai thác dịch vụ gia tăng mạnh, tình hình tổn thất diễn biến xấu. Tình trạng hạ phí bảo hiểm nhằm tạo lợi thế cạnh tranh diễn ra phổ biến ở nhiều loại hình nghiệp vụ như bảo hiểm xe cơ giới, bảo hiểm tài sản, bảo hiểm thân tàu, hàng hoá vận chuyển đường biển….không chỉ tạo ra môi trường cạnh tranh không lành mạnh, mà còn ảnh hưởng tới sự an toàn tài chính của doanh nghiệp bảo hiểm.
Tình hình quản trị doanh nghiệp nhìn chung còn nhiều bất cập. Số lượng các doanh nghiệp bảo hiểm gia tăng nhanh chóng trong thời gian vừa qua đã làm căng thẳng thêm tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực bảo hiểm, đặc biệt là đội ngũ cán bộ quản lý cấp cao. Việc quản lý và quản trị rủi ro/chi phí đang thực sự là vấn đề nghiêm trọng trong hệ thống của mỗi doanh nghiệp. Mặc dù nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp lớn, đã hết sức chú trọng vấn đề này, nhưng để cải thiện tình hình cần phải có thời gian. Khóa luận: Hoạt động các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài.
Tình hình tổn thất tiếp tục theo chiều hướng gia tăng ở hầu hết các loại hình nghiệp vụ: cháy, kỹ thuật, thân tàu, hàng hoá. Đặc biệt, trận mưa lũ lịch sử tại Hà Nội đầu tháng 11/2024 đã gây thiệt hại nặng nề cả về kinh tế nói chung và đối với ngành bảo hiểm nói riêng. Số tiền bồi thường cho các tổn thất về tài sản (chủ yếu là xe ô tô) của sự cố lụt lội này đã lên tới 70 – 80 tỷ VND.[10]
Trong khi đó, xu hướng các dịch vụ “xấu” không đáp ứng được điều kiện chuyển tái ra nước ngoài, được chuyển tái cho thị trường trong nước, hoặc các doanh nghiệp trong nước chia sẻ dịch vụ với điều kiện bảo hiểm và giá không thuận lợi hơn so với chuyển tái ra nước ngoài ngày càng trở nên phổ biến.
Trong năm 2024 thị trường bảo hiểm phi nhân thọ có thêm 5 doanh nghiệp mới được cấp giấy phép và đi vào hoạt động: Công ty cổ phần Bảo hiểm Hàng không (VNI), Công ty cổ phần Bảo hiểm Hùng Vương (HVI), Công ty bảo hiểm Fubon, Công ty Bảo hiểm SHB – Vinacomin (SVIC), Công ty Bảo hiểm Mitsui Sumitomo. Như vậy tổng số doanh nghiệp hoạt động trên thị trường phi nhân thọ Việt Nam đã lên tới 27 công ty.[10]
1.2.3 Hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ
Đầu năm 2024 vật giá leo thang, giá lương thực thực phẩm tăng gấp 1,5 đến 2 lần làm cho đời sống người lao động khó khăn hơn. Giữa năm 2024 tiền gửi tiết kiệm có lãi suất tăng đột biến tới 18%. Tình hình trên dẫn đến bảo hiểm nhân thọ gặp khó khăn lớn. Khách hàng đang tham gia bảo hiểm chấm dứt hợp đồng trước hạn, rút tiền gửi ngân hàng khiến cho giá trị hoàn trả tăng. Nguồn khách hàng tiềm năng giảm nên số lượng hợp đồng mới khai thác được không nhiều. Tuy nhiên với sự cố gắng của các doanh nghiệp bảo hiểm quyết tâm vượt qua thách thức đưa ra nhiều sản phẩm mới, hấp dẫn phù hợp với nhu cầu khách hàng nên đã đạt được doanh thu 10.339 tỷ đồng, tăng 9,3% so với năm 2023. Dẫn đầu là Prudential 4.270 tỷ đồng, Bảo Việt 3.425 tỷ đồng, Manulife 1.081 tỷ đồng. Doanh thu phí bảo hiểm năm đầu đạt 2.059 tỷ đồng tăng 13,88%, chủ yếu do các sản phẩm được thiết kế với số tiền bảo hiểm lớn, thời gian bảo vệ dài hơn khiến cho phí bảo hiểm lớn hơn. Dẫn đầu là Prudential 708 tỷ đồng, Bảo Việt 512 tỷ đồng, Manulife 226 tỷ đồng. Doanh thu phí bảo hiểm một lần đạt không nhiều 15 tỷ đồng trong đó ACE Life đạt 7 tỷ đồng và AIG đạt 5 tỷ đồng.[10]
Tổng số hợp đồng bảo hiểm khai thác mới trong kỳ là 552.304 giảm 13,71% so với năm 2023. Tổng số hợp đồng bảo hiểm hết hiệu lực trong kỳ là 594.485, tăng 26,17%, trong đó hợp đồng hủy bỏ trước hạn là 508.652 tăng 26,78% so với năm 2023. Đặc biệt số lượng hợp đồng hủy bỏ năm thứ nhất là 99.998 hợp đồng tăng 8,83% so với năm 2023. Tổng số hợp đồng có hiệu lực đến cuối kỳ là 3.850.676 tăng 1,1%. Doanh nghiệp bảo hiểm có nhiều hợp đồng tính theo sản phẩm chính là Prudential 1.566.031, Bảo Việt 1.561.768, Manulife 252.849. Khóa luận: Hoạt động các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài.
Tổng số trả tiền bảo hiểm là 4.572 tỷ đồng tăng 29,5% so với 2023. Chi trả quyền lợi bảo hiểm 2.539 tỷ đồng tăng 17,4%, trong đó Bảo Việt 1.381 tỷ đồng, Prudential 833 tỷ đồng, Manulife 135 tỷ đồng. Chi trả giá trị hoàn lại 2.033 tỷ đồng tăng 48,6% so với năm 2024, trong đó Prudential là 760 tỷ đồng, Bảo Việt 580 tỷ đồng, Manulife 451 tỷ đồng. Số lượng hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm trước hạn do những khó khăn kinh tế tăng lên trong năm 2024 khiến cho giá trị hoàn lại tăng cao.
Số lượng đại lý bảo hiểm (là cá nhân kinh doanh có hợp đồng đại lý với các DNBH) tính đến cuối kỳ là 72.079 người tăng 2,29%, trong đó Prudential 25.594 người, Bảo Việt 15.535 người, AIG 8.998 người, Dai-ichi 8.389 người. Số lượng đại lý tuyển dụng đào tạo trong năm là 61.935 người trong đó Prudential là 24.452 người, AIG 9.680 người, Dai-ichi 8.510 người, Manulife 6.198 người. Điều này chứng tỏ đại lý bỏ việc nhiều do tình hình khai thác khó khăn nên doanh nghiệp bảo hiểm phải tuyển dụng bổ sung. [4]
Trong tháng 6/2024 có thêm một công ty bảo hiểm nhân thọ 100% vốn nước ngoài được cấp phép là Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Hàn Quốc, thành viên của tập đoàn Han Wha, một trong những tập đoàn kinh tế hàng đầu của Hàn Quốc. Đây cũng là công ty bảo hiểm nhân thọ đầu tiên của Hàn Quốc tại Việt Nam với tổng số vốn đầu tư 60 triệu USD. Cũng trong năm 2024, một công ty bảo hiểm nhân thọ khác của Hàn Quốc là Samsung Life cũng đã khai trương văn phòng mới tại Hà Nội. Samsung Life là thành viên của tập đoàn Samsung với doanh thu năm 2023 lên đến 27,6 tỷ USD, chiếm 28% thị phần tại thị trường Hàn Quốc. [10]
1.2.4 Hoạt động tái bảo hiểm Khóa luận: Hoạt động các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài.
Hoạt động tái bảo hiểm đã xuất hiện từ trước năm 2011, nhưng trong thời gian này, hoạt động tái bảo hiểm tập trung chủ yếu vào chức năng bảo vệ kinh doanh bảo hiểm gốc và xử lý những hợp đồng đã hết hiệu lực nhưng trách nhiệm vẫn còn kéo dài. Chỉ đến năm 2011, với sự ra đời của Công ty tái bảo hiểm quốc gia Việt Nam (Vinare), thị trường tái bảo hiểm trong nước mới bắt đầu được hình thành mà bước đầu là tái bảo hiểm bắt buộc cho Công ty Tái bảo hiểm Quốc gia Việt Nam. Trong vòng hơn 10 năm qua, hoạt động tái bảo hiểm ngày một phát triển và thu được những kết quả hết sức khả quan. Đặc biệt, năm 2024, tổng phí bảo hiểm giữ lại tại thị trường trong nước tăng 19,67% từ 15.347 tỷ đồng năm 2023 lên 18.747 tỷ đồng năm 2024. Trong đó hoạt động tái bảo hiểm ra thị trường nước ngoài được thực hiện chủ yếu đối với hoạt động bảo hiểm phi nhân thọ với tỷ trọng là 95,8% tổng số phí nhượng tái. Đối với các nghiệp vụ bảo hiểm có rủi ro lớn như bảo hiểm tài sản và thiệt hại; bảo hiểm hàng không, bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự chủ tàu; bảo hiểm cháy, nổ, các doanh nghiệp thực hiện tái bảo hiểm với tỷ trọng lớn để phân tán rủi ro (tỷ lệ giữ lại thấp hơn năm 2023). Đối với các nghiệp vụ có rủi ro thấp như bảo hiểm xe cơ giới, bảo hiểm tai nạn và sức khỏe con người, các doanh nghiệp hầu như không nhượng tái ra nước ngoài trong khi tốc độ tăng trưởng doanh thu của các nghiệp vụ này trong năm 2024 là rất cao.
- BẢNG 1.3: HOẠT ĐỘNG TÁI BẢO HIỂM NĂM 2023 – 2024
Có được kết quả khả quan là do xuất phát từ năng lực tài chính, năng lực kinh doanh, công tác đánh giá rủi ro và đề phòng hạn chế tổn thất của các doanh nghiệp bảo hiểm được cải thiện đã làm tăng mạnh doanh thu phí bảo hiểm, tăng năng lực giữ lại của thị trường. Hoạt động tái bảo hiểm trong nước của các doanh nghiệp bảo hiểm, doanh nghiệp tái bảo hiểm đã có nhiều đóng góp tích cực đến thị trường bảo hiểm nói riêng và nền kinh tế nói chung, không những làm tăng mức phí bảo hiểm giữ lại của thị trường trong nước, hạn chế tình trạng chuyển ngoại tệ ra nước ngoài thông qua việc tái bảo hiểm cho các công ty nước ngoài mà còn là công cụ giúp Nhà nước kiểm soát tình hình hoạt động và tình trạng tài chính cũng như khả năng thanh toán của các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia bảo hiểm, góp phần duy trì mối quan hệ chặt chẽ hơn giữa các doanh nghiệp bảo hiểm gốc và doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm.
1.2.5 Hoạt động trung gian bảo hiểm
Hiện nay trên thị trường bảo hiểm Việt Nam, có hai hình thức trung gian bảo hiểm là đại lý bảo hiểm và môi giới bảo hiểm.
- Hoạt động môi giới bảo hiểm Khóa luận: Hoạt động các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài.
Công ty môi giới đầu tiên xuất hiện trên thị trường Việt Nam từ năm 2009 là một công ty có vốn đầu tư nước ngoài – Công ty TNHH Aon Việt Nam. Tuy nhiên, chức năng của nghiệp vụ môi giới chưa thực sự phát huy đầy đủ trong sự phát triển của thị trường bảo hiểm do cách nhìn nhận chưa đúng về vai trò của môi giới bảo hiểm trong kinh doanh. Đến nay, do đã khắc phục được một phần hạn chế trên, nên số công ty môi giới bảo hiểm đã tăng lên con số 10 công ty, trong đó có 6 công ty trong nước và 4 công ty có vốn đầu tư nước ngoài và vẫn chỉ giới hạn trong hoạt động bảo hiểm phi nhân thọ. Tổng phí bảo hiểm giới thiệu cho các Công ty bảo hiểm đạt khoảng 1.860 tỷ đồng, tăng 32,3% so với năm 2023, chiếm 17,1% tổng số phí bảo hiểm phi nhân thọ của toàn thị trường. So với năm 2023, doanh thu phí bảo hiểm thu xếp qua môi giới của nghiệp vụ hàng không tăng nhiều nhất, từ 91 tỷ đồng lên 408 tỷ đồng, các nghiệp vụ có tốc độ tăng trưởng cao khác bao gồm: Bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự của chủ tàu 86,5%, Bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại 80,9%, Bảo hiểm thiệt hại kinh doanh 54,3%, Bảo hiểm sức khỏe và tai nạn con người 52,3%. Các nghiệp vụ Bảo hiểm hàng hóa vận chuyển, Bảo hiểm xe cơ giới, Bảo hiểm nông nghiệp giảm so với năm 2023. Hoạt động môi giới bảo hiểm tập trung chủ yếu ở các nghiệp vụ: Bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại 43,79%, Bảo hiểm hàng không 21,95%, Bảo hiểm sức khỏe và tai nạn con người 14,47%. Doanh thu hoạt động môi giới đạt khoảng 174 tỷ đồng, tăng 33,7% so với năm 2023. Hoa hồng môi giới bảo hiểm tập trung chủ yếu ở các nghiệp vụ: Bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại 45,45%, Bảo hiểm sức khỏe và tai nạn con người 23,29%, Bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự chủ tàu 7,56%. Bên cạnh đó, một số công ty môi giới bảo hiểm, chủ yếu là các công ty môi giới bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài đã phát triển các dịch vụ môi giới tái bảo hiểm cho các công ty bảo hiểm trong và ngoài nước. Dịch vụ môi giới tái bảo hiểm tập trung chủ yếu là nghiệp vụ Bảo hiểm tài sản và thiệt hại và nghiệp vụ hàng không. Tổng phí tái bảo hiểm thu xếp qua môi giới đạt 261 tỷ đồng, doanh thu từ hoạt động này đạt gần 9 tỷ đồng.
- Biểu 1.1: Tỷ trọng phí bảo hiểm gốc thu xếp qua môi giới bảo hiểm năm 2024
Có thể nhận thấy, nhận thức về vai trò và lợi ích của các hoạt động môi giới trên thị trường bảo hiểm ngày càng tăng. Chính các hoạt động này đã giúp hoạt động kinh doanh trên thị trường bảo hiểm sôi động hơn, tiếp cận với khách hàng dễ dàng hơn, góp phần thúc đẩy thị trường bảo hiểm nói riêng và nền kinh tế của đất nước nói chung.
- Đại lý bảo hiểm
Hình thức thứ hai trong hoạt động trung gian bảo hiểm là đại lý bảo hiểm. Khác với hoạt động môi giới chỉ mới hoạt động trên thị trường phi nhân thọ, đại lý bảo hiểm có ở cả hai thị trường phi nhân thọ và nhân thọ, nhưng vẫn tập trung vào thị trường nhân thọ. Tổng đại lý bảo hiểm năm 2024 đạt 122.917 đại lý, tăng 3,91% so với năm 2023. Trong đó đại lý bảo hiểm nhân thọ là 87.762 người, tăng 7,03% so với năm 2023, đại lý bảo hiểm phi nhân thọ là 35.155 người, giảm 3,13% so với năm 2023.
Có thể thấy, nhận thức về vai trò và lợi ích của các hoạt động trung gian trên thị trường bảo hiểm ngày càng tăng. Chính các hoạt động này đã giúp hoạt động kinh doanh trên thị trường bảo hiểm sôi động hơn, tiếp cận với khách hàng dễ dàng hơn, góp phần thúc đẩy thị trường bảo hiểm nói riêng và nền kinh tế của đất nước nói chung.
1.2.6 Hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm Khóa luận: Hoạt động các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài.
Ngoài các hoạt động kinh doanh bảo hiểm nhân thọ, phi nhân thọ, các công ty bảo hiểm còn sử dụng nguồn vốn huy động được vào các dự án đầu tư tài chính như góp vốn liên doanh, mua cổ phiếu, gửi tiết kiệm ngân hàng, tham gia thành lập công ty cổ phần… nhằm tăng khoản lợi nhuận cho công ty cũng như góp phần phát triển kinh tế xã hội. Mặt bằng lãi suất cho vay tăng cao trong giai đoạn quý I tới quý III năm 2024 đã tạo điều kiện tăng doanh thu đầu tư đối với các danh mục đầu tư tiền gửi và trái phiếu. Tuy nhiên thị trường chứng khoán giảm bình quân gần 70% so với đầu năm 2024 là tác nhân gây giảm đáng kể tài sản đầu tư của các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực này.
Doanh thu hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp toàn thị trường đạt 6.014 tỷ đồng, tăng 11,1% so với năm 2023. Tổng số tiền các doanh nghiệp bảo hiểm đã huy động đầu tư trở lại nền kinh tế tăng từ 44.063 tỷ đồng năm 2023 tính đến cuối năm 2024 lên 56.934 tỷ đồng trong đó nguồn đầu tư của các công ty bảo hiểm nhân thọ chiếm 72%. Tổng số tiền đầu tư của bảo hiểm nhân thọ là 39.253 (gồm cả 02 doanh nghiệp mới là GE và Cathay) tỷ đồng, tăng 22,23% so với năm 2023, trong đó Prudential 14.333 tỷ đồng, Bảo Việt 14.669 tỷ đồng, Manulife 3.583 tỷ đồng.
- Biểu 1.2: Cơ cấu đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm năm 2024
Năm 2024, tỷ trọng đầu tư trong các lĩnh vực như sau: mua trái phiếu chính phủ chiếm 42,05%, gửi tiền tại các tổ chức tín dụng chiếm 29,65%, mua cổ phiếu, trái phiếu doanh nghiệp không có bảo lãnh chiếm 7,06%, ủy thác đầu tư chiếm 5,75%. Thu nhập đầu tư đạt 4.010 tỷ đồng giảm 21,8% so với năm 2023 vì phải trích lập dự phòng rủi ro, trong đó Prudential 1.642 tỷ đồng, Bảo Việt 1.518 tỷ đồng, Manulife 331 tỷ đồng. Thông qua việc đa dạng hóa hoạt động đầu tư, các doanh nghiệp bảo hiểm đã thu được nhiều kết quả quan trọng từ đầu tư tài chính, giúp hình thành phần lớn lợi nhuận của doanh nghiệp, nhất là các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ.
- BẢNG 1.4: MỨC VỐN ĐẦU TƯ TRỞ LẠI NỀN KINH TẾ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP BẢO HIỂM 2023 – 2024
Trong quan hệ đánh đổi rủi ro và lợi nhuận trên, các doanh nghiệp bảo hiểm đầu tư thận trọng, nắm giữ tiền mặt và đầu tư vào tiền gửi và trái phiếu sẽ là các doanh nghiệp đạt hiệu quả cao. Đối với các doanh nghiệp đầu tư gặp rủi ro, kết quả xấu từ đầu tư sẽ gây giảm đáng kể lợi nhuận kinh doanh bảo hiểm. Sụt giảm giá trị các khoản đầu tư của các đơn vị đã gây ra sự sụp đổ của một công ty tài chính – bảo hiểm như AIG. Đây chắc chắn là một bài học lớn của các công ty tài chính – bảo hiểm Việt Nam.
1.3 Những cam kết hội nhập quốc tế của Việt Nam trong lĩnh vực bảo hiểm Khóa luận: Hoạt động các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài.
1.3.1 Những cam kết của Việt Nam về bảo hiểm trong Hiệp định khung ASEAN
Tại cuộc họp thượng đỉnh lần thứ 5 các nước ASEAN vào tháng 12/2011, diễn ra ở Băng Cốc, Thái Lan, Bộ trưởng Kinh tế các nước thành viên ASEAN đã ký Hiệp định khung về Dịch vụ ASEAN (ASEAN Framework Agreement on Services-AFAS) nhằm hai mục đích:
- Thiết lập Khu vực Tự do Thương mại ASEAN (AFTA) để biến khu vực này trở thành một khu vực sản xuất có khả năng cạnh tranh toàn cầu; và
- Thúc đẩy lĩnh vực dịch vụ của các nước ASEAN trong bối cảnh thị trường dịch vụ toàn cầu đang phát triển mạnh mẽ.
Sau khi Hiệp định được ký kết, trọng tâm chính của hợp tác ASEAN trong lĩnh vực dịch vụ là tăng cường tự do hoá lĩnh vực này thông qua các cuộc thương lượng giữa các thành viên để đi tới “Nhưng cam kết GATS+” trong 7 lĩnh vực dịch vụ, trong đó có dịch vụ tài chính. Theo tinh thần đó, cuối tháng 12/2014, Nghị định thư thực hiện các cam kết giai đoạn hai trong khuôn khổ Hiệp định khung về Dịch vụ của ASEAN đã được ký kết và có hiệu lực kể từ ngày 13/10/2015. Căn cứ theo Nghị định thư, “Các nước ASEAN là thành viên của WTO sẽ dành những cam kết cụ thể của mình trong khuôn khổ GATS cho các nước ASEAN không phải là thành viên của WTO”. Ngoài ra, trong khuôn khổ Nghị định thư này, 7 nước thành viên ASEAN (trừ Lào, Myanmar và Campuchia) đã đưa ra những cam kết cụ thể trong lĩnh vực bảo hiểm theo hướng huỷ bỏ về cơ bản những hạn chế về tiếp cận thị trường và tăng cường chiều sâu và phạm vi tự do hoá trong lĩnh vực bảo hiểm. Hiện nay, các nước ASEAN đã hoàn tất việc thông qua Nghị định thư số 5 về thiết lập chương trình chung của ASEAN về bảo hiểm trách nhiệm bắt buộc đối với bên thứ ba của chủ xe cơ giới. Khóa luận: Hoạt động các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài.
Trong thời gian 2015 đến nay, các nước ASEAN đã đẩy mạnh hợp tác về bảo hiểm thông qua các cam kết thuận lợi hoá như:
- Tăng cường vai trò của Công ty Tái bảo hiểm ASEAN và coi đó là công cụ để thúc đẩy hơn nữa hợp tác về kinh doanh tái bảo hiểm trong khu vực;
- Thành lập cơ quan giám sát quốc gia ASEAN;
- Phát triển nguồn nhân lực thông qua việc thành lập Viện nghiên cứu và đào tạo về bảo hiểm vào năm 2019 để đào tạo nhân viên cho các doanh nghiệp bảo hiểm và cơ quan quản lý bảo hiểm;
- Hài hoà các luật lệ về bảo hiểm;
- Trao đổi các thông tin về bảo hiểm và cùng nhau hợp tác để xây dựng hệ thống thông tin thống nhất về bảo hiểm;
- Ký kết Nghị định thư về bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự xe cơ giới đối với người thứ ba để hỗ trợ cho Hiệp định khung ASEAN về tạo điều kiện cho hàng hoá quá cảnh.
Bên cạnh đó, việc thành lập Hiệp hội các nhà quản lý bảo hiểm ASEAN và Hiệp hội bảo hiểm ASEAN sẽ tăng cường sự hợp tác giữa các Chính phủ và ngành bảo hiểm các nước trong khu vực. Như vậy, cho dù quy mô, lịch trình và bước đi cụ thể của các nước ASEAN có khác nhau, song có thể khẳng định rằng xu thế mở cửa và hội nhập trong lĩnh vực bảo hiểm đang diễn ra mạnh mẽ tại khu vực này.
1.3.2 Những cam kết của Việt Nam về bảo hiểm với APEC Khóa luận: Hoạt động các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài.
APEC là một diễn đàn đối thoại, không phải là một tổ chức. Do vậy, về tổng thể những cam kết trong khuôn khổ APEC không có tính ràng buộc cao như trong ASEAN và WTO. Mục tiêu hoạt động của APEC là thực hiện tự do hoá và thuận lợi hoá thương mại và đầu tư tới năm 2026 đối với các thành viên phát triển và năm 2040 đối với các thành viên đang phát triển qua hai phương pháp tiếp cận là Chương trình hành động quốc gia (IAP) và chương trình hành động tập thể (CAP). APEC gắn chặt những cam kết của mình với việc thực hiện các cam kết trong khuôn khổ WTO theo hướng thực hiện sâu hơn và sớm hơn trong khuôn khổ APEC (hay còn gọi là “APEC plus”), do đó trên bình diện toàn cầu, các thành viên APEC sẽ cố gắng thực hiện các mục tiêu về tự do hoá thương mại và đầu tư mà WTO đề ra. Các IAP của các nước thành viên APEC sẽ cố gắng thực hiện các mục tiêu về tự do hoá thương mại và đầu tư mà WTO đề ra. Các IAP của các nước thành viên APEC được tiến hành xây dựng từ năm 2012 và bắt đầu thực hiện từ năm 2013. Về thương mại dịch vụ, APEC yêu cầu các nước thành viên phải thực hiện liên tục giảm những hạn chế để mở cửa cho thương mại dịch vụ, dành cho nhau chế độ Đãi ngộ Tối hụê quốc (MFN) và Đối xử quốc gia (NT). Việt Nam chính thức trở thành thành viên của APEC vào năm 2014. Tuy là một nền kinh tế đang phát triển trong giai đoạn chuyển đổi, Việt Nam đã tích cực tham gia vào các chương trình hoạt động của APEC. Cụ thể về dịch vụ bảo hiểm, Việt Nam đã cam kết như sau:
Cam kết mở cửa thị trường
- Việt Nam cho phép thành lập các công ty bảo hiểm từ mọi thành phần kinh tế.
- Các công ty bảo hiểm nước ngoài có thể thành lập cơ sở kinh doanh và/hoặc cung cấp dịch vụ bảo hiểm tại Việt Nam theo hình thức liên doanh, 100% vốn nước ngoài hoặc chi nhánh công ty.
- Ban hành luật về kinh doanh bảo hiểm và đơn giản hoá các thủ tục hành chính để cấp giấy phép kinh doanh bảo hiểm.
Cam kết về mở rộng phạm vi hoạt động của các công ty bảo hiểm nước ngoài.
- Cho phép các công ty bảo hiểm nước ngoài cung cấp bảo hiểm nhân thọ và các dịch vụ môi giới bảo hiểm cho các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài.
- Cho phép các công ty bảo hiểm nước ngoài chiếm tối đa 30% cổ phần của các công ty cổ phần bảo hiểm ở Việt Nam.
- Cam kết mở rộng phạm vi hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài.
Cam kết nới lỏng phân biệt đối xử. Khóa luận: Hoạt động các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài.
- Việt Nam cam kết nới lỏng quy định phân biệt đối xử và khác biệt trong lĩnh vực bảo hiểm giữa công ty bảo hiểm trong nước với các công ty bảo hiểm nước ngoài.
1.3.3 Những cam kết của Việt Nam về bảo hiểm trong Hiệp định thương mại Việt – Mỹ
Ngày 13/7/2016 bản Hiệp định thương mại Việt – Mỹ chính thức được ký kết sau 4 năm đàm phán thoả thuận, một lần nữa khẳng định bình thường hoá quan hệ 25 năm sau chiến tranh.
Hiệp định gồm 7 Chương, 74 Điều cộng 9 Phụ lục với tổng số trang là 151, trong đó Chương thương mại dịch vụ gồm 11 Điều và 1 Phụ lục G. Thương mại dịch vụ trong Hiệp định này được định nghĩa là việc cung cấp một dịch vụ:
- Từ lãnh thổ của một bên vào lãnh thổ của bên kia.
- Tại lãnh thổ của một bên cho người sử dụng dịch vụ của bên kia
- Bởi một nhà cung cấp dịch vụ của một bên thông qua sự hiện diện thương mại tại lãnh thổ của nước bên kia.
- Bởi một nhà cung cấp dịch vụ của một bên thông qua sự hiện diện của các thể nhân của một nước tại lãnh thổ của nước bên kia
Trong Hiệp định này, Việt Nam chỉ cam kết mở cửa 8 ngành trong 11 ngành dịch vụ của GATS. Việt Nam chưa cam kết mở cửa lĩnh vực văn hoá, giải trí; vận tải (hàng không và đường biển); dịch vụ môi trường.
Việc cung cấp dịch vụ theo Hiệp định dựa trên các nguyên tắc điều chỉnh thương mại dịch vụ do GATS đưa ra:
Nguyên tắc tối huệ quốc (MFN): Theo nguyên tắc này, Chính phủ của một bên không được phân biệt đối xử giữa các dịch vụ hoặc nhà cung cấp dịch vụ của một bên mà phải dành cho họ sự đối xử không kém ưu đãi so với mức mà bên đó dành cho các dịch vụ hoặc nhà cung cấp dịch vụ của bất kỳ một nước nào khác.
Tuy nhiên, khác với MFN trong thương mại hàng hoá, MFN thương mại dịch vụ cho phép mỗi bên đưa ra các quy định trái với MFN nhằm bảo lưu một số lĩnh vực, hoạt động không cam kết. Danh mục liệt kê các ngoại lệ (Phụ lục G) được xem là một bộ phận không thể tách rời và có giá trị pháp lý như các điều khoản của Hiệp định.
Nguyên tắc đối xử quốc gia (NT): Trong các lĩnh vực dịch vụ nêu trong lộ trình cam kết của mình trong Phụ lục G phải phù hợp với các điều kiện và chuẩn mực được đưa ra tại đó, mỗi bên dành cho các dịch vụ hoặc nhà cung cấp dịch vụ của bên kia đối với tất cả các biện pháp ảnh hưởng đến việc cung cấp các dịch vụ sự đối xử không kém thuận lợi hơn sự đối xử mà bên đó dành cho các dịch vụ hoặc người cung cấp dịch vụ tương tự của nước mình.
Nguyên tắc từng bước tự do hoá thương mại dịch vụ: Nguyên tắc này theo GATS yêu cầu các nước thành viên đưa ra các cam kết cụ thể về biện pháp mở cửa thị trường dịch vụ, xoá bỏ dần rào cản thể chế, quy định của pháp luật cản trở sự thâm nhập của nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài. Khóa luận: Hoạt động các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài.
Thương mại dịch vụ Việt – Mỹ ra đời dựa trên nguyên tắc điều chỉnh của GATS, theo đó Việt Nam đã có những cam kết và đưa ra một lộ trình cam kết của mình thoả mãn 5 yêu cầu sau:
- Các quy định phải hạn chế và điều kiện về tiếp cận thị trường
- Các điều kiện và chuẩn mực về đối xử quốc gia
- Các nghĩa vụ liên quan đến các cam kết bổ sung
- Lịch trình thực hiện các cam kết đó (nếu cần)
- Thời điểm các cam kết đó có hiệu lực
Nguyên tắc minh bạch hoá hệ thống chính sách về thương mại dịch vụ: Theo nguyên tắc này, tính minh bạch hoá hệ thống chính sách về thương mại dịch vụ phải đạt những yêu cầu sau:
- Ấn định công khai, rộng rãi cụ thể các văn bản pháp luật và cả các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia.
- Mỗi bên phải có nghĩa vụ cung cấp thông tin theo đề nghị của phía bên kia nhưng những thông tin đó không được liên quan đến bí mật quốc gia.
- Cả hai bên chính phủ Việt Nam và Mỹ xúc tiến cho việc thành lập cơ quan chuyên trách về cung cấp thông tin.
- Hai bên phải thành lập một uỷ ban để thường xuyên phối hợp, trao đổi về việc thực hiện minh bạch hoá. Thành lập uỷ ban hỗn hợp về quan hệ kinh tế thương mại giữa Việt Nam và Mỹ, đại diện của hai bên ở cấp bộ trưởng làm đồng chủ tịch.
Thương mại và dịch vụ trong hoạt động bảo hiểm:
Trong hoạt động bảo hiểm cũng như các hoạt động của các ngành khác trong lĩnh vực dịch vụ, dựa trên nguyên tắc hoạt động về thương mại và dịch vụ GATS của WTO là khung pháp lý chung đối với các lĩnh vực dịch vụ mà mỗi bên đồng ý mở cửa. Theo Hiệp định, những lĩnh vực bảo hiểm dưới đây Việt Nam cam kết mở cửa cho các dịch vụ cụ thể như sau:
- Bảo hiểm nhân thọ và tai nạn trừ bảo hiểm sức khoẻ
- Bảo hiểm phi nhân thọ
- Tái bảo hiểm và nhượng tái bảo hiểm
- Các dịch vụ hỗ trợ cho hoạt động bảo hiểm (bao gồm các dịch vụ môi giới và đại lý)
Trên cơ sở các dịch vụ cụ thể trên, cam kết giữa Việt Nam và Mỹ đối với hoạt động bảo hiểm có thể được tóm tắt như sau:
- Đối với Chính phủ Mỹ: Khóa luận: Hoạt động các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài.
Mỹ cam kết mở cửa thị trường bảo hiểm của Mỹ cho Việt Nam như đối với các thành viên của WTO. 138 nước thành viên của WTO được phép hoạt động ngân hàng như thế nào tại Mỹ thì Việt Nam cũng được hưởng như vậy.
- Đối với Chính phủ Việt Nam:
- Cam kết mở cửa thị trường
Trong Phụ lục G, đối với hình thức cung cấp là cung cấp qua biên giới và sử dụng dịch vụ ở nước ngoài Việt Nam cam kết mở cửa ở mức độ không hạn chế.
Với hình thức cung cấp là hiện diện thương mại: mở cửa không hạn chế trừ:
- Việc thành lập chi nhánh phụ thuộc vào tiến trình xây dựng Luật kinh doanh bảo hiểm
- 3 năm sau Hiệp định có hiệu lực được lập liên doanh với đối tác được phép kinh doanh dịch vụ bảo hiểm của Việt Nam. Phần vốn góp của phía Mỹ không vượt quá 50% vốn pháp định của liên doanh.
- 5 năm sau khi Hiệp định có hiệu lực được lập công ty 100% vốn Mỹ.
Các công ty cung cấp dịch vụ có vốn đầu tư Mỹ không được kinh doanh các dịch vụ bảo hiểm bắt buộc là: bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới, bảo hiểm trong xây dựng và lắp đặt, bảo hiểm đối với các công trình dầu khí và các công trình dễ gây nguy hiểm đến an ninh cộng đồng và môi trường. Hạn chế này sẽ được bãi bỏ đối với liên doanh là 3 năm sau khi Hiệp định có hiệu lực; và đối với công ty 100% vốn Mỹ là 6 năm sau khi Hiệp định có hiệu lực.
Đối với việc tái bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh, công ty 100% vốn Mỹ và chi nhánh các công ty bảo hiểm Mỹ phải tái bảo hiểm với Công ty tái bảo hiểm Việt Nam một tỷ lệ tối thiểu là 20% và 5 năm sau khi Hiệp định có hiệu lực hạn chế này sẽ được bãi bỏ. Khóa luận: Hoạt động các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài.
Với hình thức cung cấp là hiện diện thể nhân: Chưa cam kết ngoài các cam kết nền chung.
Cam kết đối xử quốc gia
- Với hình thức cung cấp là cung cấp qua biên giới và sử dụng ở nước ngoài: mở cửa không hạn chế.
- Với hình thức cung cấp là hiện diện thương mại: mở cửa không hạn chế trừ đối với kinh doanh bảo hiểm bắt buộc.
- Với hình thức cung cấp là hiện diện thể nhân: chưa cam kết ngoài các cam kết nền chung.
Các cam kết bổ sung
- Chưa cam kết ngoài các cam kết nền chung
Việc không hạn chế cung cấp dịch vụ qua biên giới đối với các dịch vụ bảo hiểm; cho phép thành lập doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh; doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn nước ngoài, cho phép các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện chế độ bảo hiểm bắt buộc và tiến tới xoá bỏ quy định tái bảo hiểm bắt buộc theo lộ trình đã cam kết sẽ tạo ra môi trường cạnh tranh gay gắt hơn đối với các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam.
1.3.4 Những cam kết của Việt Nam về bảo hiểm khi gia nhập WTO
Các cam kết cụ thể của Việt Nam khi gia nhập WTO phụ thuộc vào trình độ phát triển của thị trường bảo hiểm Việt Nam và được thực hiện theo lộ trình trên cơ sở có lựa chọn và có điều kiện nhằm mục đích thúc đẩy thương mại dịch vụ, tăng trưởng kinh tế, tăng cường quản lý thận trọng.
Các nước xin gia nhập WTO trong lĩnh vực thương mại dịch vụ đều phải đưa ra các cam kết của mình về các vấn đề liên quan đến tự do hoá thương mại dịch vụ, như: mở cửa thị trường, đối xử quốc gia và các cam kết bổ sung. Các cam kết của các nước thành viên phải được đưa vào “Danh mục các cam kết”. Danh mục cam kết này chính là chương trình quốc gia về mở cửa thị trường thương mại dịch vụ. Chương trình quốc gia này là yếu tố thực chất đảm bảo cho việc tự do hoá thương mại dịch vụ được diễn ra thông suốt trong phạm vi toàn cầu. Sau khi được sự thoả thuận của tất cả các bên có liên quan, danh mục cam kết này sẽ được ghi nhận vào danh mục mở cửa thị trường thương mại dịch vụ. Chương trình quốc gia này là yếu tố thực chất đảm bảo cho việc tự do hoá thương mại dịch vụ được diễn ra thông suốt trong phạm vi toàn cầu. Sau khi được sự thoả thuận của tất cả các bên có liên quan, danh mục cam kết này sẽ được ghi nhận vào danh mục mở cửa thị trường dịch vụ của nước chủ nhà, có giá trị ràng buộc chặt chẽ về mặt pháp lý đối với nước này.
1.3.4.1 Cam kết mở cửa thị trường Khóa luận: Hoạt động các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài.
Cam kết mở cửa thị trường là cam kết của các nước thành viên về việc mở cửa thị trường dịch vụ trong nước cho dịch vụ và người cung cấp dịch vụ nước ngoài về mức độ, quy mô… tuỳ theo khả năng của mình, thông qua việc điều chỉnh luật lệ, quy định trong nước nhằm mục đích tăng khả năng thâm nhập thị trường của dịch vụ và người cung cấp dịch vụ nước ngoài theo 4 phương thức cung cấp dịch vụ của GATS. Một thành viên được coi là mở cửa thị trường hoàn toàn đối với một khu vực dịch vụ nào đó và theo một phương thức cung cấp dịch vụ nào đó khi thành viên đó không duy trì bất kỳ một biện pháp hạn chế việc cung cấp dịch vụ như quy định ở điều XVI GATS. Không mở cửa hoàn toàn tức là mở cửa từng phần hay có điều kiện, giới hạn. Các giới hạn về mở cửa thị trường mà các nước thành viên đưa ra có thể là các mặt sau đây:
Hạn chế về số lượng các nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài trên thị trường
- Giới hạn về tổng giá trị dịch vụ giao dịch hoặc tài sản;
- Giới hạn về số lượng của các hoạt động dịch vụ hay tổng sản lượng dịch vụ;
- Giới hạn về tổng số các nhân viên nước ngoài trong một khu vực dịch vụ cụ thể;
- Yêu cầu và hạn chế về các loại hình công ty hay liên doanh;
- Giới hạn về tỷ lệ vốn mà bên nước ngoài đóng góp hoặc tổng vốn đầu tư nước ngoài.
Để tiến tới tự do hoá thương mại trong dịch vụ tài chính, các nước tham gia vòng đàm pháp Urguay đã đạt được Thoả thuận về Các cam kết trong Dịch vụ Tài chính thay thế cho Cam kết cụ thể được quy định tại Phần III của GATS. Trên cơ sở đàm phán và tuỳ thuộc vào điều kiện của mỗi nước thành viên, Thoả thuận về các cam kết trong dịch vụ tài chính đã đưa ra cam kết cụ thể về việc tiếp cận thị trường đối với dịch vụ tài chính. Theo đó, việc tiếp cận thị trường đối với dịch vụ bảo hiểm được quy định như sau: Khóa luận: Hoạt động các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài.
- Đối với việc tiếp cận thị trường theo phương thức cung cấp dịch vụ qua biên giới:
Thoả thuận về dịch vụ tài chính quy định rõ các loại hình dịch vụ, mà nhà cung cấp dịch vụ tài chính của các nước thành viên được phép cung cấp vào lãnh thổ của một nước thành viên khác. Cụ thể là, các nước thành viên sẽ cho phép các nhà cung cấp dịch vụ tài chính không cư trú tại nước mình được cung cấp với tư cách là nhà cung cấp, hoặc thông qua một trung gian hoặc với tư cách là nhà cung cấp chính, hoặc thông qua một trung gian hoặc với tư cách là trung gian trên cơ sở đãi ngộ quốc gia những dịch vụ sau:
- Dịch vụ bảo hiểm rủi ro liên quan đến: Vận tải biển và vận tải hàng không thương mại; phóng tàu và vận tải vũ trụ (kể cả vệ tinh); trong đó bảo hiểm cho một phần hoặc toàn bộ hàng hoá được vận tải, phương tiện vận chuyển hàng hoá và mọi liên đới trách nhiệm phát sinh từ chúng; dịch vụ bảo hiểm liên quan đến hàng hoá quá cảnh quốc tế.
- Dịch vụ tái bảo hiểm, tái nhượng bảo hiểm và các dịch vụ bổ trợ cho các loại bảo hiểm như là tư vấn, dịch vụ đánh giá xác suất và rủi ro; dịch vụ giải quyết khiếu nại.
Đối với việc tiếp cận thị trường theo phương thức cung cấp dịch vụ tiêu dùng ngoài lãnh thổ:
Tương tự như việc tiếp cận thị trường theo phương thức cung cấp dịch vụ qua biên giới, đối với phương thức cung cấp dịch vụ tiêu dùng ngoài lãnh thổ, Thoả thuận về Các cam kết trong Dịch vụ tài chính quy định mỗi nước thành viên sẽ cho phép những người cư trú tại nước mình được mua tại lãnh thổ của một thành viên bất kỳ các dịch vụ bảo hiểm và liên quan tới bảo hiểm.
- Đối với việc tiếp cận thị trường thông qua sự hiện diện thương mại:
Đối với dịch vụ bảo hiểm, các thành viên sẽ cho phép các công ty bảo hiểm của một thành viên khác được thành lập trên lãnh thổ của mình được phép mua lại các công ty bảo hiểm hiện có trên lãnh thổ của nước thành viên đó.
Bên cạnh đó, Thoả thuận về các cam kết trong dịch vụ tài chính cũng quy định các nước thành viên không được áp đặt các quy định, điều kiện và thủ tục cản trở việc cho phép thành lập và mở rộng một sự hiện diện thương mại của nhà cung cấp dịch vụ tài chính của một thành viên khác. Như vậy các công ty bảo hiểm của một nước thành viên có thể cung cấp trên lãnh thổ của một nước thành viên khác các dịch vụ bảo hiểm mới chưa được cung cấp trên lãnh thổ nước thành viên đó theo phương thức cung cấp dịch vụ qua sự hiện diện thương mại. Khóa luận: Hoạt động các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài.
- Đối với việc tiếp cận thị trường theo phương thức cung cấp dịch vụ thông qua sự hiện diện của thể nhân:
Nhằm tạo điều kiện cho việc cung cấp dịch vụ tài chính thông qua sự hiện diện thương mại, WTO cũng đã đề cập đến việc nhập cảnh tạm thời của nhân viên trong lĩnh vực dịch vụ tài chính. Theo thoả thuận về các cam kết trong dịch vụ tài chính, mỗi nước thành viên sẽ cho phép nhà cung cấp dịch vụ bảo hiểm của một thành viên bất kỳ khác đang hoặc đã thành lập một hiện diện thương mại trên lãnh thổ của thành viên đó được nhập cảnh tạm thời các nhân viên phục vụ cho việc cung cấp dịch vụ bảo hiểm, trong đó bao gồm: nhân viên quản lý cao cấp, các chuyên gia trong hoạt động của nhà cung cấp dịch vụ bảo hiểm.
1.3.4.2 Cam kết đối xử quốc gia
Cam kết về đối xử quốc gia là cam kết của các nước thành viên về việc áp dụng nguyên tắc đối xử quốc gia trong thương mại dịch vụ. Các thành viên phải đưa ra danh mục các lĩnh vực có thể áp dụng nguyên tắc đối xử quốc gia cùng với những điều kiện hay hạn chế, nếu có. Nguyên tắc đối xử quốc gia chỉ áp dụng cho những lĩnh vực dịch vụ có trong danh mục cam kết. Điều XVII của GATS quy định “ đối với những lĩnh vực dịch vụ được ghi trong danh mục cam kết, khi áp dụng bất kỳ biện pháp nào tác động đến việc cung cấp dịch vụ, mỗi thành viên sẽ dành cho dịch vụ và người cung cấp dịch vụ của bất kỳ thành viên nào khác, sự đối xử không kém phần thuận lợi hơn sự đối xử mà thành viên đó dành cho dịch vụ và người cung cấp dịch vụ của chính mình”. Các thành viên cũng có thể liệt kê các giới hạn hoặc những trường hợp chưa thể thực hiện nguyên tắc đối xử quốc gia được theo từng phương thức cung cấp dịch vụ. Khóa luận: Hoạt động các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài.
Như vậy, điều kiện áp dụng chế độ đối xử quốc gia trong GATS khác hẳn với nguyên tắc đối xử quốc gia trong thương mại hàng hoá, đặc biệt là sự khác biệt về phạm vi và cách thức áp dụng cho những lĩnh vực dịch vụ cụ thể đã được ghi nhận trong danh mục cam kết của từng quốc gia, theo các điều kiện tuỳ ý đã được nêu. Nghĩa là, mỗi nước thành viên không bắt buộc phải áp dụng nguyên tắc này khi chưa đưa ra cam kết đích danh cho một khu vực dịch vụ nào đấy. Và ngay cả khi đã cam kết, họ vẫn được phép đặt ra các hạn chế của nguyên tắc này trên một số khía cạnh, được phép bảo lưu quyền phân biệt đối xử giữa dịch vụ của nước ngoài với dịch vụ nội địa trên những khía cạnh đó. Như vậy trong chương trình mở cửa thị trường dịch vụ bảo hiểm của Việt Nam, Chính phủ có thể quy định rằng mọi công ty bảo hiểm nước ngoài vào hoạt động tại lãnh thổ Việt Nam chỉ được phép mở một chi nhánh trong khi các công ty bảo hiểm trong nước không bị hạn chế này ràng buộc. GATS đương nhiên cho phép sự hạn chế này khi áp dụng nguyên tắc đãi ngộ quốc gia đối với thương mại dịch vụ.
1.3.4.3 Các cam kết bổ sung
Là những cam kết về những biện pháp tác động đến thương mại dịch vụ không thuộc cam kết mở cửa thị trường và cam kết về đãi ngộ quốc gia mà các thành viên có thể đàm phán, như cam kết về năng lực chuyên môn, tiêu chuẩn hay những vẫn đề liên quan đến yêu cầu hay thủ tục được cấp phép chứ không phải là những giới hạn. Những cam kết này cũng được ghi vào danh mục cam kết.
Tóm lại, cùng với sự phát triển kinh tế sau thời kỳ đổi mới, có thể nói thị trường bảo hiểm Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ và tương đối ổn định trong những năm qua. Số lượng doanh nghiệp bảo hiểm không ngừng tăng lên, các loại hình bảo hiểm được phát triển đa dạng và phong phú, doanh thu phí bảo hiểm tăng mạnh, tỷ trọng đóng góp đáng kể của ngành bảo hiểm vào GDP, thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư cho đất nước và cải thiện một phần cuộc sống của tầng lớp dân cư đã chứng tỏ sức hấp dẫn của thị trường này. Tuy nhiên bên cạnh đó, thị trường bảo hiểm Việt Nam vẫn còn không ít những tồn tại như cơ cấu đầu tư chưa hợp lý, thị phần của các doanh nghiệp còn nhỏ, đặc biệt là các doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ, nhiều sản phẩm bảo hiểm tiềm năng vẫn còn bỏ ngỏ… Để thị trường bảo hiểm Việt Nam tiếp tục tăng trưởng, bên cạnh sự quản lý và giám sát của nhà nước, các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam cần nâng cao sức cạnh tranh của mình đặc biệt trong bối cảnh phải cạnh tranh với các công ty nước ngoài. Khóa luận: Hoạt động các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Thực trạng các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài
