Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng phụ nữ với nghề làm y phục truyền thống hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng Phụ nữ Mường ở Quý Hòa với việc sản xuất và sử dụng y phục trong xã hội truyền thống dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
Từ thời kỳ nguyên thủy, dựa trên những khác nhau về đặc điểm sinh thể (sinh lý và thể lực) của con người mà xã hội đã có sự phân công lao động theo giới như một điều hiển nhiên. Nam giới thì làm những công việc đòi hỏi thể lực cao như săn bắt, xây dựng, làm mộc, rèn…
Còn nữ giới có trách nhiệm phần nhiều trong sinh đẻ, chăm sóc con cái, chăn nuôi, trồng trọt và chăm lo các hoạt động sinh hoạt thường ngày.
Chính vì thế, dựa trên đòi hỏi của công việc phải khéo léo, bền bỉ, tỉ mỉ mà hoạt động tìm kiếm, cắt may, thêu dệt các loại y phục, chăn, màn…dường như trở thành một vai trò, chức năng hiển nhiên mà xã hội đã giao phó cho giới nữ. Chức năng này cũng dần dần trở thành chuẩn mực xã hội để đánh giá phẩm chất của phụ nữ Mường trong truyền thống, trong hệ thống tục ngữ dân tộc Mường có câu:
“Con đừa chăng hay khăn bành là con đừa trải, Con cài chăng hay mấn bôông bải là con cài hư.”
- Dịch nghĩa
“Con trai không biết săn bắn là con trai lười, Con gái không biết dệt cửi là con gái hư.”
Tùy theo từng điều kiện môi trường tự nhiên nhất định, con người dùng vỏ cây, đay gai, tơ…dệt thành quần áo mặc, không chỉ để bảo vệ cơ thể, chống lại những điều kiện bất lợi của môi trường, mà ngay từ thời nguyên thủy, trang phục còn là vật trang trí, làm đẹp cho cơ thể. Do vậy, ở loại vật dụng thường xuyên như áo quần ấy, mỗi dân tộc thường có những cách thức may, trang trí riêng, thể hiện tâm lí, truyền thống thẩm mỹ của mình, có ý thức rõ rệt là thông qua quần áo phân biệt mình với các dân tộc khác. Do vậy ở mỗi dân tộc sớm có quy cách riêng về ăn mặc, phù hợp với giới tính, lứa tuổi, địa vị xã hội…, có khi rất nghiêm ngặt khiến mọi người phải nhất nhất tuân theo. Một nhà nghiên cứu đã nói rằng “Trong xã hội tiền công nghiệp, quần áo mặc trên người là cách làm cho mọi người biết rõ tôi là người dân tộc nào, vùng nào, theo tôn giáo gì, địa vị xã hội ra sao.”
Hơn thế nữa, ở hầu hết các dân tộc trên hành tinh này, trang phục vốn còn là sáng tạo văn hóa của phụ nữ, từ việc tìm kiếm, trồng trọt để tạo ra nguyên liệu, đến chế biến, làm sợi và dệt vải, may cắt, thêu thùa…hầu như là công việc “ thiên tinh” của phụ nữ. những người chị, người vợ, người mẹ có thể hoàn toàn tự hào, trong kho tàng vô cùng phong phú của văn hóa nhân loại, có nhiều phần mà trang phục chỉ là một khía cạnh, là cống hiến chính của bàn tay và trí tuệ của phụ nữ.
2.1. Phụ nữ với việc làm sợi, nhuộm và dệt. Khóa luận: Thực trạng phụ nữ với nghề làm y phục truyền thống.
2.1.1. Làm sợi
- Làm bông
Bông là nguyên liệu chủ yếu và quan trọng nhất trong việc làm y phục truyền thống của người Mường ở Quý Hòa.
Quá trình sinh trưởng và phát triển của cây bông từ khi gieo hạt đến ngày tận thu khoảng 5 đến 6 tháng. Bởi trồng bông là hoạt động nằm trong hệ thống các hoạt động nông nghiệp của người Mường, yêu cầu gieo trồng phải theo đúng mùa vụ cho nên nhân lực được sử dụng thường có cả vai trò của người đàn ông, người phụ nữ và các thành viên trong gia đình.
Cây bông là loại cây có bộ rễ phát triển nên có sức chịu hạn rất tốt, vì vậy, công sức bỏ ra để chăm sóc nương bông trong quá trình sinh trưởng là không nhiều.
Đến thời điểm thu hoạch, phụ nữ đóng vai trò chính và một số thành viên trong gia đình như người già và trẻ con thường sẽ cùng tham gia công tác thu hái do công việc này không cần sử dụng quá nhiều sức khỏe.
Bông sau khi được phơi từ một đến hai nắng thì bắt đầu vào tới công đoạn chế biến. Từ bông muốn trở thành vải phải trải qua một quy trình với nhiều công đoạn như: Cán bông, bật bông, quấn cúi bông, kéo sợi và nhuộm sợi (hoặc không).
Trước hết quả bông phải được tách hạt sau đó bật cho tơi, tiếp đến bông phải được quấn thành các cúi bông, từ đó người phụ nữ tiến hành xe sợi, đây là khâu khó nhất trong quá trình chế biến sợi. Muốn xe sợi săn, tốt, người đàn bà Mường phải phối hợp nhịp nhàng giữa tay quay và tay ve bông thành sợi Khóa luận: Thực trạng phụ nữ với nghề làm y phục truyền thống.
Quá trình này người làm chỉ cần ngồi một chỗ và quay cần bật bông để tách bông ra, công việc này có mất khá nhiều thời gian lại không cần dùng nhiều sức lực vì vậy thường thì những phụ nữ lớn tuổi hoặc con gái mới lớn có thể làm dễ dàng.
- Nuôi tằm, ươm tơ
Đối với giai đoạn nuôi tằm lấy tơ thì thời gian ngắn hơn trồng bông rất nhiều, nhưng ngược lại cần phải rất tỉ mỉ, sát sao và bỏ nhiều công sức để có thể có được mẻ tơ tằm lên màu, bền đẹp.
Việc lấy lá dâu nuôi tằm thì người Mường Quý Hòa trước nay ít trồng theo nương hay ruộng mà thường chỉ trồng trong vườn hoặc bờ rào…bởi số lượng tơ cần sử dụng không quá nhiều khi dệt cạp váy hay mặt phà đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng trong gia đình, vậy nên cũng không cần quá nhiều lá dâu để nuôi tằm.
Thời gian nuôi tằm và được tơ thay đổi theo khí hậu các mùa trong năm. Vào mùa hè hoặc mùa thu thời gian bắt đầu nuôi tằm và được tơ trong khoảng từ 20 đến 25 ngày. Vào mùa Xuân và mùa Đông, thời tiết lạnh, tằm nhả tơ chậm thì thời gian khoảng 1 tháng đến 1 tháng 15 ngày. Trong khoảng thời gian này, phụ nữ trong nhà phải liên tục để ý đến tằm vì lo sợ kiến vàng lên đốt sẽ chết tằm, hoặc tránh các con bướm đen, các con bọ khác bò vào kén tằm sẽ làm cho mẻ tằm không được tốt và màu xấu.
Qui trình chế biến từ kén thành sợi có phức tạp hơn chế biến sợi bông. Sau khi được kén. Công việc đầu tiên là phải đưa vào kéo sợi nếu không kén sẽ bị hỏng. Trước hết kén được ngâm vào nước trong khoảng 3 giờ, sau đó vắt sạch nước, bỏ vào nồi đun sôi, nếu thấy kén thâm lại là được. Khi kén chín, người đàn bà bắt đầu kéo tơ. Theo kinh nghiệm dân gian Mường cũng như một số dân tộc khác, kén chín vừa thì kéo sợi trơn và nhẹ tay, kén sống kéo nặng tay, kén chín quá thì sợi nẫu không kéo được. Người phụ nữ kéo tơ ngồi trên một cái ghế, trước mặt là nồi ươm. Khi kéo tơ người ta dùng đũa khoắng đều trong nồi, lấy một đầu tơ ra rồi mắc qua cần kéo tơ, quấn vào guồng. Sau đó đặt lên một tấm phản nhẵn rồi quay vào thành từng con sợi. Sau khi quay sợi xong phụ nữ Mường đem phơi trên sào tre. Thông thường, cứ khoảng 20 cân kén thì thu được 1 cân tơ.
Không ai khác ngoài người đàn bà trong gia đình sẽ trực tiếp thực hiện các thao tác chế biến trên để cho ra loạt tơ tằm sạch sẽ và thành sợi gọn gàng. Sợi tơ tằm do phụ nữ Mường làm ra khác xa so với trong tưởng tượng của tôi với một chất liệu mềm mượt thì ngược lại, tơ tằm ở đây hơi thô ráp và óng ánh màu vàng nhạt. Tuy vậy chúng sẽ tạo thành những chiếc cạp váy hoặc khăn quấn rất bền, có thể truyền qua vài đời sử dụng.
2.1.2. Công cụ chế biến nguyên liệu và dệt Khóa luận: Thực trạng phụ nữ với nghề làm y phục truyền thống.
- Đối với kéo sợi bông
Hệ thống công cụ kéo sợi bông bao gồm:
Máy cán bông: việc cán bông được tiến hành bằng một bàn cán nhỏ bằng gỗ. Bàn cán là một cái khung gỗ rộng 30 cm, cao 50 cm. Nối giữa hai thanh gỗ đó là hai trục cán bông nằm sát nhau có độ dài 60cm và 80cm. Một phía đầu hai trục đó xếp bằng nhau bởi hai bánh răng cưa hay còn gọi là múi khế tạo ra từ hai đầu trục. Các múi khế có tác dụng giữ cho trục quay đều không bị tuột khi có bông đi qua giữa hai trục. Một phía đầu trục kia được gắn một tay quay bằng gỗ. Dụng cụ cán bông này tương tự như dụng cụ cán bông của người Thái.
Cần bật bông: Bông muốn tới xốp phải được bật bằng một công cụ gọi là cần bật bông và que bật bông. Cần bật bông có hai bộ phận: Thân và dây. Thân cần là một thanh gỗ hình tròn dài 50cm, rộng 4cm. Chỗ rộng nhất là chỗ thân cần dày 1cm, hai đầu cần nhỏ, thon dần. Cần là một dây cung bằng thép hoặc bằng sợi gai.
Que và bàn quấn cúi bông: Que được làm bằng tre hoặc gỗ vót tròn như chiếc đũa. Bông được rải trên một chiếc bàn bằng gỗ hình chữ nhật có kích thước khoảng 15cm chiều rộng và dài 25cm. Muốn quấn bông thành các cúi, người ta đặt que lên mặt bàn gỗ đã rải bông, một tay cầm qua, một tay lăn cho bông quấn quanh que. Khi được một cúi bông lại rút ra làm tiếp.
Guồng xe sợi: Từ cúi bông muốn thành sợi phải dùng guồng xe sợi, hay còn gọi là xa kéo sợi. Guồng xe sợi gồm hai trục quay được đặt trên một giá gỗ dài 60cm đến 70cm. Một đầu trục quay được gắn với guồng quay (4 cánh hoặc 6 cánh) đặt trên giá đỡ làm bằng hai thanh gỗ cao khoảng 40cm. Đường kính của guồng quay khoảng 50cm. Đầu trục quay bên kia ở vị trí thấp hơn, không có guồng mà chỉ có một chiếc kim giữ sợi. Khi kéo sợi, người ta lấy một đầu sợi ở búp bông vê thật nhỏ và quấn chặt vào chiếc kim, khởi động trục quay và kéo sợi. Khóa luận: Thực trạng phụ nữ với nghề làm y phục truyền thống.
- Công cụ dệt vải
Trong bức tranh chung của nghề thủ công truyền thống ở Việt Nam cùng với các nghề quen thuộc như đan lát, mộc, gốm thì nghề dệt được tồn tại như một dấu ấn của sự phát triển qua quá trình tộc người và toàn xã hội, bởi lẽ nó là sự biểu hiện của sự sáng tạo lớn lao trong lịch sử, kinh tế, văn hóa của cộng đồng tộc người, điều này phù hợp với nhận định của Ăng ghen trong tác phẩm kinh điển: Nguồn gốc của gia đình của chế độ tư hữu và của nhà nước.Trong đó đã khẳng định “Từ thời đại dã man sang thời đại văn minh được đánh dấu bởi hai thành tựu có ý nghĩa đăc biệt quan trọng, mang tính cách mạng trong kịch sử nhân loại, thành tựu thứ nhất là khung dệt, thành tựu thứ hai là nấu quặng và chế tạo đồ kim loại” điều này chứng minh cho ta thấy sáng tạo ra nghề dệt và khung cửi dệt là một thành công vô cùng lớn thể hiện được tài năng và sự sáng tạo của loài người nói chung và người dân tộc Việt Nam cổ xưa nói riêng. Đối với khung dệt của người Mường:
Có hai loại khung cửi: khung cửi dệt vải và khung cửi dệt cạp váy. Cả hai đều được tạo nên bởi các thao tác và hình dạng giống nhau. Chỉ khác ở chỗ khung cửi dệt cạp váy dùng nhiều co hơn. Trước khi thực hiện dệt cạp váy, người phụ nữ Mường phải phải vớt co (sắp xếp các co để tạo hoa văn khi dệt), hoa văn càng phức tạp thì số co càng lớn.
Khung cửi dệt vải truyền thống của người Mường ( theo Jean Cusrinier) khá giống của người Thái cả về kích thước, duy chỉ khác một điều đó là ở khung cửi của người Mường thì hình thức của bộ phận sợi của vòng cung có hình một con chim, và có tên gọi là “kon ak” (con quạ). Tuy vậy, trong thực tế còn tùy thuộc vào kinh tế và điều kiện của mỗi hộ gia đình mà công cụ dệt có hình dáng và kích thước to nhỏ khác nhau.
Công cụ dệt được gọi là khung cửi bao gồm các bộ phận: Khung gỗ, con thoi, con ác, bàn đạp (để điều khiển co thay đổi lên xuống tạo thành các hoa văn khác nhau).
Để làm một chiếc khung cửi trong truyền thống thì người đàn ông trong gia đình phải là người thực hiện việc này. Cũng có khi người đàn ông không biết làm hay trong nhà không có đàn ông thì sẽ phải nhờ một người thợ mộc trong làng đóng giúp rồi trả công bằng lúa, gạo hay các vật phẩm nông nghiệp khác.
Sau khi đã đóng xong khung cửi, người đàn bà sẽ tự làm nốt các thao tác còn lại để tạo nên một chiếc khung cửi hoàn thiện như mắc thoi, xỏ dây, vớt co…công đoạn này đối với người chưa có nhiều kinh nghiệm thì vô cùng khó bởi cần phải có sự tỉ mỉ, và kinh nghiệm của người đàn bà trong gia đình mới không bị nhầm lẫn.
2.1.3. Kỹ thuật dệt vải Khóa luận: Thực trạng phụ nữ với nghề làm y phục truyền thống.
Vai trò của người đàn ông đã hoàn toàn không còn hiện hữu trong các khâu từ sau khi thu lượm bông về, người phụ nữ sẽ hoàn toàn đảm nhận tất cả các khâu còn lại từ dệt váy, dệt áo, dệt cạp hay nhuộm và trang trí. Đối với việc dệt vải, các kỹ năng mà người phụ nữ Mường cần sử dụng không quá nhiều hay quá khó như khi dệt thổ cẩm.
Lúc dệt vải, sau khi đưa sợi lên khung là có thể dệt ngay được, kỹ thuật dệt đơn giản lại không chú trọng đến tạo hoa văn nên phụ nữ nào cũng có thể thao tác thành thục. Đặc biệt ở công đoạn này, các bà, các mẹ thường hay để cho các cô con gái, cháu gái của mình tập luyện kỹ năng dệt.
Với những phụ nữ khéo tay và có kỹ thuật cao thì thời gian để dệt xong một chiếc váy khoảng 3 đến 5 ngày tùy thuộc vào các công việc sinh hoạt trong gia đình nhiều hay ít. Hay đúng hơn, là tùy thuộc vào thời gian mà họ dành để dệt là ít hay nhiều.
Ngoài các sản phẩm trong trang phục dân tộc Mường ra, phụ nữ Mường còn dệt rất nhiều các loại vải khác, đặc biệt là vỏ chăn, vỏ gối. Chưa kể đến mặt ngoài của chăn gối là dạng thổ cẩm, mặt trong (hoặc mặt dưới) của vỏ chăn và vỏ gối đều là loại vải thường không có hoa văn được phụ nữ Mường tự tay dệt rồi khâu lại tạo thành một chiếc vỏ chăn, vỏ gối hoàn chỉnh. Kỹ thuật sử dụng để dệt vỏ chăn và vỏ gối cũng tương tự như dùng để dệt áo, váy, nhưng không cần quá coi trọng sự tỉ mỉ và tính thẩm mĩ cao như khi dệt trang phục.
2.1.4. Kỹ thuật dệt cạp váy
Thông thường phụ nữ Mường dệt cạp váy từ loại sợi tơ tằm đã nhuộm màu và phải dệt trên một khung dệt riêng khung dệt vải với nhiều go, mỗi go dành một loại sợi màu. Với bàn tay của phụ nữ Mường, các go màu trên khung dệt đan cài, biến hóa thành hình hài các hoa văn như sao tám cánh với nhiều biến thể, con rồng uốn khúc, các loại hoa rừng, các con vật, cành lá,..
Dệt cạp váy là công việc rất khó và tỉ mỉ. Không chỉ đòi hỏi về mặt kỹ thuật mà còn yêu cầu người dệt về mặt thẩm mỹ, tính sáng tạo, sự kiên trì, nhẫn nại cao. Do vậy, muốn dệt nên một chiếc cạp váy đẹp thì trước tiên người phụ nữ phải thành thạo dệt vải, luyện tập dệt cạp váy từ trình độ thấp đến cao. Dệt từ lọai ít go dần dần đến loại nhiều go, đạt tới khoảng 50 go là đã chạm tới trình độ cao nhất của kỹ thuật dệt cạp váy. Khóa luận: Thực trạng phụ nữ với nghề làm y phục truyền thống.
Trong bản mường nếu như nhà nào cũng có khung dệt vải thô, thì số người dệt cạp váy không nhiều, người dệt giỏi lại càng hiếm. Thời xưa, thường những phụ nữ thuộc gia đình giàu có, quý tộc, có nhiều thời gian nhàn rỗi, lại giao tiếp rộng nên họ có điều kiện nâng cao và hoàn thiện những mẫu thêu dệt hoa văn cạp váy.
Tuy tuân thủ những lề luật dệt hoa văn, cạp váy chung được truyền từ đời này sang đời khác, nhưng mỗi người, mỗi vùng đều có những biến cải, dần tạo ra những phong cách riêng. Phụ nữ Mường Vang ( huyện Lạc Sơn) từ xưa tới nay vẫn luôn nổi tiếng là những người khéo tay nhất trong việc dệt hoa văn cạp váy. Truyền thống này là động lực không nhỏ để nghề dệt thổ cẩm, đặc biệt là dệt cạp váy ở Quý Hòa còn được bảo lưu và phát triển trong xã hội hiện đại.
2.1.5. Lựa chọn hoa văn dệt.
Như chúng tôi đã nêu ở phần trên, trong bộ y phục dân tộc truyền thống của người Mường, gần như chỉ có duy nhất phần cạp váy là phụ nữ Mường dụng công trang trí bằng các hoa văn dệt thổ cẩm. Trong đó, ba phần tạo nên cạp váy là Rang trên, Rang dưới và Cao đều mang những đặc điểm hoa văn khác nhau, tạo nên một chiếc cạp váy đa dạng mà thống nhất.
- Rang trên
Các hoa văn được sử dụng nhiều nhất trong rang trên là lọai hoa văn hình học và bố cục của rang trên được phối hợp theo hai loại là bố cục ô chéo và bố cục thành dải với hoa văn là những mảng trắng nổi trên nền đen, và hòa sắc với nền đen thành những mảng xám.
Phủ kín mặt rang trên là nhiều mô típ chen nhau cả trong lẫn ngoài ô chéo. Trong long mỗi ô chéo lại lồng thêm một hay hai ô chéo nhỏ hơn, đồng tâm với ô lớn. Hoặc không có ô chéo nhỏ bên trong mà thay vào đó là phô ra hình bốn chữ thập trấn ở bốn góc ô lớn. Hay có thể là hình tượng ngôi sao 8 cánh tách rời nằm trong ô lớn đó. …
- Rang dưới
Rang dưới là thành phần quan trọng nhất trong kết cấu cạp váy Mường. Nó quan trọng không những về quy mô (bộ phận có kích thước rộng nhất) mà cả về hình thức trang trí (bộ phận độc nhất có hoa văn động vật). Tuy vậy, rang dưới vẫn không thoát khỏi tinh thần trang trí Mường với bố cục quen thuộc – bố cục thành dải. Khác với mô típ hoa văn rang trên, ở rang dưới mỗi mô típ được lặp đi lặp lại dọc một dải nhỏ, màu sắc trên mỗi mô típ ở mỗi dải lại khác với mô típ tiếp theo. Bởi vậy, mặc dù hoa văn động vật rối hơn hoa văn hình học nhưng vẫn hiện lên rành mạch trên nền đen bằng màu vàng, đỏ, xanh hay trắng.
Ngoài các hoa văn động vật làm chủ đạo ra thì phụ nữ Mường còn sử dụng các hoa văn hình học gần tương tự ở rang trên để phối kết hợp thêm trong lối trang trí ở rang dưới. Điều này tạo nên một sự kết hợp trang trí vô cùng ấn tượng.
- Cao
Cao được cho là bộ phận ít quan trọng nhất trong ba bộ phận hợp thành váy Mường. Một điều ta dễ dàng nhận thấy nhất ở Cao là các vệt màu hợp thành Cao là những sọc đứng, nghĩa là triển khai theo hướng chiều dọc của thân váy, ngược với hướng triển hai theo chiều ngang thân váy của các dải hoa văn trên hai rang. Đặc điểm này của Cao đã làm phá vỡ bố cục đơn điệu của bố cục thành rải. Tuy vậy, một số nhà nghiên cứu văn hóa như Từ Chi đã chỉ ra nghi vấn về nguồn gốc thật sự của Cao có liên quan đến thắt lưng của phụ nữ Dao, phụ nữ Cao Lan…
2.2. Vai trò của phụ nữ trong nhuộm sợi, vải. Khóa luận: Thực trạng phụ nữ với nghề làm y phục truyền thống.
Người Mường ở Quý Hòa truyền thống nhuộm sợi tơ, sợi bông khi dệt thổ cẩm làm Cạp váy hay mặt phà (chăn), họ chỉ nhuộm vải tấm đối với loại vải thô và vải khổ lớn được dùng để may áo hoặc chân váy.
Thoạt nhìn ta cứ nghĩ rằng phụ nữ Mường chỉ dụng công vào nơi cạp váy, còn phần từ thân váy trở xuống có phần đơn điệu, xẩm tối. Thực ra không phải như vậy, Phụ nữ Mường nhuộm vải thân váy khá công phu, tạo nên mầu vừa bền vừa bóng.
Dù là nhuộm sợi cuộn hay nhuộm vải tấm, dù là lụa hay bông, trước đây, họ đều dùng loại quả, hạt hay cây lá tự nhiên để nhuộm. ví dụ: Mầu đen thì dùng tro bếp hòa tan với nước rồi dùng vải lọc sạch cặn; Để nhuộm ra màu vàng thì dùng quả Củng khu – một loại quả trong rừng hiện tại khá hiếm, có màu đỏ giã nát rồi đem đun sôi với vải mộc; Nhuộm màu nâu thì dùng củ nâu, gọt vỏ giã nhỏ, vải mộc được đem ngâm nước củ nâu sau đem phơi nắng cho khô, nhuộm đi nhuộm lại 3 đến 4 lần tới khi nào màu vải sẫm như quả dâu chín là được…
Trước khi có phẩm nhuộm thì người Mường chỉ có thể sử dụng các loại sản vật tự nhiên để nhuộm được một số màu đơn giản như màu nâu, màu đen, màu vàng nhạt hay màu xanh. Sau này, họ mua được loại phẩm nhuộm Annilin thì màu sắc đa dạng hơn, sáng và đẹp họ chỉ thay đổi phương pháp của họ theo sản vật nhuộm được sử dụng, những sản vật đó không nhiều lắm; những chiếc bang vải có vẽ mầu, nhiều nhất là năm mầu, và đàn bà dùng phẩm nhuộm annilin cũng không vượt quá số mầu đó, vì sức mạnh của thói quen cổ truyền rất lớn. Khóa luận: Thực trạng phụ nữ với nghề làm y phục truyền thống.
2.3. Cắt may và thiết kế kiểu dáng y phục
Các dân tộc thuộc nhóm Việt – Mường như Việt, Mường, Thổ, Chút sinh sống trong các vùng đồng bằng châu thổ lớn, duyên hải và thung lũng vùng núi phía Bắc và Bắc Trung bộ là những di duệ trực tiếp của thời cổ Hùng Vương, do vậy giữa họ có nhiều nét tương đồng về kiểu dáng trang phục. Nam giới mặc quần với áo cánh ngắn, phụ nữ mặc váy. Sau này khi xã hội phát triển hơn trở thành Thành thị và các vùng nông thôn nhiều nơi mới chuyển sang mặc quần. Phụ nữ mặc áo cánh xẻ ngực, ít khi cài cúc, để hở yếm ở trong, áo choàng dài mặc ngoài không cài cúc mà để buông hay thắt vạt… trong các dân tộc thuộc nhóm này, người Mường ở Việt Nam nói chung và người Mường Quý Hòa nói riêng giữ lại nhiều nhất cốt cách ăn truyền thống.
Giống như phụ nữ Kinh xưa kia, phụ nữ Mường cũng mặc yếm che phần ngực, có dây vải buộc trên cổ và sau lưng để giữ. Khi mặc cạp váy che khuất phần dưới yếm, chỉ để hở phần nhỏ ở gần cổ. Tùy từng người, từng trường hợp người ta có thể chọn yếm trắng, hay yếm màu hồng đỏ…
Mặc ngoài yếm là chiếc áo cánh ngắn và áo chùng. Tất nhiên không phải bao giờ bộ trang phục Mường cũng đầy đủ như vậy, thông thường họ sẽ mặc áo cánh ngắn với yếm hoặc áo chùng với yếm.
Trong truyền thống, để cắt may một bộ trang phục, sau khi đã hoàn thành công tác dệt cạp, dệt vải cũng như nhuộm màu. Phụ nữ Mường thường mất nhiều thời gian hơn trong việc cắt may chiếc áo cánh hơn là cắt may chiếc váy. Bởi để may được một chiếc áo cánh hoàn chỉnh họ phải cần khá nhiều các thao tác như: đo vải, cắt, may vá.
Để có một chiếc áo cánh đẹp, vừa văn với người mặc, phụ nữ Mường phải dùng chính miếng vải tự dệt đó để đo áng chừng trên cơ thể của người mặc. Các số đo cần thiết đặc biệt là chiều rộng của vai, chiều dài tay áo và eo. Sau khi có các số đo cần thiết thì họ bắt tay vào cắt và khâu. Để hoàn thành một chiếc áo cánh ngắn phụ nữ Mường mất thời gian khoảng 1 ngày đối với những người khéo tay, và có nhiều kinh nghiệm.
Đối với chiếc váy, phụ nữ Mường bỏ qua bước đo số đo bởi nó không cần thiết. Họ chỉ cần may liền hai đầu của miếng vải hình chữ nhật đã dệt thành một mảnh vải hình ống, có độ dài khi chập lại kéo căng khoảng 60 đến 70 cm.
2.4. Vai trò của phụ nữ Mường trong trang trí y phục Khóa luận: Thực trạng phụ nữ với nghề làm y phục truyền thống.
2.4.1. Các thao tác trang trí
- Cạp váy
Đối với cạp váy Mường gần như chỉ có duy nhất thao tác dệt là hình thức trang trí của nó. Hay nói chính xác hơn trong quá trình tạo ra cạp váy, phụ nữ Mường đã thực hiện luôn công tác trang trí. Sau khi đã dệt đủ ba bộ phận của cạp váy, họ chỉ cần khâu lại tạo thành một chiếc cạp váy hoàn chỉnh. Các bộ phận của Cạp váy Mường khác nhau về vị trí, kích tấc rộng hẹp và đặc biệt là kiểu lại hoa văn trang trí. Hoa văn trên rang trên và cao chủ yếu là hoa văn hình học : sao, ô vuông, ô trám, chữ thập…
Hoa văn trên rang dưới chủ yếu là hoa văn các loại động vật : rồng, công, rùa, răng dũi… Bố cục trang trí trên ba bộ phận này cũng có khác biệt. Nếu như ở rang trên, rang dưới thì bố cục theo băng dải, một hình thức bố cục trang trí truyền thống thì ở trên cao bố cục lại trang trí theo lóng dọc chân váy. Từ cách trang trí cạp váy này, người ta liên tưởng đến mói quan hệ gần gũi giữa cạp váy Mường và trang trí mặt trống đồng Đông Sơn cách ngày nay mấy nghìn năm.
Màu sắc hoa văn trang trí thường là những màu gốc : Xanh, đỏ, vàng, đen, trắng. Tuy nhiên khi chúng được đan rậm lại với nhau và phối màu trên nền chàm đen làm cho các tông màu như chìm hẳn xuống, chứ không nổi rực như màu sắc hoa văn trên khăn Piêu Thái hay váy áo Hmong.
- Nẹp chân váy
Đối với những chiếc váy được làm ra với mục đích sử dụng trong các ngày lễ hội, đám cưới, hay là chiếc váy dùng để đi chơi của các cô gái Mường chưa chồng thì ở chân váy người ta có thể trang trí thêm một số hình hoa văn màu sắc sặc sỡ làm tăng thêm vẻ đẹp và sự khéo léo của cô gái. Khóa luận: Thực trạng phụ nữ với nghề làm y phục truyền thống.
Tuy vải nẹp chỉ rộng chừng hai đốt tay, mà lại ẩn bên trong gấu váy nhưng phụ nữ Mường ra công nhuộm hồng hoặc đỏ, xanh, điểm vào những bông hoa, cách tạo những bông hoa này không phải do thêu, dệt mà là do tài khéo nhuộm. Khi nhuộm người ta thắt nút vải lại, sao cho những chỗ đó thuốc nhuộm không thấm vào được, nhuộm xong nơi đó hiện lên những bông hoa trắng giữa nền hồng, xanh hoặc đỏ, chỗ thưa, chỗ dày…
Tiểu kết chương 2
Với ý nghĩa rộng nhất của khái niệm “cái đẹp” thì phụ nữ chính là những người biểu hiện trọn vẹn của khái niệm này. Trong ăn mặc của bất cứ dân tộc nào, dù còn ở trình độ lạc hậu hay đã đạt tới văn minh, phụ nữ bao giờ cũng đẹp nhất. Họ là người tạo ra cái đẹp, đồng thời cũng là người có ý thức biết làm đẹp cho chính mình. Trong việc tạo ra và sử dụng trang phục, phụ nữ có ý thức về cái đẹp của riêng mình, hơn thế nữa, trong xã họi truyền thống, phụ nữ ít giao tiếp với bên ngoài, ít qua lại các vùng khác xa xôi như nam giới nên họ giữ lại lâu bền nhất sắc thái dân tộc thông qua quần áo cũng như các sinh hoạt văn hóa khác.
Bởi vậy có thể nói rằng, phụ nữ chính là một trong những sắc thái nổi bật nhất của văn hóa dân tộc. Tuy nhiên bản sắc văn hóa dân tộc không phải là thứ nhất thành bất biến, mà là “ nhất thành vạn biến”. Biến đổi không ngừng tùy theo từng hoàn cảnh lịch sử cụ thể, nhưng vẫn giữ cái cốt cách, cái nền tảng ban đầu, đó chính là quy luật kết hợp truyền thống và đổi mới của văn hóa.
Cái sợi dây để gắn kết nền tảng ban đầu của truyền thống văn hóa với sự đổi mới của phụ nữ Mường ở các xã của Lạc Sơn, đặc biệt là Quý Hòa thể hiện ở các câu ca dao, tục ngữ vẫn còn thường xuyên hiện hữu và đang lưu truyền ngày nay :Đàn bà không biết dệt vải là đàn bà nhác, Đàn ông không biết buộc lạt là đàn ông hư. Hay: Đàn ông hẩu nấm ná, đàn bá hẩu truộc vằn (Muốn biết đàn ông hãy xem bờ nà, muốn biết đàn bà hãy xem cạp váy). Và: Con đừa phui mốt khí đọt moong sả lài, Con cài phui mốt khí để sắm (Con trai vui khi săn muông buông lưới, Con gái vui khi dệt cửi chăn tằm, ươm tơ).
Người Mường ở Quý Hòa mang đầy đủ những đặc trưng đặc sắc nhất của dân tộc Mường ở Hòa Bình nói riêng, ở Việt Nam nói chung cả về văn hóa tinh thần và văn hóa vật chất. Trong đó, những đặc trưng về văn hóa trang phục truyền thống đã được thể hiện rất rõ nét trong lịch sử. Khóa luận: Thực trạng phụ nữ với nghề làm y phục truyền thống.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Giải pháp phụ nữ với nghề làm y phục truyền thống
