Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại NH Đông Á

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại NH Đông Á hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại NHTMCP Đông Á – Chi nhánh Hải Phòng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

2.1. Khái quát về Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á – Chi nhánh Hải Phòng.

2.1.1. Quá trình phát triển.

Thành phố cảng Hải Phòng là một trong những thành phố lớn trực thuộc Trung ương có bề dày lịch sử phát triển lâu dài. Sự phát triển kinh tế dẫn đến một nhu cầu tất yếu tài chính, các công ty, xí nghiệp sản xuất kinh doanh trong mọi lĩnh vực là cơ sở để mở rộng hệ thống Ngân hàng.Với những điều kiện đó, ngày 1/7/2005, Ngân hàng Đông Á – Chi nhánh Hải Phòng chính thức được thành lập.

Ngân hàng Đông Á – Chi nhánh Hải Phòng là một Ngân hàng hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng, dịch vụ Ngân hàng, thông qua hoạt động này Ngân hàng tăng cường tích lũy vốn để mở rộng đầu tư cùng các đơn vị kinh tế thuộc mọi thành phần, tích lũy sản xuất lưu thông hàng hóa, tạo công ăn việc làm, góp phần ổn định lưu thông tiền tệ và thực hiện sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước.

Để mở rộng thị phần, tăng cường hoạt động huy động vốn, mở rộng tín dụng, tạo lòng tin trong khách hàng, tăng thu nhập cho Ngân hàng và nâng cao khả năng cạnh tranh trên địa bàn, ngoài Chi nhánh chính ở Tô Hiệu, còn có phòng giao dịch Hồng Bàng, Kiến An, Thủy Nguyên, Ngô Quyền…

Địa chỉ: 262 Tô Hiệu, Phường Hồ Nam, Quận Lê Chân, Thành phố Hải Phòng.

2.1.2. Sơ đồ cơ cấu tổ chức và nhiệm vụ của các phòng ban Ngân hàng Đông Á – Chi nhánh Hải Phòng.

2.1.2.1. Giám đốc.

  • Là người trực tiếp điều hành và chịu trách nhiệm về mọi hoạt động kinh doanh của Ngân hàng.
  • Tiếp nhận và hướng dẫn cán bộ, nhân viên của Ngân hàng về những nhiệm vụ của cấp trên bàn giao.
  • Có quyền quyết định sắp xếp, bổ nhiệm, khen thưởng, kỷ luật cán bộ nhân viên của Ngân hàng.

2.1.2.2. Phó Giám đốc.

  • Bao gồm 2 Phó Giám đốc phụ trách lĩnh vực riêng.
  • Thay mặt Giám đốc điều hành công việc khi Giám đốc vắng mặt và báo cáo lại kết quả khi Giám đốc có mặt tại đơn vị.
  • Giúp Giám đốc chỉ đạo điều hành một số nghiệp vụ do Giám đốc phân công phụ trách và chịu trách nhiệm về quyết định của mình. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại NH Đông Á.

2.1.2.3. Phòng dịch vụ khách hàng.

  • Thực hiện việc huy động vốn ngắn hạn, trung hạn và dài hạn từ các cá nhân, tổ chức (trừ các TCTD và định chế tài chính) bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ; giới thiệu tư vấn cho khách hàng các sản phẩm của Ngân hàng.
  • Thực hiện cung cấp các dịch vụ tài khoản, dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng và dịch vụ thanh toán theo yêu cầu của các đơn vị kinh doanh (giải ngân, thu nợ, thu lãi cho vay, liên Ngân hàng nội bộ…)
  • Thực hiện thu trả đối với các sản phẩm dịch vụ Ngân hàng, cung cấp dịch vụ chuyển tiền quốc tế và mua bán ngoại tệ.
  • Thực hiện nghiệp vụ chiết khấu, cầm cố giấy tờ có giá theo quy định của Ngân hàng trong trường hợp được giao.
  • Xây dựng và tổ chức thực hiện các chính sách về khuyến mại khách hàng, giá cả dịch vụ và phương án huy động vốn.
  • Thực hiện việc lập kế hoạch và báo cáo nghiệp vụ dịch vụ Ngân hàng của Chi nhánh.
  • Cập nhật, quản lý và lưu trữ hồ sơ nghiệp vụ thuộc lĩnh vực hoạt động của phòng.

2.1.2.4. Phòng Tín dụng.

2.1.2.4.1 Nhiệm vụ phát triển Khách hàng, thẩm định và quản lý Tín dụng.

  • Thực hiện các nghiệp vụ cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn đối với khách hàng bao gồm: tiếp thị phát triển khách hàng, thu thập thông tin (tài chính và phi tài chính), lập tờ trình thẩm định, hoàn thiện hồ sơ, giải ngân khoản vay.
  • Thực hiện các nghiệp vụ bảo lãnh, bao thanh toán, chiết khấu và các nghiệp vụ cấp tín dụng và tài trợ thương mại cho khách hàng.
  • Thực hiện quản lý các khoản tín dụng và thu hồi nợ, kể cả các khoản tín dụng có dấu hiệu bất thường và nợ xấu.
  • Xây dựng, thẩm định và thực hiện chính sách tín dụng của Ngân hàng đối với từng khách hàng, bảo đảm phù hợp với thị trường tín dụng trên địa bàn.
  • Giới thiệu, tư vấn cho khách hàng về các sản phẩm, dịch vụ của Ngân hàng và bán chéo các sản phẩm, dịch vụ của Ngân hàng cho khách hàng.
  • Thực hiện việc lập kế hoạch tín dụng của Chi nhánh.

2.1.2.4.2. Nhiệm vụ kiểm soát và hỗ trợ tín dụng (do tổ kiểm soát và hỗ trợ tín dụng thực hiện).

  • Thực hiện việc công chứng, đăng ký và thông báo các giao dịch bảo đảm tiền vay và các bảo đảm cấp tín dụng khác.
  • Hoàn thiện hồ sơ pháp lý trước khi giải Ngân, phát hành thư bảo lãnh, bảo đảm tính tuân thủ về hồ sơ pháp lý cho đến khi tất toán khoản tín dụng. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại NH Đông Á.
  • Quản lý việc định giá tài sản bảo đảm tiền vay, đánh giá tài sản đảm bảo tiền vay cho toàn bộ hoặc từng phần dư nợ theo định kỳ hoặc đột xuất.
  • Thông báo cho khách hàng và cán bộ tín dụng về việc đến hạn của các khoản nợ, mua bảo hiểm và các thời hạn khác liên quan đến khoản nợ.
  • Thực hiện các biện pháp xử lý, thu hồi nợ xấu và nợ đã sử dụng dự phòng đối với các khoản nợ được giao xử lý.
  • Tổng hợp và đề xuất việc phân loại tài sản “Có”, trích lập và sử dụng dự phòng, xóa nợ, khoanh nợ, miễn giảm lãi, tạm dừng tính lãi, mua bán nợ, xử lý tài sản bảo đảm tiền vay, xử lý trách nhiệm của các cá nhân liên quan.
  • Cập nhật, quản lý, lưu trữ hồ sơ tín dụng và hồ sư nghiệp vụ thuộc lĩnh vực hoạt động của phòng.

2.1.2.5. Phòng kế toán.

  • Thực hiện công việc kế toán tổng hợp, quản lý tài chính và chi tiêu nội bộ.
  • Thực hiện tạo lập và kiểm soát các báo cáo kế toán tổng hợp, báo cáo tài chính.
  • Tổng hợp kế toán, kiểm soát đối chiều với báo cáo tổng hợp nghiệp vụ của các phòng nghiệp vụ, bảo đảm cân đối, chính xác và đầy đủ, tập hợp, đóng và lưu trữ các chứng từ nghiệp vụ.
  • Cập nhật, quản lý và lưu trữ hồ sơ nghiệp vụ thuộc lĩnh vực hoạt động của phòng.

2.1.2.6. Phòng Hành chính tổng hợp.

  • Thực hiện công việc việc lễ tân và soạn thảo văn bản quản lý, điều hành theo chỉ đạo của Giám đốc Chi nhánh.
  • Quản lý hồ sơ nhân sự và thực hiện công việc tuyển dụng, đào tạo.
  • Quản lý hồ sơ tiền lương và thực hiện các nghiệp vụ về tiền lương, bảo hiểm xã hội và các chế độ khác đối với người lao động; quản lý tài sản, công cụ lao động.
  • Thực hiện các báo cáo thống kê và tổng hợp; công việc hành chính, quản trị.
  • Tổ chức thực hiện và giám sát việc thực hiện nội quy lao động và văn hóa DN.
  • Làm đầu mối duy trì, phát triển thương hiện và hình ảnh của Ngân hàng tại nơi giao dịch và trên địa bàn được giao.
  • Cập nhật quản lý và lưu giữ hồ sơ nghiệp vụ thuộc lĩnh vực hoạt động của phòng.

2.1.2.7. Phòng Ngân quỹ. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại NH Đông Á.

  • Quản lý và thực hiện các nghiệp vụ tiền tệ – kho quỹ: thu – chi tiền mặt, ngoại tệ tại quỹ; thu – chi tiền măt VNĐ, ngoại tệ đối với các DN; thu đối với ngoại tệ mặt đối với khách hàng.
  • Quản lý, bảo quản tài sản trong kho và thực hiện việc giao nhận, bảo quản, vận chuyển tiền mặt, giấy tờ có giá theo đúng quy định.
  • Thực hiện các dịch vụ Ngân quỹ phục vụ khách hàng: bảo quản giấy tờ có giá, tài sản thế chấp và tài sản của khách hàng gửi.
  • Hướng dẫn khách hàng về thủ tục giấy tờ và sắp xếp tiền khi giao dịch với Ngân hàng.
  • Thực hiện giao nhận và bảo quản tài sản quý giá của khách hàng gửi.
  • Kiểm tra, kiểm kê, bàn giao, xử lý thừa thiếu tiền mặt, tài sản quý, giấy tờ có giá trong kho đúng quy định.
  • Chủ động điều hòa vốn thanh toán tại Chi nhánh, năng động nhạy bén, đảm bảo cân đối có hiệu quả.

2.1.2.8. Phòng thanh toán quốc tế.

  • Thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh ngoại tệ như mua bán, chuyển đổi.
  • Thực hiện công tác thanh toán quốc tế thông qua mạng SWIFT của Ngân hàng Đông Á, chuyển tiền đi nước ngoài của các khách hàng là tổ chức.
  • Thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến thanh toán xuất khẩu hàng hóa, dịch vụ.

Hàng xuất: thông báo L/C hàng xuất khẩu nhận từ nước ngoài, kiểm tra bộ chứng từ hàng xuất do khách hàng xuất trình, thực hiện gửi chứng từ thuộc L/C hoặc chứng từ nhờ thu hàng xuất đi đòi tiền, hạch toán tiền báo có cho khách hàng.

Hàng nhập: nhận hồ sơ mở L/C đã được duyệt từ cán bộ quan hệ khách hàng, thực hiện mở L/C, kiểm trả bộ chứng từ và thanh toán với nước ngoài, thông báo bộ chứng từ nhờ thu nhận từ Ngân hàng nước ngoài và thanh toán với nươc ngoài khi khách hàng chấp nhận. Quản lý và kiểm tra dấu mẫu chữ ký của các Ngân hàng nước ngoài.

2.2. Kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Đông Á – Chi nhánh Hải Phòng từ năm 2023 – 2025. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại NH Đông Á.

2.2.1. Tình hình huy động vốn.

Nguồn vốn của Ngân hàng là toàn bộ các dòng tiền mà Ngân hàng tạo lập được từ nhiều hình thức để đầu tư cho vay và đáp ứng các nhu cầu khác trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Trong đó, vốn huy động tiền gửi là nguồn vốn chủ yếu để các NHTM hoạt động, được huy động bằng các hình thức như tiền gửi thanh toán, tiền gủi tiết kiệm, kỳ phiếu, trái phiếu… từ tiền nhàn rỗi nằm trong dân chúng và các tổ chức kinh tế, cũng như Ngân hàng có thể đi vay của các TCTD, NHNN.

  • Bảng 2.1: Cơ cấu nguồn vốn

Nhìn chung, tổng nguồn vốn của Ngân hàng qua ba năm đều có sự gia tăng đáng kể. Năm 2023, tổng nguồn vốn của Ngân hàng là 1.345.971 triệu đồng, sang năm 2024 tăng lên đến 1.730.619 triệu đồng, tăng 384.648 triệu đồng (tăng 25,6%). Đến năm 2025 tăng lên 1.996.886 triệu đồng, tăng 266.267 triệu đồng (tăng 15,4%) so với năm 2024.

Khoản mục vốn chủ yếu trong tổng nguồn vốn của Ngân hàng, vốn huy động từ tổ chức và dân cư tại địa phương. Năm 2023 vốn huy động chiếm đạt 1.181.239 triệu đồng chiếm 87,8%; năm 2024 đạt 1.428.953 triệu đồng chiếm 82,5% và đến năm 2025 đạt 1.672.913 triệu đồng chiếm 83,8 %. Trong khi đó vốn đi vay chỉ chiếm dưới 1%. Bởi lẽ nguồn vốn đi vay thường chịu chi phí cao hơn so với nguồn vốn huy động. Vì vậy Ngân hàng đã cân nhắc kỹ trong việc đi vay và sử dụng nguồn vốn vay này một cách có hiệu quả. Ngoài ra, vốn điều lệ cũng chiếm tỷ trọng từ 12% – 16% trong tổng nguồn vốn. Vốn điều lệ của Ngân hàng cũng tăng liên tục qua 3 năm.

Vì nguồn vốn huy động tiền gửi chiếm tỷ trọng cao nên để đáp ứng nhu cầu của khách hàng ngày càng đa dạng, Ngân hàng Đông Á đã xây dựng nhiều hình thức tiền gửi tiết kiệm: Nhận lãi tiết kiệm qua thẻ ATM; tiết kiệm cho tương lai; tiết kiệm chấp cánh cho con; tiết kiệm không kỳ hạn VND; … Đồng thời khuyến khích khách hàng sử dụng sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng, thủ tục mở tài khoản tại Ngân hàng ngày càng thuận tiện, nhanh chóng, đơn giản, hạn chế gây phiền hà và tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng. Dưới đây là tình hình huy động vốn mà Ngân hàng Đông Á – Chi nhánh Hải Phòng đã làm được trong những năm gần đây. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại NH Đông Á.

  • Bảng 2.2: Tình hình huy động vốn

Qua bảng số liệu trên ta thấy, nguồn vốn huy động tiền gửi của Ngân hàng liên tục tăng qua các năm. Năm 2025 đạt 1.672.913 triệu đồng so với năm 2024 tăng 243.960 triệu đồng và tăng 17,1%. Năm 2024 đạt 1.428.953 triệu đồng so với năm 2023 tăng 247.714 triệu đồng và tăng 20,9 %. Điều này cho thấy được nguồn vốn mà Ngân hàng huy động được có xu hướng tăng lên rõ rệt để phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình, cũng như thấy được vị thế của Ngân hàng trong ngành.

Đối với loại tiền gửi không kỳ hạn, người gửi vào Ngân hàng không phải mục đích chính là lấy lời mà khi cần sử dụng có thể rút ra nhanh chóng và kịp thời theo mục đích sử dụng. Nguồn vốn huy động không kỳ hạn có xu hướng tăng dần qua các năm. Năm 2025 đạt 418.228 triệu đồng, chiếm 25% trên tổng nguồn vốn, so với năm 2024 tăng 89.569 triệu đồng, tỷ lệ tăng 27,3%. Năm 2024 đạt 328.659 triệu đồng chiếm 23%, so với năm 2023 tăng 57.171 triệu đồng với mức tăng 39,1%. Nguyên nhân là do tiền gửi không kỳ hạn chủ yếu là huy động từ các DN dùng trong hoạt động thanh toán. Điều này chứng tỏ lượng khách hàng DN mở tài khoản và tiền gửi không kỳ hạn nhằm mục đích thanh toán đã ảnh hưởng đáng kể tới nguồn huy động không kỳ hạn của Chi nhánh. Trong năm 2025, Chi nhánh đã mời thêm được gần 30 DN đến mở tài khoản và giao dịch. Mặt khác còn phản ánh mối quan hệ giữa Ngân hàng với các Ngân hàng khác là rất tốt, các dịch vụ thanh toán của Ngân hàng đã phát triển đáp ứng yêu cầu của khách hàng trong thanh toán cùng hệ thống và thông qua các Ngân hàng đối tác. Do đây là nguồn vốn có chi phí rẻ nên Ngân hàng cần phải có nhiều biện pháp khuyến khích các DN, cá nhân mở tài khoản thanh toán tại Ngân hàng; khuyến khích các hoạt động thanh toán qua giao dịch Ngân hàng thay vì thanh toán bằng tiền mặt, khuyến khích trả lương qua tài khoản… Ngoài ra nguồn vốn này tính ổn định không cao, nếu khách hàng rút một khoản lớn thì dễ gây ra rủi ro thanh toán cho Ngân hàng. Vì vậy, Chi nhánh cần chủ động trong việc tính tỷ lệ dự trữ bắt buộc đối với nguồn này để đảm bảo tính chủ động trong hoạt động kinh doanh của mình. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại NH Đông Á.

Nguồn vốn huy động ngắn hạn: Năm 2025 đạt 535.332 triệu đồng, chiếm 32% trên tổng nguồn vốn huy động, so với năm 2024 tăng 92.357 triệu đồng, tỷ lệ tăng 20,1%. Năm 2024 đạt 442.975 triệu đồng chiếm 31%, so với năm 2023 tăng 88.603 triệu đồng, với mức tăng 25%. Ta cũng nhận ra rằng nguồn vốn huy động ngắn hạn có xu hướng tăng cả về số lượng và tỷ trọng trong nguồn vốn huy động. Sở dĩ tăng lên là do: năm 2025 là một năm biến động về lãi suất với mức lãi suất huy động không cao dao động từ 4,8% – 7,5%. Do đó tâm lý người dân là sợ tiền mất giá, nên chỉ tập trung vào gửi ngắn hạn. Điều đó làm cho nguồn vốn huy động trung, dài hạn giảm. Đặc điểm của nguồn vốn ngắn hạn là chi phí thấp đưa lại lợi nhuận cao và khá nhạy cảm với lãi suất, vì thế Chi nhánh cần quản lý chặt chẽ và duy trì tỷ lệ hợp lý đối với nguồn này.

Nguồn huy động trung dài hạn: Năm 2025 đạt 719.353 triệu đồng , chiếm 43% trên tổng nguồn vốn huy động, so với năm 2024 tăng 62.034 triệu đồng, tỷ lệ tăng 9,4%. Năm 2024 đạt 657.319 triệu đồng, chiếm 46 % so với năm 2023 tăng 66.700 triệu đồng với mức tăng 11,3%. Nguồn vốn này chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn vốn huy động và đang có xu hướng giảm dần. Năm 2023 chiếm 50%; năm 2024 chiếm 46%; đến năm 2025 chiếm 43%. Đây là nguồn vốn chính để Chi nhánh tiến hành hoạt động kinh doanh và sử dụng cho hoạt động cho vay trung và dài hạn. Chính vì thế mà Ngân hàng luôn phải chủ động hơn nữa trong việc xác định cơ cấu kỳ hạn tiền gửi, đặc biệt nguồn tiền trung và dài hạn.

2.2.2. Hoạt động thanh toán quốc tế. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại NH Đông Á.

  • Bảng 2.3: Tình hình thanh toán quốc tế

Từ bảng trên, ta thấy: Tốc độ tăng về doanh số thanh toán quốc tế của Chi nhánh Hải Phòng trong 3 năm gần đây tăng nhanh. Từ năm 2023 đến năm 2025 tăng từ 41.576.901 USD lên 82.094.036 USD và tăng 39.517.135 USD. Đây thực sự là một con số ấn tượng, nó càng khẳng định hơn nữa sự phát triển đi lên cũng như thế mạnh của Chi nhánh trong lĩnh vực thanh toán quốc tế, tạo niềm tin cho các nhà xuất nhập khẩu khi tham gia hoạt động thương mại quốc tế. Có được kết quả này là sự nỗ lực hết sức to lớn của nhân viên cũng như ban giám đốc, cùng với đó là Ngân hàng Đông Á nói chung cũng như Chi nhánh Hải Phòng nói riêng có hệ thống Ngân hàng đại lý tập trung ở những nước có nền kinh tế phát triển, thủ tục lại đơn giản, nhanh chóng đã thu hút được nhiều khách hàng hơn. Mặc dù trong hoạt động thanh toán quốc tế không có sự đồng đều trong các phương thức sử dụng, nhưng nhìn chung kết quả mà Chi nhánh đạt được cũng đáng được ghi nhận.

2.2.3. Hoạt động kinh doanh ngoại tệ.

  • Bảng 2.4: Doanh số mua bán ngoại tệ

Qua bảng trên ta thấy doanh số mua bán ngoại tệ của Ngân hàng có xu hướng tăng qua các năm. Năm 2023 đạt 67.702.000 USD, năm 2024 đạt 75.223.000 USD, đến năm 2025 đạt 85.746.000 USD. Thông qua nghiệp vụ này, Ngân hàng đã phát triển mạnh các nghiệp vụ khác như thanh toán nhập khẩu, thanh toán phí mậu dịch, kiều hối nhằm thu hút ngày càng nhiều khách đến giao dịch với Ngân hàng Đông Á. Doanh số mua bán ngoại tệ tăng phần lớn là nhờ vào hoạt động thanh toán quốc tế, chi trả kiều hối và một phần là nhờ vào vai trò là Ngân hàng đại lý. Từ vào hoạt động này mà Ngân hàng có được nguồn cung ngoại tệ dồi dào từ việc chuyển đổi ngoại tệ để phục vụ các nhu cầu chi tiêu của Ngân hàng. Hoạt động kinh doanh tiền tệ ở Chi nhánh luôn có lãi do đội ngũ cán bộ nhân viên giỏi chuyên môn nghiệp vụ, hệ thống thông tin của Chi nhánh hiện đại luôn cập nhật với thị trường tiền tệ các nước trong khu vực và Thế giới một cách nhanh và hiệu quả nhất.

2.2.4. Kết quả hoạt động kinh doanh.

  • Bảng 2.5: Kết quả hoạt động kinh doanh.

Hoạt động kinh doanh của Chi nhánh liên tục tăng từ năm 2023 đến năm 2025. Tăng cao nhất là năm 2025, tốc độ tăng lợi nhuận sau thuế là 130,3% so với năm 2024 tức tăng 28.374 triệu đồng. Như vậy, hoạt động của Chi nhánh trong giai đoạn này luôn có lãi, tuy nhiên trong năm 2024 chưa đạt chỉ tiêu do Ban giám đốc đề ra là tăng 20% so với năm 2023, trong khi đó lợi nhuận chỉ tăng có 2,54%. Nhưng đến năm 2025, đã có tín hiệu đáng mừng khi tốc độ tăng đạt tới 130% cho thấy biện pháp quản lý, các chính sách kinh doanh, những nỗ lực của cán bộ công nhân viên Ngân hàng cũng như vị thế của Ngân hàng TMCP Đông Á – Chi nhánh Hải Phòng đang được nâng cao trong khu vực.

2.3. Thực trạng sử dụng vốn tại Ngân hàng Đông Á – Chi nhánh Hải Phòng. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại NH Đông Á.

2.3.1. Tình hình sử dụng vốn của Ngân hàng Đông Á – Hải Phòng.

  • Bảng 2.6: Bảng kết cấu sử dụng vốn

Dựa vào bảng trên ta thấy, trong hoạt động sử dụng vốn của Ngân hàng Đông Á – Hải Phòng chủ yếu là hoạt động cho vay. Tỷ trọng cho vay tăng liên tục từ năm 2023 đến năm 2025 và chiếm từ 70% – 80%. Hoạt động đầu tư có xu hướng giảm mạnh từ 16,5% chỉ còn 7%. Các hoạt động dự trữ – ngân quỹ và tài sản có khác của Ngân hàng có xu hướng tăng nhưng chiếm tỷ trọng nhỏ. Việc đầu tư vào cơ sở vật chất, trang thiết bị rất được xem trọng ở Ngân hàng. Điều này mở ra một tương lai phát triển nhanh, mạnh cho Chi nhánh. Cơ sở vật chất khang trang càng củng cố vị thế của Ngân hàng trên thương trường, đồng thời tạo được niềm tin trong khách hàng làm tiền đề cho hoạt động sau này.

Mặt khác, trong hoạt động sử dụng vốn của Ngân hàng, lợi nhuận thu được từ các nguồn cũng là một trong những vấn đề được quan tâm. Mặc dù trong những năm gần đây, Thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đang đối mặt với tình trạng thách thức đối với sự ổn định và phát triển nền kinh tế cũng như hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Ảnh hưởng của tỷ giá đồng USD tăng cao, lạm phát, lãi suất thả nổi… đã khiến cho không ít Ngân hàng lâm vào tình trạng khó khăn. Mặc dù vậy, trong những năm qua Chi nhánh đã tập trung mọi nguồn lực, đưa ra các giải pháp phù hợp để tăng thu nhập, cắt giảm những khoản chi phí không cần thiết để đạt mức lợi nhuận cao. Để làm rõ hơn điều này, dưới đây là bảng doanh thu cụ thể mà Chi nhánh đã đạt được trong thời gian qua:

  • Bảng 2.7: Bảng doanh thu cụ thể

Bảng số liệu đã thể hiện: thu nhập từ việc cho vay chiếm tỷ trọng lớn trong tổng doanh thu của Ngân hàng, chiếm hơn 70%,và có xu hướng tăng từ năm 2023 đến năm 2025, năm 2025 đạt tới 75%. Ngân hàng Đông Á – Hải Phòng là một trong những Ngân hàng ngoài quốc doanh của Thành phố Hải Phòng, với những đặc trưng cơ bản của Ngân hàng ngoài quốc doanh, Ngân hàng Đông Á với những hạn chế khách quan vốn có nên công tác sử dụng vốn chủ yếu là dùng cho hoạt động cho vay, còn các hình thức sử dụng vốn khác như đầu tư góp vốn liên doanh, thu mua cổ phần … thực hiện còn hạn chế ở Chi nhánh. Vì thực tế trên, khi xem xét hiệu quả sử dụng vốn của Ngân hàng Đông Á – Hải Phòng cũng chính là hiệu quả của việc cho vay.

2.3.2. Tình hình cho vay tại Ngân hàng Đông Á – Hải Phòng. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại NH Đông Á.

Hoạt động cho vay của Ngân hàng TMCP Đông Á – Chi nhánh Hải Phòng đa dạng và phong phú, với nhiều loại hình cho vay, đa dạng hóa các ngành kinh tế với các thời hạn khác nhau. Để hiểu rõ hơn về vấn đề này, ta phân tích hoạt động cho vay theo thành phần kinh tế, ngành kinh tế và thời hạn.

2.3.2.1. Doanh số cho vay.

2.3.2.1.1 Doanh số cho vay theo thành phần kinh tế.

Nhằm đa dạng tối đa khách hàng vay vốn của mình, Ngân hàng Đông Á –Hải Phòng luôn mở rộng cho vay đến nhiều thành phần kinh tế để vừa đáp ứng tốt nhu cầu cho vay của mọi thành phần kinh tế, vừa có thể phân tán rủi ro.

  • Bảng 2.8: Tình hình cho vay theo thành phần kinh tế

Doanh số cho vay của Chi nhánh liên tục tăng trong 3 năm, mức biến động của năm sau cao và luôn lớn hơn so với năm trước đó. Năm 2025 đạt 1.645.834 triệu đồng tăng so với năm 2024 là 341.256 triệu đồng tương ứng với mức tăng 26,2%. Năm 2024 đạt 1.304.578 triệu đồng so với năm 2023 đạt 984.420 triệu đồng thì tăng 320.158 triệu đồng với mức tăng 32,5%. Có sự gia tăng này là do trong năm 2024 và 2025 Chi nhánh có nhiều DN đến tiếp xúc và xin được tài trợ vốn tín dụng đặc biệt là DN vừa và nhỏ trên địa bàn Thành phố. Những con số này nói lên hoạt động cho vay của Chi nhánh là rất tốt, ngày càng được mở rộng về quy mô và hình thức cấp trong đó có nghiệp vụ bảo lãnh rất là quan trọng. Thành công này có được là nhờ chính sách cho vay hợp lý, hiệu quả của công tác tuyên truyền, hoạt động marketing …

Bảng số liệu cũng cho ta thấy xu hướng cho vay của Chi nhánh đang được mở rộng về phía các DNNN. Từ năm 2023 đến năm 2025 doanh số cho vay đối với các tổ chức trên đều tăng. Tốc độ tăng của các DNNN so với DNNNN và dân cư không nhanh và có xu hướng giảm dần về tỷ trọng. Năm 2023 chiếm 43,7%; năm 2024 chiếm 40,35%; đến năm 2025 chỉ còn chiếm 34,54% so với tổng doanh số cho vay. Năm 2024 tốc độ tăng là 22,28% đến năm 2025 chỉ còn là 8,08%. Doanh số cho vay từ hộ dân cư cũng tăng dần với tốc độ rất nhanh. Năm 2023 chỉ là 63.516 triệu đồng chiếm 6,45% , năm 2024 đạt 101.074 triệu đồng chiếm 7,75% thì đến năm 2025 tăng lên 164.572 triệu đồng tăng 62,8% so với năm 2024. Tỷ trọng doanh số cho vay đối với DNNN giảm bù vào đó là cho vay đối với DNNNN và dân cư tăng lên lần lượt là 34,7% và 62,8%. Đây không phải là điều ngạc nhiên vì trong những năm qua quá trình cổ phần hoá DNNN diễn ra rất nhanh. Từ năm 2023 đến năm 2025 đã có đến gần 50 DNNN ở Hải Phòng được cổ phần hoá nên cơ cấu cho vay thay đổi không phải là điều tất yếu. Mặt khác các DNNNN làm ăn hiệu quả hơn, chất lượng tín dụng của họ tốt hơn so với DNNN, nhu cầu mở rộng sản xuất, đầu tư, đổi mới công nghệ khoa học kĩ thuật luôn được họ quan tâm nên nhu cầu vay của họ tăng. Đối với dân cư, do mức lương và chi tiêu ngày càng được cải thiện hơn, cùng với nhu cầu mua sắm, xây sửa nhà cửa cũng như mở rộng sản xuất kinh doanh nên nhu cầu vay của đối tượng này tăng lên là điều đáng mừng, góp phần phản ánh chất lượng cuộc sống của người dân.

2.3.2.1.2. Doanh số cho vay theo thời gian.

  • Bảng 2.9: Doanh số cho vay theo thời gian. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại NH Đông Á.

Doanh số vay của Chi nhánh trong 3 năm qua tăng liên tục là một nỗ lực lớn của Ngân hàng. Ngân hàng đã có sự chuyển giao tích cực từ việc cho vay ngắn hạn sang trung và dài hạn. Xu hướng cho vay trung và dài hạn của Chi nhánh đang được mở rộng, trong khi đó cho ngắn hạn đang thu hẹp dần nhưng vẫn chiếm trong khoảng 1/3 so với tổng cho vay. Năm 2025 doanh số cho vay ngắn hạn đạt 445.674 triệu đồng chiếm 27,1%, so với năm 2024 tăng 74.784 triệu đồng với mức tăng 20,2%. Năm 2024 doanh số cho vay ngắn hạn đạt 370.890 triệu đồng, chiếm 28,4%, so với năm 2023 tăng lên 70.833 triệu đồng với mức tăng 23,6%. Mặc dù tỷ trọng của doanh số cho vay giảm nhưng số lượng vẫn tăng và không phải là nhỏ. Khách hàng vay ngắn hạn chủ yếu là các DN vừa và nhỏ để đầu tư vào nguyên vật liệu sản xuất rồi bán hàng thu tiền về. Thêm vào đó Ngân hàng còn đầu tư cho các hộ sản xuất vay để sửa chữa nhà, máy móc thiết bị, công cụ lao động phục vụ sản xuất. Do đó khoản vay này có vòng quay tương đối nhanh, đồng vốn được sử dụng có hiệu quả mang về lợi nhuận cho Ngân hàng.

Đối với doanh số cho vay trung hạn cũng có xu hướng tăng cả về số lượng và tỷ trọng. Năm 2025 tăng 169.419 triệu đồng và tăng 32,5%. Năm 2024 tăng 145.375 triệu đồng và tăng tới 38,1%. Cho vay trung hạn luôn chiếm tỷ trọng cao nhất so với ngắn hạn và dài hạn. Năm 2023 là 38%, năm 2024 là 40% đến năm 2025 là 42%. Còn với cho vay dài hạn cũng có xu hướng tăng rõ rệt. Năm 2025 doanh số cho vay dài hạn đạt 508.910 triệu đồng so với năm 2024 tăng 97.053 triệu đồng và tăng 23,6%. Năm 2024 đạt 411.857 triệu đồng, so với năm 2023 tăng 103.950 triệu đồng và tăng tới 33,8%. Cùng với việc vốn huy động của dài hạn cũng có xu hướng tăng dần đáp ứng được nhu cầu vốn của khách hàng thì đây là chiến lược của Ngân hàng. Trong những năm qua các khu dân cư, trung tâm thương mại đang được mở rộng nên nhu cầu vốn là rất lớn. Ngân hàng đã có sự nắm bắt để mở rộng hoạt động kinh doanh cũng như tính toán trong việc hạn chế tối đa dùng vốn ngắn hạn để tài trợ cho vay trung và dài hạn.

2.3.2.1.3. Doanh số cho vay theo ngành.

  • Bảng 2.10: Doanh số cho vay theo ngành Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại NH Đông Á.

Hải Phòng từ xưa đến nay được mệnh danh là thành phố cảng nên có nhiều thuận lợi hơn trong việc phát triển kinh tế cả đường bộ lẫn đường biển. Với nhiều thuận lợi như thế, Đảng bộ thành phố đã đề ra mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của Thành phố Hải Phòng từ nay đến năm 2030 là tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa tạo bước chuyển biến về sức mạnh cạnh tranh và hiệu quả nhằm nâng cao nhịp độ tăng trưởng kinh tế, thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển với các tỉnh, thành phố trong nước. Do đó, nhu cầu về vốn để nâng cấp cơ sở hạ tầng, tăng trưởng kinh tế, phát triển toàn diện Thành phố là rất lớn, mà Ngân hàng là một trong những nguồn cung ứng vốn chủ yếu. Chính vì thế mà doanh số cho vay của ngành xây dựng liên tục tăng trong 3 năm qua cả về số lượng và tỷ trọng. Năm 2024 tốc độ tăng là 43,2%; năm 2025 tốc độ tăng là 41,3% và luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất so với tổng doanh số cho vay. Ngoài đó là ngành công nghiệp chế biến cũng như thương nghiệp cũng chiếm tỷ trọng khá cao và có xu hướng tăng dần. Điều này là hợp lý vì các DN muốn mở rộng sản xuất kinh doanh, đổi mới trang thiết bị hiện đại để hiệu quả kinh doanh cao hơn thì nhu cầu vay vốn Ngân hàng sẽ tăng. Năm 2025 doanh số cho vay ngành công nghiệp chế biến đạt 391.001 triệu đồng, chiếm 25%, so với năm 2024 tăng 71.379 triệu đồng và tăng 22,3%. Năm 2024 đạt 319,622 triệu đồng chiếm 24,5%, so với năm 2023 tăng lên 93.205 triệu đồng, với mức tăng 41,2%. Khi doanh số cho vay đối với ngành công nghiệp chế biến, thương nghiệp, xây dựng tăng lên cả về số lượng và tỷ trọng thì cho vay phục vụ cá nhân và các ngành khác cũng tăng lên về số lượng nhưng có xu hướng giảm dần về tỷ trọng. Mặc dù vậy, nhưng doanh số cho vay cũng không phải là quá nhỏ. Năm 2025 cho vay phục vụ đạt 296.250 triệu đồng tăng tới 13,5% so với năm 2024. Còn doanh số cho vay đối với các ngành khác cũng đạt tới 164.583 triệu đồng và cũng tăng 5,1 %. Tóm lại cơ cấu cho vay đang có thay đổi cho phù hợp với tình hình kinh tế mới và là nỗ lực của mọi nhân viên trong Chi nhánh nhằm mang lại hiệu quả cao trong công tác cho vay.

Qua sự phân tích trên ta thấy hoạt động Ngân hàng đã có bước chuyển đổi và tình hình cho vay của Chi nhánh đang tăng trưởng tốt. Để đạt được doanh số cho vay như vậy là do Ngân hàng đã có chính sách kinh doanh thích hợp đối với khách hàng truyền thống của mình, đồng thời cũng có chính sách ưu đãi nhằm khuyến khích khách hàng mới đến giao dịch. Ngoài ra Ngân hàng nên tiếp tục duy trì và phát huy nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng vốn cho đầu tư các công trình lớn của thành phố và của mọi đối tượng khách hàng, góp phần kích thích các ngàng kinh tế phát triển đều và bền vững.

2.3.2.2. Tình hình dư nợ.

Dư nợ cho vay là chỉ tiêu xác thực để đánh giá về quy mô hoạt động cho vay của Ngân hàng trong từng thời kỳ. Đây là một chỉ tiêu không thể thiếu khi nói đến hoạt động cho vay của Ngân hàng. Các Ngân hàng có mức dư nợ cao thường là các Ngân hàng có quy mô hoạt động rộng, nguồn vốn mạnh và đa dạng. Tình hình dư nợ sẽ phản ánh tốc độ tăng trưởng cho vay một cách chính xác. Qua tình hình dư nợ ta có thể thấy được Ngân hàng đã sử dụng vốn có hiệu quả hay chưa, đồng thời ta còn biết được các khoản phải thu trong tương lai cùa Ngân hàng như thế nào. Do đó việc phân tích tình hình dư nợ của Ngân hàng giúp chúng ta thấy được tiềm năng trong tương lai của Ngân hàng về sử dụng vốn.

2.3.2.2.1. Dư nợ cho vay theo thành phần kinh tế. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại NH Đông Á.

Là một quốc gia đang phát triển, Việt Nam đang từng bước vươn lên phát triển mạnh mẽ cùng với nền kinh tế của quốc tế. Hệ thống Ngân hàng tại Việt Nam đang đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu của nền kinh tế, đặc biệt Ngân hàng Đông Á – Hải Phòng cũng đang có những chiến lược hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động cho vay của mình. Khi nền kinh tế càng phát triển thì nhu cầu vốn càng cao, Ngân hàng phải đáp ứng nhanh và hiệu quả vốn cho nền kinh tế. Vì vậy, Ngân hàng luôn chủ động mở rộng cho vay đối với nhiều thành phần kinh tế và nhiều ngành khác nhau đáp ứng đầy đủ vốn cho nền kinh tế.

  • Bảng 2.11: Cơ cấu dư nợ theo thành phần kinh tế

Nhìn vào bảng ta thấy:

Dư nợ cho vay của Ngân hàng liên tục tăng trong ba năm qua. Năm 2025 đạt 1.597.509 triệu đồng, tăng 351.463 triệu đồng, tức tăng 28,21% so với năm 2024. Năm 2024 đạt 1.246.046 triệu đồng, so với năm 2023 tăng lên 303.866 triệu đồng với mức tăng 32,3 %. Như vậy, tổng dư nợ của Chi nhánh luôn duy trì ở mức tăng trưởng cao, hoàn thành kế hoạch đề ra.

Dư nợ cho vay đối với thành phần kinh tế DNNN, có dấu hiệu tăng về số lượng nhưng giảm dần trong tỷ trọng. Cụ thể, năm 2023 dư nợ đạt 320.341 triệu đồng chiếm 34%, năm 2024 dư nợ này đạt 389.846 triệu đồng chiếm 31,3% trong tổng số dư nợ đến năm 2025 tăng lên 497.412 triệu đồng nhưng lại chỉ chiểm 31.1%. Nguyên nhân là do các DNNN ngày càng ít đi do thực hiện cổ phần hóa nên Ngân hàng phải xem xét, lựa chọn những khách hàng có uy tín, làm ăn hiệu quả và cho vay đối với những khách hàng lớn thường xuyên của Ngân hàng.

Ngược lại đối với thành phần kinh tế DNNN thì dư nợ đối với thành phần kinh tế DNNNN tăng, tỷ trọng cũng tăng trong ba năm. Cụ thể, năm 2024 dư nợ cho vay đối với thành phần này đạt 815.530 triệu đồng chếm 65,5% trong tổng dư nợ tăng 221.957 triệu đồng so với năm 2023 và tăng 37,4%. Đến năm 2025 con số này đạt 1.034.218 triệu đồng, chiếm 64,7% trong tổng dư nợ và tăng 218.688 triệu đồng tương ứng với 21,15% so với năm 2024. Nguyên nhân của sự gia tăng này là do Chi nhánh đã tăng cường tiếp thị mở rộng cho vay đối với các DNNN. Có thể nói trong thời gian này các DNNNN hoạt động có hiệu quả nhận được sự ưu ái đầu tư của Ngân hàng. Hơn nữa, phần lớn thành phần này có năng lực tài chính và vốn tự có cao, có tài sản thế chấp, cầm cố giá trị lớn. Vì thế với mức cơ chế tài chính minh bạch, vốn tự có cao và giá trị tài sản thế chấp, cầm cố của thành phần này tham gia càng nhiều thì chứng tỏ họ quan tâm nhiều đến mục tiêu vay vốn làm cho dự án sinh lời theo đúng kế hoạch, do đó Ngân hàng cho với đối với thành phần này là nhiều, dẫn đến dư nợ tăng. Bên cạnh đó, DN tư nhân và hộ kinh doanh cá thể cũng được Ngân hàng chú ý cho vay đối với đối tượng này. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại NH Đông Á.

Cho vay tiêu dùng cá nhân bao gồm cho vay mua và sửa chữa nhà ở, vay mua ô tô, vay tiêu dùng khác cũng có xu hướng tăng khá nhanh và ổn định. Năm 2024 dư nợ cho vay đối với cá nhân đạt 40.670 triệu đồng chiếm 3,3% đến năm 2025 đạt 65.879 triệu đồng chiếm 4,2 % trong tổng dư nợ. So với năm 2024, đến năm 2025 dư nợ cho vay cá nhân tăng 25.209 triệu đồng tương ứng với 38,2%.

Đây là một kết quả đáng mừng cho ta thấy nhu cầu nâng cao đời sống của người dân ngày càng cao mặc dù kinh tế có dấu hiệu không ổn định. Nếu như trước đây người tiêu dùng chú trọng đến tính sử dụng lâu dài thì bây giờ ngoài tiêu chí đó, người tiêu dùng cũng quan tâm nhiều đến tính hiện đại và đẹp của các sản phẩm. Mặt khác, trình độ khoa học công nghệ ngày càng tiên tiến, các sản phẩm mới ra đời cạnh tranh nhau, khi đó người dân cũng không tránh khỏi việc chi tiền để mua những sản phẩm đó.

2.3.2.2.2 Dư nợ theo thời hạn.

  • Bảng 2.12: Dư nợ theo thời hạn

Đối với cho vay ngắn hạn: Khách hàng có nhu cầu vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu thiếu hụt thanh khoản tạm thời trong hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như tiêu dùng của khách hàng. Những khoản cho vay này, thời hạn ngắn nên tính thanh khoản cũng như vòng quay vốn cao hơn cho vay trung và dài hạn nhưng lại mang thu nhập ít và không ổn định. Trong 3 năm qua, dư nợ ngắn hạn có xu hướng tăng lên cả về số lượng và tỷ trọng. Năm 2024 dư nợ cho vay ngắn hạn đạt 323.971 triệu đồng chiếm 26% trong tổng dư nợ, so với năm 2023 đạt 212.654 triệu đồng thì năm 2024 đã tăng 111.317 triệu đồng tăng 52,3%. Năm 2025, đạt 447.303 chiếm 28% và tăng 123.332 triệu đồng tương ứng với mức tăng 38,1% so với năm 2024. So sánh với nguồn vốn huy động ngắn hạn ở Chi nhánh ta thấy dư nợ ngắn hạn là phù hợp, bởi nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng chủ yếu cho vay ngắn hạn. Qua đó, ta thấy được Ngân hàng Đông Á – Hải Phòng đã chú trọng công tác marketing, phục vụ tốt khách hàng sẵn có, mở rộng tìm kiếm khách hàng mới. Thực hiện chính sách khách hàng trên cơ sở các chỉ tiêu phân loại đánh giá khách hàng, xây dựng và thực hiện cho vay theo hợp đồng khung, hợp đồng hạn mức thường xuyên, giảm thiểu hồ sơ thủ tục vay vốn nhưng vẫn đảm bảo an toàn cho vay, áp dụng nhiều hình thức cho vay linh hoạt, cải tiến và nâng cao chất lượng giao dịch. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại NH Đông Á.

Đối với cho vay trung và dài hạn: Dư nợ cho vay trung hạn cũng có xu hướng tăng về số lượng và tỷ trọng. Năm 2025 dư nợ trung hạn đạt 613.443 triệu đồng chiếm 38,4%, so với năm 2024 tăng 152.406 triệu đồng và tăng 33,1%. Năm 2024 đạt 461.037 triệu đồng chiếm 37%, so với năm 2023 tăng 156.903 và tăng 51,6%. Trong tổng dư nợ, cho vay trung hạn chiếm tỷ trọng cao nhất. Đối với cho vay dài hạn nhằm đáp ứng nhu cầu tài trợ cho các dự án sản xuất kinh doanh, tiêu dùng cơ bản có tính lâu dài. Khoản cho vay này do thời gian sử dụng và hoàn trả trong thời gian khá lâu cho nên tính thanh khoản rất thấp, rủi ro mang lại do các biến động của thị trường và chính khách hàng là rất lớn. Chính vì vậy đối với khoản cho vay này cần có những ràng buộc chặt chẽ để đảm bảo an toàn cho Ngân hàng. So với cho vay trung hạn, cho vay dài hạn có dư nợ cao và chiếm tỷ trọng thấp hơn không đáng kể. Năm 2024 đạt 536.763 triệu đồng chiếm 37% tăng 65.646 triệu đồng và tăng 16,6 % so với năm 2023. Năm 2025 đạt 536.763 triệu đồng chiếm 33,6% và tăng 75.725 triệu đồng so với năm 2023. Xác định cho vay trung và dài hạn là hoạt động cần được quan tâm và phát huy trong tương lai, Ngân hàng Đông Á – Chi nhánh Hải Phòng đã không ngừng nâng cao chất lượng các hoạt động Ngân hàng để có thể đáp ứng tốt nhất nhu cầu cho vay của khách hàng về các khoản vốn cho vay trung và dài hạn. Dư nợ cho vay trung và dài hạn liên tục tăng do khách hàng ngày càng tin tưởng hơn vào các chính sách, tiện ích mà Ngân hàng mang lại cho họ khi tiến hành vay vốn. Ngân hàng đã không ngừng hoàn thiện các nghiệp vụ, nâng cao trình độ cán bộ và chất lượng các dịch vụ Ngân hàng để phục vụ cho các khách hàng có nhu cầu vay vốn để tăng tính cạnh tranh và doanh thu của Ngân hàng so với các Ngân hàng khác trên cùng địa bàn.

2.3.2.2.3. Dư nợ cho vay theo ngành kinh tế.

Ngoài việc phân loại cho vay theo thành phần, thời hạn, Ngân hàng Đông Á – Hải Phòng còn phân loại theo ngành nghề kinh tế. Đây cũng là cơ sở để làm căn cứ cho vay đối với Ngân hàng bởi vì dựa vào việc phân tích này Ngân hàng có thể xác định được ngành nào đang phát triển, thông qua đó sẽ có thái độ đúng đắn trong việc cho vay. Ngày nay, nền kinh tế đất nước đã hội nhập nên tốc độ phát triển cao, các ngành nghề kinh tế theo đó mà phát triển, cho nên mỗi ngành nghề đều có thế mạnh riêng của mình.

  • Bảng 2.13: Dư nợ cho vay theo ngành kinh tế

Nhìn chung trong 3 năm qua, dư nợ của các ngành có những biến động riêng theo môi trường và tình hình kinh tế.

Công nghiệp chế biến: Dư nợ cho vay đối với ngành công nghiệp chế biến tuy chiếm tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu cho vay nhưng đang có xu hướng tăng dần lên. Năm 2023 đạt 94.218 triệu đồng, chiếm 10% so với tổng dư nợ. Nhưng sang năm 2024, chỉ tiêu này đạt 37.382 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 3% trong tổng dư nợ và giảm 56.836 triệu đồng. Bước sang năm 2025, con số này tăng lên đáng kể với mức đạt 303.527 triệu đồng tăng 266.145 triệu đồng hay tăng 712% so với năm 2024 đồng thời chiếm tỷ trọng 19% trên tổng dư nợ cho vay, tăng 16% so với năm 2024. Mặc dù năm 2024 có sự giảm mạnh về dư nợ do Ngân hàng đã có những bước triển khai công việc thu nợ một cách hiệu quả, đồng thời với điều kiện ngành phát triển ổn định. Và khi sang năm 2025, nhiều cơ sở chế biến muốn mở rộng sản xuất, mở rộng địa bàn hoạt động. Điều này cho thấy đây là một ngành đang có tiềm năng phát triển, đòi hỏi được đầu tư khai thác hơn nữa nhất là trong chế biến hải sản – một trong những mảng tận dụng được thế mạnh về biển của Thành phố. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại NH Đông Á.

Ngành xây dựng: Cùng với sự tăng nhanh của dư nợ cho vay thì chỉ tiêu này cũng tăng trong ba năm qua. Cụ thể, năm 2024 đạt 535.800 triệu đồng, chiếm tỷ trọng 43% trên tổng dư nợ cho vay và tăng 111.819 triệu đồng với mức tăng 26,4% so với năm 2023. Tính đến cuối năm 2025, con số này đạt 607.053 triệu đồng tăng 71.253 triệu đồng, tương ứng 13,3 % so với năm 2024, chiếm tỷ trọng chỉ còn 38% trên tổng dư nợ. Mặc dù tỷ trọng có giảm, nhưng dư nợ của ngành vẫn tăng. Đạt được kết quả này là do Thành phố đang chỉ đạo đẩy nhanh tiến độ xây dựng các khu công nghiệp để thu hút các DN trong và ngoài nước, đồng thời xây dựng thêm các khu chung cư phục vụ cho đời sống người dân được nâng cao. Hiện tại diện tích quy hoạch cho các cụm, khu công nghiệp đang được triển khai để đưa tốc độ phát triển công nghiệp tăng lên khoảng 40%. Vì vậy, nhu cầu vốn cho ngành xây dựng là rất lớn nên dư nợ ngành xây dựng luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng dư nợ cho vay.

Ngành thương nghiệp: Dư nợ cho vay đối với ngành này tuy chiếm tỷ trọng tương đối thấp chỉ đạt 8% trong năm 2024, đạt 10% năm 2025 tăng 2% so với năm 2024. Nhưng dư nợ cho vay tăng trưởng đáng kể đạt 99.684 triệu đồng năm 2024 và tăng 43.153 triệu đồng so với năm 2023, năm 2025 đạt 159.751 triệu đồng tăng 60.067 triệu đồng so với năm 2024, tương ứng tăng 60,26%. Điều đó cho thấy đây là ngành không thể thiếu trong nền kinh tế vì nó thúc đẩy sản xuất mà thành phố đang chỉ đạo tăng cường hoạt động xuất nhập khẩu, nâng kim ngạch xuất khẩu ngày một tăng. Đặc biệt là việc xuất khẩu hàng hóa thông qua đường biển là một trong những thế mạnh của Thành phố Hải Phòng.

Hoạt động phục vụ cá nhân: Hoạt động phục vụ cá nhân và cộng đồng cũng chiếm một tỷ trọng cáo trong tổng dư nợ cho vay. Năm 2023 chiếm 19%, năm 2024 chiếm 28%, năm 2025 chiếm 19%, giảm 9% so với năm 2024. Mặc dù cả dư nợ và tỷ trọng năm tăng năm giảm nhưng nhìn chung dư nợ của hoạt động cá nhân cũng không phải là nhỏ. Bởi vì nhu cầu nâng cao đời sống cá nhân và xã hội luôn được quan tâm, với nhịp sống như hiện nay, máy móc đang thay thế sức người làm cho nhu cầu về đồ dùng gia đình, phương tiện đi lại cũng không ngừng phát sinh nên tỷ trọng chiếm khá cao.

Ngoài các ngành trên thì các ngành khác như: nông, lâm nghiệp, kinh doanh khách sạn nhà hàng, du lịch cũng chiếm tỷ trọng khá cao. Năm 2023 đạt 188.436 triệu đồng chiếm 20%. Năm 2024 chiếm 18%, sang năm 2025 chỉ còn 14% giảm 4% so với năm 2024. Mặc dù vậy nhưng dư nợ đạt tương đối cao. Năm 2024 đạt 224.287 triệu đồng, năm 2025 đạt 223.651 triệu đồng. Điều này cho thấy tiềm năng phát triển của các ngành này là rất lớn. Đặc biệt là ngành du lịch, khi Hải Phòng nối tiếng với hai địa danh Cát Bà và Đồ Sơn, cùng với việc tổ chức Lễ hội Hoa phượng đỏ, những năm gần đây đã thu hút không ít khách du lịch trong và ngoài nước đến với Hải Phòng. Trong tương lai, đòi hỏi Ngân hàng phải luôn trong tư thế sẵn sàng cấp vốn khi các ngành này cần mở rộng quy mô.

2.3.2.3. Doanh số thu nợ

Doanh số thu nợ là tổng số tiền mà Ngân hàng đã thu hồi từ các khoản giải ngân trong một khoảng thời gian nhất định. Việc thu hồi nợ được xem là công tác quan trọng trong hoạt động cho vay của Ngân hàng. Việc thu nợ góp phần tích cực trong việc đầu tư cho vay và đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn trong lưu thông. Bất cứ Ngân hàng nào, muốn tồn tại và phát triển, hoạt động ngày càng hiệu quả thì không chỉ phụ thuộc vào doanh số cho vay, đánh giá đúng khách hàng, tiến hành thu nợ một cách tốt mà còn phải biết tránh rủi ro. Cho nên doanh số cho vay là điều kiện cần và doanh số thu nợ là điều kiện đủ để hoạt động Ngân hàng được duy trì và phát triển.

  • Bảng 2.14: Doanh số thu nợ Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại NH Đông Á.

Qua bảng số liệu ta thấy, doanh số thu nợ của Ngân hàng tăng liên tục qua ba năm. Đây là thành công rất lớn của Ngân hàng. So sánh năm 2024 với năm 2023 ta thấy tổng doanh số thu nợ tăng với số tiền là 320.724 triệu đồng tương đương tăng 33,5%. Năm 2025 tình hình thu nợ tiếp tục thay đổi theo chiều hướng tích cực, tăng 289.243 triệu đồng với mức tăng 22,6% so với năm 2024. Tỷ lệ thu nợ chung năm 2023 là 97,3%; năm 2024 là 98 %; năm 2025 là 95,3%. Tình hình này là một dấu hiệu khả quan trong công tác thu hồi nợ. Bên cạnh việc thu hồi những món nợ cũ, Ngân hàng đã tích cực trong công tác thu nợ làm tăng thu cho đơn vị, đảm bảo đồng vốn được sử dụng hiệu quả. Quyết định chọn lựa khách hàng rất kỹ trước khi tiến hành cho vay nên hiệu quả hoạt động của khách hàng tốt, Ngân hàng thu hồi nợ nhanh chóng, dễ dàng hơn.

Trong thời gian qua, Ngân hàng chủ yếu cho vay trung và dài hạn, cho vay ngắn hạn chiếm tỷ trọng ít hơn (qua bảng doanh số cho vay nhận xét ở trên). Doanh số cho vay ngắn hạn năm 2023 đạt 300.057 triệu đồng, doanh số thu nợ đạt 386.895 triệu đồng, chiếm tỷ lệ thu nợ 130%. Năm 2024 cho vay đạt 370.890 triệu đồng, thu nợ được 510.189 triệu đồng với tỷ lệ thu nợ 137,6%, và đến năm 2025 tỷ lệ thu nợ đạt 138 %. Tỷ lệ thu nợ ngắn hạn có xu hướng tăng qua các năm đạt cao như thế là do hoạt động mua bán và kinh doanh của các DN, các hộ sản xuất trong thời gian này đạt hiệu quả cao nên trả nợ cho Ngân hàng đúng kỳ hạn.

Nếu như doanh số cho vay trung hạn tăng qua các năm thì tình hình thu nợ trung hạn có xu hướng giảm. Năm 2023 doanh số thu nợ trung hạn là 325.597 triệu đồng với tỷ lệ thu nợ là 86,5%. Đến năm 2024 doanh số thu nợ đạt 408.763 triệu đồng với tỷ lệ thu nợ là 78,3%, và năm 2025 tỷ lệ này là 78,5%. Nguyên nhân của sự thay đổi này là do các nguồn vốn trung hạn của Ngân hàng chủ yếu là vay trong thời gian 4 – 5 năm, nên trong vòng 1 năm, Ngân hàng chỉ thu được một phần vốn nợ của khách hàng. Mặt khác cũng có những DN có hoạt động kinh doanh chưa hiệu quả, vòng quay vốn tín dụng còn chậm, hàng hóa còn tồn đọng nhiều trong kho nên không có khả năng trả nợ hoặc trả nợ không đúng hạn. Vì thế cũng ảnh hưởng đến việc thu nợ của Ngân hàng. Để khắc phục tình trạng này, Ngân hàng cần phải chú trọng công tác thẩm định, công tác bảo lãnh đề phòng những trường hợp rủi ro mất vốn có thể xảy ra. Đồng thời tích cực giám sát các khoản vay, đảm bảo nguồn vốn vay được sử dụng đúng mục đích, đúng nhu cầu, thúc đẩy các khoản nợ phải thu khi cho vay đến hạn, tránh để quá lâu gây nên tình trạng ứ đọng vốn.

Đối với thu nợ dài hạn: Năm 2023, cho vay dài hạn đạt 307.907 triệu đồng, doanh số thu nợ đạt 245.678 triệu đồng, tỷ lệ thu nợ là 79,8%. Năm 2024 doanh số cho vay là 411.857 triệu đồng, doanh số thu nợ đạt 359.342 triệu đồng, tỷ lệ thu nợ là 87,2%. Và năm 2025 tỷ lệ thu nợ đạt 80,7 %. Đạt được kết quả như thế là nhờ vào sự nỗ lực của các nhân viên tín dụng không ngừng đôn đốc khách hàng trả nợ, làm tốt công tác thẩm định khách hàng. Trong năm qua Ngân hàng đã có những chính sách hợp lý để thu nợ cũng như tạo điều kiện cho người vay trả nợ thì Ngân hàng có những biện pháp kiểm tra đối chiếu từng DN về nợ vay, nợ trả, phân tích những nguyên nhân khách hàng vì sao không trả được nợ từ đó kết hợp với chính quyền địa phương đề ra những biện pháp xử lý tích cực đôn đốc người vay và gia đình của họ hoàn thành nghĩa vụ trả nợ. Mặt khác Ngân hàng chủ động trong việc kiểm soát doanh số cho vay, không chạy theo số lượng mà hướng tới chất lượng của những khoản vay này.

Tóm lại, tình hình thu nợ của Ngân hàng thu được rất khả quan, đặc biệt là thu nợ ngắn hạn, Ngân hàng cần phát huy hơn nữa yếu tố tích cực này. Bên cạnh đó công tác thu nợ trung hạn và dài hạn cũng đạt kết quả đáng ghi nhận song vẫn còn tồn tại những hạn chế làm ảnh hưởng đến hoạt động chung. Vì nguồn vốn trung và dài hạn này thu được càng nhiều, chứng tỏ nguồn vốn Ngân hàng cho vay mang lại hiệu quả tốt cho cả DN làm ăn có lãi và cho Ngân hàng cũng thu được lợi nhuận. Điều đó cũng giúp Ngân hàng tránh được những khoản nợ quá hạn có nguy cơ mất vốn. Để khắc phục, Ngân hàng cần chủ động hơn nữa trong công tác thu nợ, tích cực giám sát, đôn đốc khách hàng để đảm bảo tiến trình thu nợ.

2.3.2.4. Hiệu quả sử dụng vốn trong cho vay.

2.3.2.4.1 Hiệu suất sử dụng vốn.

  • Bảng 2.15: Hiệu suất sử dụng vốn Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại NH Đông Á.

Chỉ tiêu này thể hiện hiệu quả của việc sử dụng vốn huy động của Ngân hàng trong cho vay. Nhìn chung, thời gian qua Ngân hàng đã khai thác triệt để nguồn vốn của mình. Năm 2023 hiệu suất sử dụng vốn là 72 %; năm 2024 là 74,5%; năm 2025 là 77,7% cho thấy được tình hình khả quan trong việc sử dụng vốn của Ngân hàng. Năm 2023 hiệu suất sử dụng vốn ngắn hạn là 60%; năm 2024 là 73,1%, năm 2025 là 83,6%. Điều này cho ta thấy nguồn vốn ngắn hạn mà Ngân hàng huy động được không những đảm bảo cho hoạt động cho vay ngắn hạn mà còn có thể dùng nguồn vốn này tài trợ cho vay trung và dài hạn. Hiệu suất sử dụng vốn trung, dài hạn năm 2023 là 101,1% ; năm 2024 là 102,4%; năm 2025 là 104,2%. Ngoài nguồn vốn huy động tiền gửi mà Ngân hàng huy động được thì Ngân hàng còn đi vay ở NHNN để phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình. Hiệu suất sử dụng vốn trung và dài hạn đều lớn hơn 100% cho thấy được rằng, Ngân hàng đã dùng nguồn vốn ngắn hạn với chi phí thấp để cho vay trung và dài hạn với lãi suất cao hơn nhằm tối đa lợi nhuận cho Ngân hàng. Mặc dù hiệu suất lớn hơn 100% nhưng cũng ở con số 104,2% cho thấy được nguồn vốn ngắn hạn huy động cũng không phải tài trợ quá nhiều cho vay trung dài hạn, đảm bảo sự thanh khoản cũng như hạn chế rủi ro cho Ngân hàng. Từ đó cho thấy Chi nhánh đã làm tốt trong việc xác định cơ cấu các nguồn vốn một cách hợp lý để hoạt động kinh doanh của Ngân hàng được diễn ra một cách tốt nhất cũng như giảm thiểu những rủi ro không đáng có xảy ra.

2.3.2.4.2. Hiệu quả cho vay.

  • Bảng 2.16: Hiệu quả cho vay

Qua bảng trên chúng ta nhận ra rằng: Hiệu quả cho vay của Chi nhánh mặc dù có xu hướng giảm: năm 2023 đạt 179,6%; năm 2024 đạt 179,3%; năm 2025 đạt 151%; nhưng vẫn đạt trên 150%. Con số này cho thấy hoạt động cho vay cũng như hoạt động sử dụng vốn của Chi nhánh đã có những dấu hiệu tốt, đạt hiệu quả cao. Nguyên nhân của việc giảm tỷ lệ này là do ngoài nguồn vốn Ngân hàng huy động từ tiền gửi, thì Ngân hàng còn đi vay NHNN để phục vụ cho hoạt động kinh doanh. Như đã phân tích ở bảng 2.1: Bảng cơ cấu nguồn vốn của Ngân hàng thì nguồn vốn đi vay này có xu hướng tăng và chiếm tỷ trọng không nhỏ. Mặt khác nguồn vốn này lại chịu chi phí cao hơn so với vốn huy động tiền gửi, nên khi thu nhập từ hoạt động cho vay có xu hướng tăng thì việc tăng chi phí phải trả là điều không tránh khỏi.

2.3.2.5. Tình hình nợ quá hạn, nợ xấu.

2.3.2.5.1 Tình hình nợ quá hạn. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại NH Đông Á.

Nợ quá hạn luôn là điều trăn trở của bất cứ NHTM nào. Cho vay phải thẩm định khách hàng là điều khó, song việc thu hồi nợ lại càng khó hơn. Do rất nhiều nguyên nhân chủ quan lẫn khách quan làm cho tình hình nợ quá hạn luôn tồn tại trong hoạt động của Ngân hàng. Tình hình nợ quá hạn cho thấy hiệu quả sử dụng vốn của Ngân hàng là chưa tốt. Vì thế phân tích nợ quá hạn giúp cho nhà quản trị nhìn lại tình hình sử dụng vốn trong quá khứ để có biện pháp thay đổi trong tương lai bảo đảm hiệu quả sử dụng vốn Ngân hàng.

  • Bảng 2.17: Tình hình nợ quá hạn

Số liệu trên cho ta thấy tỷ lệ nợ quá hạn của Chi nhánh có xu hướng giảm qua các năm, đây thật sự là điều đáng mừng đối với kết quả kinh doanh của Ngân hàng. Năm 2023 tỷ lệ nợ quá hạn là 3,5%, năm 2024 là 3% và năm 2025 là 2% và doanh số cho vay tăng lên 1.645.134 triệu đồng nói lên rằng hoạt động cho vay của Chi nhánh là tương đối tốt. Trong các nhóm nợ ta cần chú ý đến nhóm nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn của Ngân hàng. Nợ của ba nhóm này qua các năm biến đổi không đều và thường tăng mạnh vào năm 2024 sau đó giảm vào năm 2025. Năm 2023 nợ dưới tiêu chuẩn chiếm 5,3%, đến năm 2025 chiếm tới 30,15 và giảm xuống 22,8% vào năm 2025 so với tổng nợ quá hạn. Nợ nghi ngờ cũng tăng từ 12,9% đến 24,5% và đạt 22,8% vào năm 2025. Nhóm nợ có khả năng mất vốn cũng đạt đỉnh 28,8% vào năm 2024 khi mà năm 2023 đạt 15,2%. Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đã gây ra hậu quả không nhỏ tới các nước trên Thế giới và Việt Nam cũng không nằm ngoài số đó. Chính vì thế mà các khoản nợ trung và dài hạn những năm trước đến thời gian đáo hạn là năm 2023 mà Ngân hàng chưa thu được nợ, nhiều khoản vay phải chuyển nợ, gia hạn nợ làm cho nợ quá hạn tăng lên. Trước tình hình kinh tế phức tạp, hầu hết các DN kinh doanh không thuận lợi như mong muốn, sức mua giảm… làm cho hoạt động cho vay có nhiều nguy cơ tiềm ẩn. Nhưng cũng thừa nhận một điều là cách xử lý nợ quá hạn của Ngân hàng còn buông lỏng, số dư nợ cho vay thông qua bảo lãnh của các tổ chức đoàn thể khi đến hạn việc thu hồi nợ hết sức khó khăn, nhiều hộ cố tình không trả, những hộ còn lại lấy điều kiện cho vay lại mới trả. Vì đây là hình thức tín chấp của các tổ chức đoàn thể như trường học, công an phường – quận,… bảo lãnh món vay nhiều, số tiền từng món lại nhỏ nên việc xử lý bằng pháp luật rất khó khăn. Chính vì vậy, Ngân hàng cần quan tâm nhiều hơn nữa chất lượng của những khoản vay này để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tại đơn vị. Thế nhưng lại có những dấu hiệu khởi sắc khi sang năm 2025, tỷ lệ này giảm xuống còn 2% và vẫn nằm trong phạm vi kiểm soát, đạt yêu cầu của NHNN về tỷ lệ nợ quá hạn tối thiểu là 3%. Đạt được điều đó một phần là do các khoản nợ khó đòi chuyển sang ngoại bảng để xử lý. Bên cạnh đó là nhờ vào sự nỗ lực của cán bộ tín dụng nói riêng trong công tác thẩm định, lựa chọn khách hàng, lựa chọn phương án cho vay vốn, theo dõi quá trình sử dụng vốn vay,… cũng như toàn thể cán bộ công nhân viên trong Ngân hàng nói chung. Nếu trong thời gian tới, Ngân hàng kiểm soát được tỷ lệ nợ quá hạn ở mức như thế này thì Ngân hàng sẽ hạn chế được việc mất vốn xảy ra, chất lượng cho vay của Chi nhánh sẽ tăng cao.

2.3.2.5.2. Tỷ lệ nợ xấu. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại NH Đông Á.

Theo Thông tư số 14/2025/TT – NHNN thì nợ cả Ngân hàng được phân chia thành 5 nhóm, trong đó nợ xấu là các khoản nợ thuộc nhóm 3,4,5. Chỉ tiêu nợ xấu phản ánh chính xác về hiệu quả cho vay của Ngân hàng vì phản ánh chính xác số vốn mà Ngân hàng có nguy cơ mất khi cho khách hàng vay. Điều này, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng cũng như uy tín của Ngân hàng. Dưới đây là tỷ lệ nợ xấu của Ngân hàng Đông Á – Chi nhánh Hải Phòng trong những năm qua.

  • Bảng 2.18: Tỷ lệ nợ xấu

Tỷ lệ nợ xấu của Ngân hàng không ổn định qua các năm. Trong năm 2024, tỷ lệ nợ xấu tăng tới 2,5% tăng hơn gấp đôi so với năm 2023. Điều này cũng do ảnh hưởng không nhỏ của tình hình kinh tế thế giới còn diễn biến thất thường, có tác động bất lợi đối với nền kinh tế có độ mở lớn như nền kinh tế Việt Nam. Năm 2024, nền kinh tế trong nước có nhiều biến động, các DN làm ăn khó khăn, nhiều DN phá sản, cùng với đó là những tác động của thị trường vàng, chứng khoán. Hơn nữa những nỗ lực của chính phủ để làm “ấm” thị trường bất động sản chưa thể mang lại kết quả, nên thanh khoản của thị trường này còn chưa được cải thiện. Một khi thanh khoản của thị trường bất động sản chưa được cải thiện, thì việc xử lý nợ xấu của NHTM nói chung và Ngân hàng Đông Á – Chi nhánh Hải Phòng nói riêng cũng sẽ khó khăn. Mặt khác trong năm 2024, tỷ lệ thu nợ trung hạn của Ngân hàng chỉ đạt 70%, cũng đã làm gia tăng tình hình nợ xấu của Ngân hàng. Đến năm 2025, bằng sự quan tâm chỉ đạo một cách sâu sắc của ban lãnh đạo quyết tâm giảm tỷ lệ nợ xấu, cũng như nỗ lực của nhân viên trong việc giám sát kiểm tra hoạt động cho vay và sử dụng vốn của khách hàng, đã giúp Ngân hàng chủ động trong việc giải ngân, tìm kiếm khách hàng, mở rộng thị trường, cũng như thu hồi nợ 1 cách hiệu quả. Với con số 1,24 % đã khẳng định rõ nỗ lực đó, đồng thời đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng tránh được những rủi ro đáng tiếc.

Dự phòng rủi ro tín dụng là khoản tiền được trích lập để dự phòng tổn thất có thể xảy ra khi khách hàng của Ngân hàng không thực hiện nghĩa vị theo cam kết. Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng phản ánh tỷ lệ khoản tiền được trích lập. Nhìn chung qua 3 năm ta thấy tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng biến động không ổn định. Năm 2023 tỷ lệ này chiếm 1,17%, đến năm 2024 tăng lên 2,08% và năm 2025 đạt 1,12%. Tỷ lệ này tăng lên đồng nghĩa với việc tình hình nợ xấu cũng tăng nên số tiền phải trích lập cũng lớn hơn. Nguyên nhân là do năm 2024 tình trạng khủng hoảng vẫn còn kéo dài khiến cho các DN bị ảnh hưởng dẫn đến không trả nợ đúng hạn cho Ngân hàng. Các nhóm nợ này sẽ chuyển xuống nhóm nợ tiếp theo nên việc trích lập dự phòng rủi ro tín dụng sẽ tăng lên. Đến năm 2025 tỷ lệ này giảm xuống còn 1,12% giúp Ngân hàng ổn định hơn, tăng lợi nhuận khi số tiền trích lập trên tổng dư nợ giảm xuống.

2.3.2.6. Vòng quay vốn.

Vòng quay vốn cho biết tốc độc chu chuyển vốn cho vay trong một thời gian nhất định, cho biết tần suất sử dụng vốn của Ngân hàng. Vòng quay vốn càng lớn, chứng tỏ hoạt động cho vay càng hiệu quả. Vì vậy, nó được coi là một trong các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả cho vay. Vòng quay vốn của Ngân hàng Đông Á – Hải Phòng được thể hiện ở bảng sau:

  • Bảng 2.19: Vòng quay vốn

Tốc độ chu chuyển vốn trong 3 năm qua là khá tốt, vòng quay vốn luôn lớn hơn 1. Chi nhánh có nhiều cơ hội trong việc sử dụng vốn thực hiện đầu tư, cho vay nhiều khách hàng hơn, đa dạng hóa cơ cấu cho vay, đáp ứng nhu cầu của khách hàng tăng lợi nhuận cho Ngân hàng. Vòng quay tăng tức là thu nợ tăng lớn hơn dư nợ. Vì thế Chi nhánh cần quan tâm, giám sát các khoản nợ đến hạn phải thu và cố gắng duy trì vòng quay vốn ở mức độ tốt hơn, nhằm hạn chế rủi ro cho Ngân hàng.

2.3.3. Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn tại Ngân hàng Đông Á – Hải Phòng trong những năm qua. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại NH Đông Á.

Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn có vai trò quan trọng giúp Ngân hàng nhận thức rõ những kết quả đạt được và hạn chế những mặt còn tồn tại, thấy được nguyên nhân của những hạn chế, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và đề ra kế hoạch, phương hướng hoạt động trong những năm tiếp theo của toàn Chi nhánh.

2.3.3.1. Những kết quả đạt được.

Nhìn chung, trong 3 năm qua, Ngân hàng Đông Á – Hải Phòng đã thực hiện định hướng chỉ đạo của Hội đồng quản trị đề ra về mục tiêu tăng trưởng cho vay phù hợp với khả năng tăng trưởng nguồn vốn. Qua những số liệu và phân tích ở trên ta thấy, Ngân hàng đã đạt được những kết quả rất khả quan:

Từ nhận thức huy động vốn là một nhiệm vụ quan trọng, là điều kiện để có thể chủ động trong hoạt động sử dụng vốn, góp phần quyết định kết quả kinh doanh của Ngân hàng, Chi nhánh vẫn luôn quan tâm và coi trọng công tác huy động vốn bằng những biện pháp cụ thể: quảng bá tuyên truyền đối với nhân dân về hình thức gửi tiết kiệm, thực hiện đổi mới tác phong giao dịch, giảm nhẹ các thủ tục rườm rà không cần thiết, đa dạng hóa các hình thức huy động vốn, sử dụng các đòn bẩy kích thích như lãi suất, tiết kiệm dự thưởng, …

Doanh số cho vay và dư nợ trong toàn Chi nhánh liên tục tăng từ năm 2023 đến năm 2025. Dư nợ tính đến cuối năm 2025 đạt 1.597.509 triệu đồng. Thành công này có được nhờ Chi nhánh đã định hướng đúng mục tiêu, chiến lược đề ra. Cơ cấu cho vay không chỉ bó hẹp trong khu vực DNNN mà còn mở sang cho vay đối với các DNNNN, tư nhân cũng như đến mọi ngành nghề kinh tế trên cơ sở phương án, dự án khả thi có hiệu quả. Cho vay ngắn hạn đáp ứng nhanh chóng nhu cầu vốn lưu động của các DN và các nhân, giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả hơn góp phần trong sự phát triển của hệ thống Ngân hàng nói chung và Ngân hàng Đông Á nói riêng và sự phát triển của nền kinh tế đất nước.

Bên cạnh việc đáp ứng kịp thời nhu cầu của những khách hàng truyền thồng, Ngân hàng còn hướng vào những ngành, những lĩnh vực có tốc độ phát triển khá, khả năng sinh lời cao. Đặc biệt trong những năm qua, Ngân hàng đã triển khai hình thức đầu tư cho vay khá linh hoạt, có tính hấp dẫn và sức cạnh tranh cao đó là chương trình cho vay hỗ trợ xuất khẩu với lãi suất ưu đãi.

Ngân hàng đã xây dựng cơ cấu hợp lý trong cho vay, với mục tiêu tăng cường cho vay trung và dài hạn nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu vay vốn của DN để đầu tư xây dựng, mua sắm máy móc thiết bị, mở rộng sản xuất.

Hiệu quả cho vay được xác định là mục tiêu hàng đầu, do đó Ngân hàng luôn chú trọng nâng cao chất lượng các khoản vay. Định kỳ phân tích tài chính và chất lượng cho vay, nhằm đánh giá thực chất tình hình tài chính và chất lượng nợ vay đối với các đơn vị còn nợ vay Ngân hàng. Thường xuyên theo dõi sát sao những món nợ quá hạn, phân tích những nguyên nhân để có biện pháp xử lý thu nợ kịp thời, tích cực đôn đốc thu hồi nợ đã được xử lý rủi ro.

Công tác thu nợ quá hạn, nợ khó đòi đã được chú trọng đúng mức, phân loại nợ quá hạn, kiểm tra đối chiếu nợ được tiến hành thường xuyên từ đó có biện pháp thu nợ hữu hiệu. Tỷ lệ nợ quá hạn giảm theo từng năm, nhằm từng bước nâng cao hiệu quả cho vay – đó là một thành công lớn của Ngân hàng trong những năm qua.

Trong quá trình cho vay, Ngân hàng đã thực hiện việc kiểm tra khách hàng trước, trong và sau khi cho vay. Ngoài ra, Ngân hàng còn xem xét các vấn đề thị trường, sản phẩm tiêu thụ, thu nhập … của khách hàng trong phạm vi cho phép.

Xây dựng cơ chế lãi suất linh hoạt, bám sát với lãi suất của Ngân hàng khác, nhưng không vượt quá mức lãi suất quy định của Ngân hàng Đông Á. Lãi suất này còn dựa trên cơ chế lãi suất thoả thuận lãi suất, tuỳ từng khách hàng là cá nhân, DNNN hay DNNNN và lịch sử tín dụng của họ mà Chi nhánh đưa ra các mức lãi suất phù hợp trong điều kiện rang buộc. Điều này nâng cao khả năng cho vay, củng cố, mở rộng, nâng cao chất lượng cho vay của Chi nhánh.

Đi đôi với việc cải tiến chất lượng phục vụ khách hàng, Ngân hàng đã tăng cường ứng dụng các sản phẩm công nghệ mới đặc biệt là máy ATM thế hệ mới có tính năng gửi tiền trực tiếp vào tài khoản đảm bảo độ an toàn cao, tốc độ nhanh và giữ được tín nhiệm với khách hàng. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại NH Đông Á.

Để đạt được kết quả trên là nhờ có sự thống nhất đoàn kết một lòng từ Ban lãnh đạo tới toàn thể cán bộ nhân viên. Sự kết hợp chặt chẽ giữa các cấp Đảng, Đoàn, Công đoàn và chuyên môn trong Chi nhánh, cũng như sự quan tâm chỉ đạo của các Ban, Ngành từ Trung ương đến địa phương, đã giúp Ngân hàng từng bước phát triển và đi lên.

2.3.3.2. Hạn chế.

Bên cạnh những kết quả khả quan về hoạt động cho vay mà Ngân hàng đã đạt được, vẫn còn một số những hạn chế về quy mô và hiệu quả cho vay.

Hoạt động sử dụng vốn tập trung chủ yếu trong phạm vi là cho vay, trong khi các nghiệp vụ khác như bảo lãnh, chiết khấu giấy tờ có giá, cho vay đầu tư chứng khoán chưa được Chi nhánh khai thác triệt để, đặc biệt là cho vay đầu tư chứng khoán.

Hiện tượng nợ quá hạn, nợ xấu có chiều hướng giảm, song vẫn còn tương đối cao. Đặc biệt là trong năm 2024 do Chi nhánh đã chú trọng vào nâng cao dư nợ cho vay bằng cách cho vay với số lượng lớn nhưng lại không có biện pháp quản lý nợ hiệu quả làm tăng nguy cơ rủi ro, hiệu quả cho vay giảm sút.

Thông tin về khách hàng của Chi nhánh thu thập chưa được tốt. Các thông tin mà cán bộ sử dụng chủ yếu vẫn là thông tin trong hồ sơ khách hàng và các thông tin lưu trữ tại Ngân hàng. Việc thẩm định thường dựa trên những thông tin chủ quan do khách hàng cung cấp. Quá trình thẩm định dự án, các phương án kinh doanh của khách hàng chưa thực hiện tốt theo quy định, nhiều dự án không thật sự hiệu quả vẫn được xét duyệt cho vay làm tăng nguy cơ mất vốn của Ngân hàng.

Trong hoạt động cho vay, cán bộ chưa thực sự đi sâu bám sát khách hàng để có thể tiếp cận và theo dõi tình hình biến động về tài chính, hoạt động kinh doanh và tình trạng của các tài sản đảm bảo.

Mạng lưới hoạt động của Ngân hàng Đông Á – Chi nhánh Hải Phòng còn chưa rộng lớn. Hiện nay mới có 1 chi nhánh chính và 4 phòng giao dịch tập trung chủ yếu tại trung tâm Thành phố Hải Phòng. Trong khi đó, các huyện Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, An Lão, An Dương, quận Đồ Sơn đời sống dân cư cũng đang ngày càng nâng cao. Vì vậy, việc mở rộng tiếp cận vốn cho vay, tăng trưởng cho vay cũng bị hạn chế.

Số lượng khách hàng có quan hệ vay vốn là một con số còn nhỏ so với tiềm năng của Chi nhánh. Tính đến 31/12/2025, Chi nhánh có 245 DN có quan hệ vay vốn với Chi nhánh (trong đó có 30 DN Nhà nước, 89 Công ty cổ phần, 100 Công ty Trách nhiệm hữu hạn, 20 DN tư nhân và 6 DN có vốn đầu tư nước ngoài). Do đó, trong thời gian tới cần phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền, marketing, quảng bá, tận dụng mọi cơ hội và điều kiện để có thể nâng cao hình ảnh, thương hiệu của Chi nhánh.

2.3.3.3. Nguyên nhân hạn chế.

2.3.3.3.1 Từ phía khách hàng. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại NH Đông Á.

Khách hàng cung cấp những thông tin không chính xác, sai sự thật. Khách hàng thiếu vốn nên tìm mọi cách để vay được vốn Ngân hàng, điều này dẫn đến họ gian dối trong quan hệ tín dụng như: cung cấp giấy tờ, tài sản, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh… sai sự thật điều này gây khó khăn, sai sót cho hoạt động thẩm định cho vay, dẫn đến việc ra quyết định cho vay sai. Vì vậy, khi khách hàng của Chi nhánh làm ăn thua lỗ, hoạt động không có hiệu quả dẫn đến tình trạng không trả được nợ, khả năng mất vốn của Chi nhánh có thể xảy ra.

Trình độ quản lý kém tại các DN tồn tại không ít. Chính vì năng lực yếu kém, khả năng nắm bắt và phân tích thị trường hạn chế sẽ dẫn đến những quyết định đầu tư sai lầm, sản phẩm làm ra không được thị trường chấp nhận, doanh thu không đủ bù đắp chi phí.

2.3.3.3.2. Từ phía Ngân hàng.

Mạng lưới Chi nhánh còn mỏng, số lượng cán bộ cán bộ công nhân viên ít, trình độ của đội ngũ nhân viên vẫn chưa đáp ứng được hết yêu cầu của công việc đặt ra. Hệ thống thông tin về khách hàng không được cung cấp đầy đủ, không theo dõi sát sao hoạt động sử dụng vốn của họ, ảnh hưởng đến công tác kiểm tra giám sát. Cán bộ thẩm định Chi nhánh có trình độ chuyên môn cao, song còn thiếu kinh nghiệm thực tiễn và hiểu biết về lĩnh vực khách hàng đang sản xuất kinh doanh, trong khi đó môi trường kinh doanh đầy biến động phức tạp đòi hỏi cán bộ tín dụng phải có khả năng phân tích và tổng hợp thông tin rất rộng điều này dẫn đến xác định thời hạn, lãi suất cho vay chưa chính xác, chưa phù hợp điều này làm giảm chất lượng cho vay của Chi nhánh.

Việc đánh giá tài sản thế chấp cả về giá trị và tính pháp lý của tài sản đôi khi chưa được chính xác dẫn đến việc làm giảm chất lượng cho vay. Ngân hàng Đông Á Hải Phòng định giá tài sản đảm bảo theo quy định chung, có tham khảo them giá tài sản đó trên thị trường tại thời điểm định giá. Các tài sản mà DN sử dụng để đảm bảo tiền vay của Ngân hàng chủ yếu là đất đai, nhà ở, máy móc thiết bị. Mức giá của các loại tài sản này thường không ổn định nên việc đáng giá đúng là rất khó khăn.

Công tác kiểm tra giám sát khi cho vay đôi khi còn mang tính hình thức, không phát hiện kịp thời những sai phạm hoặc có phát hiện nhưng chưa có biện pháp xử lý hữu hiệu.

Ngân hàng chưa đẩy mạnh công tác marketing để tìm hiểu sâu hơn về nhu cầu của khách hàng, làm cho khách hàng thực sự hiểu về Ngân hàng, cũng như các biện pháp lôi kéo khách hàng để mở rộng hoạt động của Ngân hàng.

2.3.3.3.3. Ảnh hưởng của môi trường kinh doanh.

Hệ thống pháp luật quốc gia với các văn bản luật ban hành chồng chéo, chưa được đầy đủ, cụ thể rõ ràng, đồng bộ cũng như môi trường pháp lý cho kinh doanh cho vay chưa được hoàn thiện nên không đảm bảo được môi trường cạnh tranh lành mạnh gây khó khăn cho hoạt động của các DN. Mặt khác sự thay đổi trong cơ chế, chính sách của Nhà nước đã khiến cho hoạt động cho vay còn gặp nhiều khó khăn.

2.3.3.3.4. Ảnh hưởng của tài chính quốc tế.

Trong thời gian vừa qua, giá của một số mặt hàng liên tục biến động như: sắt thép, giá dầu, trong khi đó đồng USD so với VND ngày càng tăng, giá vàng cũng đang có xu hướng tăng cao làm ảnh hưởng rất nhiều đến hoạt động của các DN cũng như của hệ thống tài chính nói chung và hoạt động cho vay của Chi nhánh nói riêng. Khóa luận: Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn tại NH Đông Á.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Giải pháp hiệu quả sử dụng vốn tại NH Đông Á

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x