Khóa luận: Kiểm toán khoản mục TSCĐ do công ty Kiểm toán

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Kiểm toán khoản mục TSCĐ do công ty Kiểm toán hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Hoàn thiện công tác kiểm toán khoản mục TSCĐ hữu hình trong kiểm toán BCTC do công ty TNHH Kiểm toán Việt Anh– chi nhánh Hải Phòng thực hiện dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

LỜI MỞ ĐẦU

Trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới và sự phát triển không ngừng của nền kinh tế thị trường có định hướng như ngày nay, nhu cầu về sự minh bạch đối với các thông tin tài chính ngày càng trở nên quan trọng đối với các thông tin nhà nước, các nhà đầu tư, người lao động và đặc biệt là chủ sở hữu doanh nghiệp. Trước nhu cầu đó, ngành kiểm toán nói chung và các công ty kiểm toán nói riêng ngày càng chiếm vị thế quan trọng trong nền kinh thế.

Trong số các dịch vụ của các công ty kiểm toán thì dịch vụ kiểm toán báo cáo tài chính luôn chiếm tỷ trọng lớn tạo được niềm tin cho người sử dụng thông qua thông tin trên BCTC. Để đạt được mục đích kiểm toán BCTC, các Kiểm toán viên cần phải xem xét kiểm tra tính riêng biệt các khoản mục trên BCTC để xác minh và bày tỏ ý kiến về tính trung thực và hợp lý của báo cáo tài chính.

Tài sản cố định (TSCĐ) và khấu hao tài sản cố định là một bộ phận không thể thiếu đối với bất cứ doanh nghiệp nào và đồng thời là một bộ phận quan trọng của BCTC, chiếm giá trị lớn trong tổng tài sản của doanh nghiệp, đóng vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Do đó khoản mục này cũng chứa đựng nhiểu rủi ro kiểm toán. Mỗi sai sót đối với khoản mục này có thể gây ra những ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC của doanh nghiệp. Vì vậy mà việc đưa ra kết luận kiểm toán về TSCĐ có ảnh hưởng lớn đến kết luận kiểm toán BCTC. Nhận thức được tính cấp thiết, sự quan trọng của TSCĐ trong mỗi DN và trong quá trình thực tập tại Công ty TNHH Kiểm toán Việt Anh – chi nhánh Hải Phòng nhận được sự giúp đỡ của các anh chị trong phòng Kiểm toán BCTC cùng với sự giúp đỡ của giảng viên hướng dẫn Ths. Trần Thị Thanh Thảo em đã chọn đề tài cho khóa luận tốt nghiệp là: “Hoàn thiện công tác kiểm toán khoản mục tài sản cố định hữu hình trong kiểm toán BCTC do công ty TNHH Kiểm toán Việt Anh – chi nhánh Hải Phòng thực hiện”.

Ngoài lời mở đầu và kết luận, khóa luận gồm 3 chương như sau:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác kiểm toán khoản mục tài sản cố định hữu hình trong kiểm toán Báo cáo tài chính
  • Chương 2: Thực trạng công tác kiểm toán khoản mục TSCĐ hữu hình trong Kiểm toán BCTC tại công ty TNHH Kiểm toán Việt Anh – Chi nhánh Hải Phòng thực hiện
  • Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác kiểm toán khoản mục TSCĐ hữu hình trong kiểm toán BCTC tại công ty TNHH Kiểm toán Việt Anh – Chi nhánh Hải Phòng thực hiện

Trong quá trình nghiên cứu thực hiện khóa luận, do năng lực bản thân còn hạn chế cũng như chưa có nhiều kiến thức thực tế nên bài viết của em còn nhiều thiếu sót, mong các thầy cô quan tâm, góp ý để em hoàn thiện bài khóa luận này.

Chương 1: Cơ sở lý luận về công tác kiểm toán khoản mục tài sản cố định hữu hình trong kiểm toán Báo cáo tài chính

1.1 Khái quát về TSCĐ hữu hình

1.1.1 Khái niệm và đặc điểm TSCĐ hữu hình

  • Khái niệm TSCĐ hữu hình Khóa luận: Kiểm toán khoản mục TSCĐ do công ty Kiểm toán.

Theo thông tư 45/2013/TT-BTC ngày 25 tháng 4 năm 2013 một nguồn lực của doanh nghiệp được coi là TSCĐ hữu hình phải thỏa mãn đồng thời cả 4 tiêu chuẩn sau:

  • Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó: Lợi ích kinh tế tài sản đó mang lại được biểu hiện ở viêc tăng doanh thu, tiết kiệm chi phí, tăng chất lượng của sản phẩm, dịch vụ khi doanh nghiệp kiểm soát và sử dụng một tài sản nào đó.
  • Nguyên giá tài sản cố định phải được xác định một cách đáng tin cậy: Tiêu chuẩn này yêu cầu một tài sản nào đó muốn được ghi nhận là tài sản cố định thì phải có cơ sở khách quan để xác định giá trị ban đầu của nó.
  • Thời gian sử dụng ước tính trên 1 năm: Tiêu chuẩn này nhằm cụ thể hóa tiêu chuẩn thứ nhất của TSCĐ. Lợi ích kinh tế trong tương lai do việc sử dụng TSCĐ không phải là trong 1 năm tài chính mà ít nhất hai năm.
  • Có đủ tiêu chuẩn giá trị theo quy định hiện hành: Theo Điều 3 chương II thông tư 45/2013/TT-BTC thì tiêu chuẩn của TSCĐ hữu hình phải có giá trị từ 30.000.000 đồng trở lên (bắt đầu áp dụng cho năm tài chính 2013).

TSCĐ hữu hình thường là bộ phận chủ yếu trong tổng số tài sản và đóng vai trò quan trọng trong việc thể hiện tình hình tài chính của DN vì vậy việc xác định một tài sản có được ghi nhận là TSCĐ hữu hình hay là một khoản chi phí SXKD trong kỳ sẽ có ảnh hưởng đáng kể đến báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của DN.

  • Đặc điểm TSCĐ Hữu hình

Về mặt hiện vật: Tham gia vào nhiều chu kỳ SXKD và vẫn giữ nguyên được hình thái vật chất ban đầu cho đến khi hư hỏng phải loại bỏ.

  • Về mặt giá trị: Tài sản cố định được biểu hiện dưới hai hình thái:

Một bộ phận giá trị tồn tại dưới hình thái ban đầu gắn với hiện vật TSCĐ. Một bộ phận giá trị tài sản cố định chuyển vào sản phẩm và bộ phận này sẽ chuyển hoá thành tiền khi bán được sản phẩm.

Khi tham gia vào quá trình SX, nhìn chung TSCĐ không bị thay đổi hình thái hiện vật nhưng tính năng công suất giảm dần tức là nó bị hao mòn và cùng với sự giảm dần về giá trị sử dụng thì giá trị của nó cũng giảm đi. Bộ phận giá trị hao mòn đó chuyển vào giá trị sản phẩm mà nó SX ra và gọi là trích khấu hao cơ bản. TSCĐ là một hàng hoá như một hàng hoá thông thường khác, thông qua mua bán trao đổi, nó có thể chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng từ chủ thể này sang chủ thể khác trên thị trường tư liệu SX.

Do có kết cấu phức tạp gồm nhiều bộ phận với mức độ hao mòn không đồng đều nên trong quá trình sử dụng TSCĐ có thể bị hư hỏng từng bộ phận.

1.1.2 Phân loại TSCĐ hữu hình Khóa luận: Kiểm toán khoản mục TSCĐ do công ty Kiểm toán.

Do TSCĐ trong doanh nghiệp có nhiều loại với nhiều hình thái biểu hiện, tính chất đầu tư, công dụng và tình hình sử dụng khác nhau… nên để thuận lợi cho việc quản lý và hạch toán TSCĐ, cần sắp xếp TSCĐ vào từng nhóm theo những đặc trưng nhất định như phân theo quyền sở hữu, phân theo nguồn hình thành, phân theo hình thái biểu hiện, phân theo hình thái biểu hiện, … Mỗi một cách phân loại có tác dụng khác nhau đối với công tác hạch toán và quản lý TSCĐ.

  • TSCĐ trong doanh nghiệp được chia thành TSCĐ hữu hình và TSCĐ vô hình.
  • TSCĐ hữu hình là những TSCĐ có hình thái vật chất và được chia thành các nhóm sau:

Loại 1: Nhà cửa, vật kiến trúc: là TSCĐ của doanh nghiệp được hình thành sau quá trình thi công xây dựng như trụ sở làm việc, nhà kho, hàng rào, tháp nước, sân bãi, các công trình trang trí cho nhà cửa, đường xá, cầu cống, đường sắt, đường băng sân bay, cầu tàu, cầu cảng.

Loại 2: Máy móc, thiết bị: là toàn bộ các loại máy móc, thiết bị dùng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như máy móc chuyên dùng, thiết bị công tác, giàn khoan trong lĩnh vực dầu khí, cần cẩu, dây chuyền công nghệ, những máy móc đơn lẻ…

Loại 3: Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn: là các loại phương tiện vận tải gồm phương tiện vận tải đường sắt, đường thuỷ, đường bộ, đường không, đường ống và các thiết bị truyền dẫn như hệ thống thông tin, hệ thống điện, đường ống nước, băng tải,…

Loại 4: Thiết bị, dụng cụ quản lý: là những thiết bị, dụng cụ dùng trong công tác quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như máy vi tính phục vụ quản lý, thiết bị điện tử, thiết bị, dụng cụ đo lường, kiểm tra chất lượng, máy hút ẩm, hút bụi, chống mối mọt.…

Loại 5: Vườn cây lâu năm, súc vật làm việc và/hoặc cho sản phẩm: là các vườn cây lâu năm như vườn cà phê, vườn chè, vườn cao su, vườn cây ăn quả, thảm cỏ, thảm cây xanh…; súc vật làm việc hoặc cho sản phẩm như đàn voi, đàn ngựa, đàn trâu, đàn bò… Khóa luận: Kiểm toán khoản mục TSCĐ do công ty Kiểm toán.

Loại 6: Các loại TSCĐ khác: là toàn bộ các TSCĐ khác chưa liệt kê vào năm loại trên như tranh ảnh, tác phẩm nghệ thuật.

1.1.3 Công tác quản lý TSCĐ hữu hình

Tài sản cố định là cơ sở vật chất chủ yếu của doanh nghiệp, đặc biệt là TSCĐ hữu hình, giúp cho doanh nghiệp đạt được các mục tiêu về hoạt động và tài chính trong quá trình sản xuất kinh doanh. Nhiệm vụ đặt ra đối với mỗi doanh nghiệp là phải tăng cường công tác quản lý TSCĐ nhằm đạt hiệu quả cao. Trong quá trình sản xuất kinh doanh, TSCĐ, đặc biệt là TSCĐ hữu hình vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu nhưng giá trị của nó giảm dần sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh. Vì vậy, trong công tác quản lý TSCĐ hữu hình, các doanh nghiệp cần theo dõi cả về mặt hiện vật và mặt giá trị của TSCĐ hữu hình.

  • Quản lý về mặt hiện vật

lý và bảo quản TSCĐ về mặt hiện vật có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Việc quản lý phải được đảm bảo cả về số lượng và chất lượng đối với các TSCĐ. TSCĐ phải luôn được đảm bảo đầy đủ về số lượng, tránh được những hỏng hóc, mất mát và có thể phát huy hết công suất hiện có trong quá trình sử dụng, khi TSCĐ bị hư hỏng phải phát hiện kịp thời được ngay và có những biện pháp khắc phục và sửa chữa một cách kịp thời. Muốn vậy, các đơn vị phải xây dựng được các nội quy quản lý và sử dụng TSCĐ một cách khoa học; phải xây dựng được các kế hoạch sử dụng, khấu hao và sửa chữa TSCĐ một cách phù hợp với thực tế sử dụng tài sản; phải xây dựng được các định mức kinh tế kỹ thuật có liên quan đến việc sử dụng tài sản.

  • Quản lý về mặt giá trị

trọng đến các báo cáo tài chính, đến các thông tin liên quan đến các tài sản này. Về mặt giá trị, TSCĐ hữu hình phải được quản lý chặt chẽ về nguyên giá, giá trị hao mòn và giá trị còn lại. Trong quá trình quản lý, đòi hỏi đơn vị phải dõi theo chặt chẽ tình hình tăng, giảm giá trị TSCĐ hữu hình khi sửa chữa, nâng cấp, tháo dỡ các chi tiết bộ phận, cải tiến, đánh giá lại TSCĐ hữu hình…

  • Nguyên giá TSCĐ hữu hình

Nguyên giá: là toàn bộ các chi phí mà doanh nghiệp phải bỏ ra để có được TSCĐ tính đến thời điểm đưa tài sản đó vào trạng thái sẵn hàng sử dụng.

  • Cách xác định nguyên giá TSCĐ hữu hình:
  • TSCĐ hữu hình tăng do mua sắm:

Nguyên giá TSCĐ hữu hình mua sắm (kể cả mua mới và cũ): là giá mua thực tế phải trả cộng (+) các khoản thuế (không bao gồm các khoản thuế được hoàn lại), các chi phí liên quan trực tiếp phải chi ra tính đến thời điểm đưa tài sản cố định vào trạng thái sẵn sàng sử dụng như: lãi tiền vay phát sinh trong quá trình đầu tư mua sắm tài sản cố định; chi phí vận chuyển, bốc dỡ; chi phí nâng cấp; chi phí lắp đặt, chạy thử; lệ phí trước bạ và các chi phí liên quan trực tiếp khác.

Trường hợp TSCĐ hữu hình mua trả chậm, trả góp, nguyên giá TSCĐ là giá mua trả tiền ngay tại thời điểm mua cộng (+) các khoản thuế (không bao gồm các khoản thuế được hoàn lại), các chi phí liên quan trực tiếp phải chi ra tính đến thời điểm đưa TSCĐ vào trạng thái sẵn sàng sử dụng như: chi phí vận chuyển, bốc dỡ; chi phí nâng cấp; chi phí lắp đặt, chạy thử; lệ phí trước bạ (nếu có). Khóa luận: Kiểm toán khoản mục TSCĐ do công ty Kiểm toán.

  • TSCĐ hữu hình mua theo hình thức trao đổi:

Nguyên giá TSCĐ hữu hình mua theo hình thức trao đổi với một TSCĐ hữu hình không tương tự hoặc tài sản khác là giá trị hợp lý của TSCĐ hữu hình nhận về, hoặc giá trị hợp lý của TSCĐ đem trao đổi (sau khi cộng thêm các khoản phải trả thêm hoặc trừ đi các khoản phải thu về) cộng (+) các khoản thuế (không bao gồm các khoản thuế được hoàn lại), các chi phí liên quan trực tiếp phải chi ra đến thời điểm đưa TSCĐ vào trạng thái sẵn sàng sử dụng, như: chi phí vận chuyển, bốc dỡ; chi phí nâng cấp; chi phí lắp đặt, chạy thử; lệ phí trước bạ (nếu có).

Nguyên giá TSCĐ hữu hình mua theo hình thức trao đổi với một TSCĐ hữu hình tương tự, hoặc có thể hình thành do được bán để đổi lấy quyền sở hữu một tài sản tương tự là giá trị còn lại của TSCĐ hữu hình đem trao đổi.

  • Tài sản cố định hữu hình tăng do tự xây dựng hoặc tự sản xuất:

Nguyên giá TSCĐ hữu hình tự xây dựng là giá trị quyết toán công trình khi đưa vào sử dụng. Trường hợp TSCĐ đã đưa vào sử dụng nhưng chưa thực hiện quyết toán thì doanh nghiệp hạch toán nguyên giá theo giá tạm tính và điều chỉnh sau khi quyết toán công trình hoàn thành.

Nguyên giá TSCĐ hữu hình tự sản xuất là giá thành thực tế của TSCĐ hữu hình cộng (+) các chi phí lắp đặt chạy thử, các chi phí khác trực tiếp liên quan tính đến thời điểm đưa TSCĐ hữu hình vào trạng thái sẵn sàng sử dụng (trừ các khoản lãi nội bộ, giá trị sản phẩm thu hồi được trong quá trình chạy thử, sản xuất thử, các chi phí không hợp lý như vật liệu lãng phí, lao động hoặc các khoản chi phí khác vượt quá định mức quy định trong xây dựng hoặc sản xuất).

  • Tài sản cố định hữu hình tăng do đầu tư xây dựng:

Nguyên giá TSCĐ tăng do đầu tư xây dựng cơ bản hình thành theo phương thức giao thầu là giá quyết toán công trình xây dựng theo quy định tại Quy chế quản lý đầu tư và xây dựng hiện hành cộng (+) lệ phí trước bạ, các chi phí liên quan trực tiếp khác. Trường hợp TSCĐ do đầu tư xây dựng đã đưa vào sử dụng nhưng chưa thực hiện quyết toán thì doanh nghiệp hạch toán nguyên giá theo giá tạm tính và điều chỉnh sau khi quyết toán công trình hoàn thành.

Đối với tài sản cố định là con súc vật làm việc và/ hoặc cho sản phẩm, vườn cây lâu năm thì nguyên giá là toàn bộ các chi phí thực tế đã chi ra cho con súc vật, vườn cây đó từ lúc hình thành tính đến thời điểm đưa vào khai thác, sử dụng.

  • Tài sản cố định hữu hình tăng do được tài trợ, được biếu, được tặng, do phát hiện thừa:

Nguyên giá tài sản cố định hữu hình được tài trợ, được biếu, được tặng, do phát hiện thừa là giá trị theo đánh giá thực tế của Hội đồng giao nhận hoặc tổ chức định giá chuyên nghiệp.

Tài sản cố định hữu hình tăng do được cấp; được điều chuyển đến: Nguyên giá TSCĐ hữu hình được cấp, được điều chuyển đến bao gồm giá trị còn lại của TSCĐ trên số kế toán ở đơn vị cấp, đơn vị điều chuyển hoặc giá trị theo đánh giá thực tế của tổ chức định giá chuyên nghiệp theo quy định của pháp luật, cộng (+) các chi phí liên quan trực tiếp mà bên nhận tài sản phải chi ra tính đến thời điểm đưa TSCĐ vào trạng thái sẵn sàng sử dụng như chi phí thuê tổ chức định giá; chi phí nâng cấp, lắp đặt, chạy thử… Khóa luận: Kiểm toán khoản mục TSCĐ do công ty Kiểm toán.

  • Tài sản cố định hữu hình nhận góp vốn, nhận lại vốn góp:

TSCĐ nhận góp vốn, nhận lại vốn góp là giá trị do các thành viên, cổ đông sáng lập định giá nhất trí; hoặc doanh nghiệp và người góp vốn thoả thuận; hoặc do tổ chức chuyên nghiệp định giá theo quy định của pháp luật và được các thành viên, cổ đông sáng lập chấp thuận.

Trong thời gian sử dụng, nguyên giá TSCĐ có thể bị thay đổi, khi đó phải căn cứ vào thực trạng để ghi tăng hay giảm nguyên giá TSCĐ. Nguyên giá TSCĐ của doanh nghiệp chỉ thay đổi trong các trường hợp sau:

  • Đánh giá lại TSCĐ theo quyết định của Nhà nước;
  • Xây lắp, trang bị thêm cho TSCĐ;
  • Thay đổi bộ phận của TSCĐ hữu hình làm tăng thời gian sử dụng hữu ích, hoặc làm tăng công suất sử dụng của chúng;
  • Cải tiến bộ phận của TSCĐ hữu hình làm tăng đáng kể chất lượng sản phẩm sản xuất ra;
  • Áp dụng quy trình công nghệ sản xuất mới làm giảm chi phí hoạt động của tài sản so với trước;
  • Tháo dỡ một hoặc một số bộ phận của TSCĐ.

Mọi trường hợp tăng, giảm TSCĐ hữu hình đều phải lập biên bản giao nhận, biên bản thanh lý TSCĐ và phải thực hiện các thủ tục quy định. Kế toán có nhiệm vụ lập và hoàn chỉnh hồ sơ TSCĐ về mặt kế toán.

  • Giá trị hao mòn và khấu hao tài sản cố định

Giá trị khấu hao TSCĐ hữu hình phải được phân bổ một cách có hệ thống trong thời gian sử dụng hữu ích của chúng. Phương pháp khấu hao phải phù hợp với lợi ích kinh tế mà tài sản mang lại cho doanh nghiệp. số khấu hao của từng kì được hạch toán vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong kỳ, trừ khi chúng được tính vào giá trị của các tài sản khác, như: khấu hao TSCĐ hữu hình dùng cho các bộ phận hoạt động trong giai đoạn triển khai là một bộ phận chi phí cấu thành nguyên giá TSCĐ vô hình (theo quy định của chuẩn mực TSCĐ vô hình), hoặc chi phí khấu hao TSCĐ hữu hình dùng cho quá trình tự xây hoặc tự chế các tài khoản khác.

Lợi ích do TSCĐ hữu hình đem lại được doanh nghiệp khai thác dần bằng các sử dụng các tài sản đó. Tuy nhiên, các nhân tố khác như sự lạc hậu về kỹ thuật, sự hao mòn của tài sản do chúng không được sử dụng thường dẫn đến sự suy giảm lợi ích kinh tế mà các doanh nghiệp ước tính các tài sản đó sẽ mang lại. do đó, khi xác định thời gian sử dụng hữu ích của TSCĐ hữu hình phải xem xét các yếu tố sau: Khóa luận: Kiểm toán khoản mục TSCĐ do công ty Kiểm toán.

  • Mức độ sử dụng ước tính của doanh nghiệp đối với tài sản đó. Mức độ sử dụng được đánh giá thông qua công suất hoặc sản lượng dự tính.
  • Mức độ hao mòn phụ thuộc vào các nhân tố liên quan trong quá trình sử dụng tài sản, như: số ca làm việc, việc sửa chữa và bảo quản của doanh nghiệp đối với tài sản, cũng như việc bảo quản chúng trong những thời kỳ không hoạt động được.
  • Hao mòn vô hình phát sinh do việc thay đổi hay cải tiến dây chuyền công nghệ hay do sự thay đổi của nhu cầu thì trường về sản phẩm hoặc dịch vụ do tài sản đó sản xuất ra.

Thời gian sử dụng hữu ích của tài sản cố định hữu hình do danh nghiệp xác định chủ yếu dựa trên mức độ sử dụng ước tính của tài sản. tuy nhiên, do chính sách quản lý tài sản của doanh nghiệp mà thời gian sử dụng hữu ích ước tính của tài sản có thể ngắn hơn thời gian sử dụng hữu ích thực tế của nó.vì vậy, việc ước tính thời gian sử dụng hữu ích của một TSCĐ hữu hình còn phải dựa trên kinh nghiệm của doanh nghiệp đối với tài sản cùng loại.

Có ba phương pháp khấu hao TSCĐ hữu hình, gồm:

  • Phương pháp khấu hao đường thẳng;
  • Phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần (khấu hao nhanh);
  • Phương pháp khấu hao theo số lượng sản phẩm.

Theo phương pháp khấu hao đường thẳng, số khấu hao hàng năm không thay đổi trong suốt thời gian sử dụng hữu ích của tài sản. Theo phương pháp khấu hao theo số dư giảm dần, số khấu hao hàng năm giảm dần trong suốt thời gian sử dụng hữu ích của tài sản. phương pháp khấu hao theo số lượng sản phẩm dựa trên tổng số đơn vị sản phẩm ước tính tài sản có thể tạo ra. Phương pháp khấu hao do doanh nghiệp xác định để áp dụng cho từng TSCĐ hữu hình phải được thực hiện nhất quán, trừ khi có sự thay đổi trong cách thức sử dụng tài sản đó.

Doanh nghiệp không được tiếp tục tính khấu hao với những TSCĐ hữu hình đã khấu hao hết giá trị nhưng vẫn còn sử dụng vào hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Giá trị còn lại:

  • Giá trị còn lại: là nguyên giá của TSCĐ hữu hình sau khi trừ (-) số khấu hao lũy kế của tài sản đó.
  • Do vậy, việc ghi sổ phải đảm bảo phản ánh được tất cả ba chỉ tiêu về giá trị của TSCĐ là nguyên giá, giá trị hao mòn và giá trị còn lại.
  • Giá trị còn lại = Nguyên giá – Giá trị hao mòn lũy kế
  • Đây là chỉ tiêu phản ánh đúng trạng thái kỹ thuật của TSCĐ , số tiền còn lại cần tiếp tục thu hồi dưới hình thức khấu hao và là căn cứ để tăng cường đổi mới TSCĐ.

1.1.4 Tổ chức công tác kế toán TSCĐ hữu hình Khóa luận: Kiểm toán khoản mục TSCĐ do công ty Kiểm toán.

  • Hệ thống chứng từ, sổ sách kế toán

Về chứng từ sử dụng: tổ chức chứng từ kế toán là thiết kế khối lượng công tác hạch toán kế toán ban đầu trên hệ thống các văn bản chứng từ hợp lý, hợp pháp theo một quy trình luân chuyển chứng từ nhất định.

Các chứng từ được sử dụng trong hạch toán TSCĐ hữu hình bao gồm:

  • Hợp đồng mua bán TSCĐ.
  • Hóa đơn bán hàng, hóa đơn kiêm phiếu xuất kho của người bán.
  • Biên bản bàn giao TSCĐ .
  • Biên bản thanh lý, nhượng bán TSCĐ .
  • Biên bản nghiệm thu khối lượng sửa chữa lớn hoàn thành.
  • Biên bản đánh giá lại TSCĐ.
  • Biên bản kiểm kê TSCĐ.
  • Biên bản quyết toán, thanh lý hợp đồng mua tài sản.
  • Bảng tính và phân bổ khấu hao TSCĐ.

Về sổ sách: để theo dõi kịp thời và đầy đủ các thông tin về TSCĐ hữu hình, các doanh nghiệp thường sử dụng hệ thống sổ sách như:

  • Thẻ tài sản cố định.
  • Sổ chi tiết TSCĐ theo từng bộ phận sử dụng và theo loại TSCĐ theo dõi.
  • Sổ cái các tài khoản 211,214.
  • Tài khoản sử dụng

Để phản ánh tình hình biến động TSCĐ hữu hình, doanh nghiệp cần phải sử dụng các tài khoản chủ yếu sau:

Tài khoản 211 “Tài sản cố định hữu hình”: Tài khoản này dùng để phản ánh giá trị hiện có, tình hình biến động tăng giảm của toàn bộ TSCĐ của doanh nghiệp theo nguyên giá.

  • Tài khoản 211 được chi tiết đến các tài khoản cấp 2 sau:
  • TK 2111: nhà cửa vật kiến trúc
  • TK 2112: Máy móc thiết bị
  • TK 2113: Phương tiện vận tải, truyền dẫn
  • TK 2114: Thiết bị, dụng cụ quản lý
  • TK 2115: Cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm
  • TK 2118: TSCĐ khác

Tài khoản 214 “Hao mòn tài sản cố định”: tài khoản này phản ánh giá trị hao mòn của TSCĐ trong quá trình sử dụng do trích khấu hao và những khoản tăng giảm hao mòn khác của các loại tài sản của doanh nghiệp.

Để phán ánh giá trị hao mòn của TSCĐ hữu hình ta sử dụng tài khoản: 2141: Hao mòn TSCĐ hữu hình

1.2 Nội dung công tác kiểm toán TSCĐ hữu hình trong kiểm toán Báo cáo tài chính Khóa luận: Kiểm toán khoản mục TSCĐ do công ty Kiểm toán.

1.2.1 Khái quát chung về kiểm toán Báo cáo tài chính

  • Khái niệm kiểm toán Báo cáo tài chính

Hiện nay, khái niệm “ Kiểm toán báo cáo tài chính” vẫn có nhiều cách dùng và cách hiểu khác nhau. Tuy nhiên, theo cách hiểu chung nhất thì kiểm toán báo cáo tài chính được hiểu như sau:

Kiểm toán báo cáo tài chính là hoạt động của các kiểm toán viên độc lập và có năng lực tiến hành thu thập và đánh giá các bằng chứng kiểm toán về các báo cáo tài chính được kiểm toán nhằm kiểm tra và báo cáo về mức độ trung thực của báo cáo tài chính được kiểm toán với các tiêu chuẩn, chuẩn mực đã được thiết lập. (Trích giáo trình kiểm toán báo cáo tài chính – Nhà xuất bản tài chính năm 2011)

  • Mục tiêu kiểm toán Báo cáo tài chính

Trong kiểm toán báo cáo tài chính, đối tượng kiểm toán là các tài liệu, số liệu kế toán và báo cáo tài chính: gồm Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả kinh doanh, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, và Thuyết minh báo cáo tài chính. Các báo cáo này chứa đựng những thông tin tài chính phản ánh kết quả, các mặt hoạt động của doanh nghiệp bằng các chỉ tiêu giá trị, tình hình tài chính, kết quả kinh doanh, tình hình và kết quả lưu chuyển tiền tệ và các thông tin cần thiết khác để nhà quản lý, chính phủ, các ngân hàng, nhà đầu tư, cho người bán, người mua sử dụng báo cáo tài chính có thể phân tích, đánh giá đúng đắn tình hình và kết quả kinh doanh của đơn vị.

  • Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200, mục tiêu của kiểm toán BCTC là:
  • Giúp cho kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến xác nhận rằng báo cáo tài chính có được trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận), có tuân thủ pháp luật liên quan và có phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không.
  • Mục tiêu của kiểm toán báo cáo tài chính còn giúp cho đơn vị được kiểm toán thấy rõ những tồn tại, sai sót để khắc phục nhằm nâng cao chất lượng thông tin tài chính của đơn vị.
  • Các mục tiêu kiểm toán cụ thể:
  • Xác minh tính có thật và có căn cứ hợp lý: KTV phải xác minh việc ghi chép và thông tin của kế toán có dựa trên các căn cứ hợp lý hay không, các nghiệp vụ phát sinh có thật sự xảy ra hay không.
  • Tính đầy đủ: KTV kiểm tra tất cả các nghiệp vụ, các sự kiện kinh tế phát sinh trong kỳ kế toán có được ghi chép vào sổ và báo cáo kế toán không.
  • Sự đánh giá: KTV phải kiểm tra các nghiệp vụ kinh tế phát sinh được ghi chép vào sổ và báo cáo kế toán có được đánh giá chính xác về giá trị không.
  • Sự phân loại: KTV phải xác minh được tính hợp lý của sự phân loại các giao dịch đã được phản ánh vào hệ thống các tài khoản kế toán và hệ thống báo cáo kế toán.
  • Tính đúng kỳ: KTV phải xác minh và kiểm định lại các sự kiện, nghiệp vụ phát sinh trong kỳ được ghi chép và báo cáo đúng kỳ phát sinh hay không.
  • Cộng dồn và chuyển sổ: KTV phải kiểm tra xác minh xem các giao dich phát sinh có được kế toán theo dõi ghi chép liên tục không, việc cộng dồn và chuyển sổ có thực hiện đúng quy định không.
  • Trình bày công khai: KTV phải kiểm tra các nghiệp vụ, các giao dịch có được ghi chép, báo cáo trên hệ thống sổ và báo cáo kế toán không, sổ và báo cáo kế toán có hợp thức và hợp pháp không.

1.2.2 Mục tiêu và căn cứ kiểm toán khoản mục Tài sản cố định hữu hình Khóa luận: Kiểm toán khoản mục TSCĐ do công ty Kiểm toán.

1.2.2.1 Mục tiêu kiểm toán khoản mục Tài sản cố định hữu hình

Phù hợp với mục đích chung của kiểm toán BCTC là xác nhận mức độ tin cậy của BCTC được kiểm toán; Mục tiêu cụ thể của kiểm toán TSCĐ là thu thập đầy đủ các bằng chứng thích hợp từ đó đưa ra lời xác nhận về mức độ tin cậy của các thông tin tài chính có liên quan. Các thông tin tài chính có liên quan bao gồm, các thông tin về nguyên giá, giá trị hao mòn, các khoản chi phí có liên quan đến TSCĐ như chi phí khấu hao trong chi phí sản xuất kinh doanh từ đó tác động đến các chỉ tiêu lợi nhuận, chi phí và kết quả hoạt động kinh doanh được tổng hợp và trình bày trong các báo cáo tài chính hàng năm của đơn vị.

Trên cơ sở mục đích kiểm toán TSCĐ hữu hình ta xác định các mục tiêu kiểm toán cụ thể như sau:

Đối với các nghiệp vụ về TSCĐ hữu hình:

  • Sự phát sinh: Tất cả các nghiệp vụ TSCĐ hữu hình được ghi sổ trong kỳ là phát sinh thực tế, không có các nghiệp vụ ghi khống.
  • Tính toán, đánh giá: đảm bảo các nghiệp vụ TSCĐ được xác định theo đúng các nguyên tắc, chế độ kế toán hiện hành và được tính đúng đắn không có sai sót.
  • Đầy đủ: các nghiệp vụ TSCĐ phát sinh trong kỳ đều được phản ánh, theo dõi đầy đủ trên các sổ kế toán.
  • Đúng đắn: các nghiệp vụ TSCĐ phát sinh trong kỳ đều được phân loại đúng đắn theo quy định của các chuẩn mực, chế độ kế toán liên quan và quy định đặc thù của doanh nghiệp; các nghiệp vụ này được hạch toán đúng trình tự và phương pháp kế toán.
  • Đúng kỳ: các nghiệp vụ TSCĐ đều được hạch toán đúng kỳ phát sinh theo cơ sở dồn tích…

Đối với số dư các Tài khoản TSCĐ hữu hình: Khóa luận: Kiểm toán khoản mục TSCĐ do công ty Kiểm toán.

  • Sự hiện hữu: tất cả các TSCĐ hữu hình được doanh nghiệp trình bày trên BCTC là phải tồn tại thực tế tại thời điểm báo cáo. Số liệu trên các báo cáo phải khớp đúng với số liệu kiểm kê thực tế của doanh nghiệp;
  • Đánh giá: số dư các tài khoản TSCĐ được đánh giá theo đúng quy định của Chuẩn mực, chế độ kế toán và quy định cụ thể của doanh nghiệp;
  • Tính toán: Việc tính toán xác định số dư TSCĐ là đúng đắn không có sai sót;
  • Đầy đủ: toàn bộ TSCĐ được trình bày đầy đủ trên BCTC (không bị thiếu hoặc bị sót);
  • Đúng đắn: TSCĐ phải được phân loại đúng đắn để trình bày trên các BCTC;
  • Cộng dồn: Số liệu lũy kế tính dồn trên các sổ chi tiết TSCĐ được xác định đúng đắn. Việc kết chuyển số liệu từ các Sổ kế toán chi tiết sang các Sổ kế toán tổng hợp và Sổ Cái không có sai sót;
  • Báo cáo: các chỉ tiêu liên quan đến TSCĐ trên BCTC được xác định đúng theo các quy định của Chuẩn mực, chế độ kế toán và không có sai sót.

1.2.1.2 Căn cứ kiểm toán khoản mục Tài sản cố định hữu hình

Để có thể tiến hành kiểm toán và có thể đưa ra nhận xét về các chỉ tiêu có liên quan đến TSCĐ hữu hình trên Báo cáo tài chính, kiểm toán viên phải dựa trên các thông tin và tài liệu sau:

  • Các nội quy, quy chế của nội bộ đơn vị liên quan đến việc mua sắm, quản lý, sử dụng thanh lý nhượng bán tài sản cố định hữu hình.
  • Các tài liệu là căn cứ pháp lý cho các nghiệp vụ tăng, giảm, mua bán, sửa chữa TSCĐ hữu hình như: các hợp đồng mua bán, các bản thanh lý hợp đồng, các quyết định đầu tư…
  • Các chứng từ phát sinh liên quan đến TSCĐ như: Hóa đơn mua, các chứng từ liên quan đến quá trình vận chuyển, lắp đặt, sửa chữa TCSĐ hữu hình, các chứng từ thanh toán có liên quan như: Phiếu chi, giấy báo nợ, các biên bản thanh lý nhượng bán TSCĐ…
  • Các sổ kế toán tổng hợp và chi tiết của các tìa khoản có liên quan như: sổ chi tiết TSCĐ, Sổ cái và sổ tổng hợp các TK có liên quan.

Các nguồn tài liệu về quá trình xử lý kế toán chủ yếu cung cấp bằng chứng liên quan trực tiếp đến các cơ sở dẫn liệu của các thông tin tài chính đã trình bày trên báo cáo tài chính được kiểm toán.

KẾT LUẬN Khóa luận: Kiểm toán khoản mục TSCĐ do công ty Kiểm toán.

Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế nước ta, nghành dịch vụ kiểm toán nói chung và công ty TNHH Kiểm toán Việt Anh chi nhánh Hải Phòng nói riêng cũng không ngừng phát triển, nâng cao chất lượng, khẳng định vị thế và uy tín của mình trên thị trường, là sự lựa chọn hàng đầu của các doanh nghiệp, tổ chức có nhu cầu kiểm toán.

Qua thời gian thực tập tại công ty TNHH Kiểm toán Việt Anh – Chi nhánh Hải Phòng em đã được tìm hiểu về lịch sử hình thành và phát triển của công ty, bộ máy tổ chức, quá trình kiểm toán các phần hành và đặc biệt là được tiếp xúc, học hỏi về công việc và các kỹ năng kiểm toán – đây là những kiến thức rất bổ ích giúp em trau dồi thêm kinh nghiệm, hiểu biết nghề nghiệp, chuẩn bị hành trang trước khi ra trường.

Song do hạn chế về thời gian và nhận thức, số lượng khách hàng được tìm hiểu là không nhiều nên những ý kiến em đưa ra còn mang tính lý thuyết nhiều. Em mong nhận được sự chỉ bảo, góp ý của các thầy cô trong khoa để bài viết của em được hoàn thiện hơn. Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn Th.s Trần Thị Thanh Thảo, các anh chị trong công ty TNHH Kiểm toán Việt Anh – chi nhánh Hải Phòng đã hướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt thời gian thực tập cũng như trong quá trình em hoàn thành đề tài này. Khóa luận: Kiểm toán khoản mục TSCĐ do công ty Kiểm toán.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Bảng cân đối kế toán tại Công ty Máy tính Việt Nhật

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x