Khóa luận: Mộng trong thơ văn Tản Đà nhìn từ phương diện

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Mộng trong thơ văn Tản Đà nhìn từ phương diện hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Mộng trong thơ văn Tản Đà nhìn từ phương diện nội dung dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

Trước hết, ta cần nói đến việc mộng trong quan niệm của Tản Đà có hai điểm đặc biệt quan trọng. Thứ nhất: mộng thuộc về cõi tinh thần, mà cõi tinh thần là không có giới hạn, vậy nên, thế giới mộng của ông là không có giới hạn. Thứ hai: mặc dù không thuộc về thế giới thực nhưng những trải nghiệm trong cõi mộng cũng là một hiện thực vì Tản Đà đã khẳng định “Thật hồn Thật hồn! Thật phách! Thật thân thể! (Hầu Trời). Hai thuộc tính ấy giúp Tản Đà được sống với những gì mình ước mong, và cũng với những thuộc tính như vậy, thế giới mộng trong thơ văn Tản Đà được biểu hiện rất đa dạng và phong phú. Tuy nhiên trong quá trình tìm hiểu chúng tôi nhận thấy rằng có ba giấc mộng chiếm đa số thời lượng sáng tác của Tản Đà. Đó là: giấc mộng thoát ly, giấc mộng yêu đương và giấc mộng làm nhà tư tưởng. Cũng chính ở đây ta bắt gặp ở ông một trí tưởng tượng vô cùng phong phú, bay bổng.

Bảng 2.1 Bảng thống kê số lượng bài thơ liên quan đến ba loại giấc mộng trong toàn bộ 177 bài thơ Tản Đà được in trong cuốn Văn học hiện đại – Tuyển tập Tản Đà, do Xuân Diệu biên soạn, xuất bản năm 2002.

Từ bảng thống kê trên, có thể thấy số lượng bài thơ có liên quan đến mộng chiếm 98 bài thơ tương đương 55.4% (một số bài thơ có liên quan đến 2 hoặc 3 kiểu mộng). Như vậy ta có thể kết luận hơn một nửa thơ Tản Đà là viết về mộng với giấc mộng về tư tưởng chiếm ưu thế.

2.1 Tản Đà, từ giấc mộng “kinh bang tế thế” đến mộng làm nhà tư tưởng

2.1.1 Tản Đà và giấc mộng “kinh bang tế thế”

Được nuôi dưỡng trong khuôn khổ đạo học Khổng – Mạnh, Tản Đà trước sau vẫn sống trong tâm trạng của bậc tài danh thuộc thời đại trước, nuôi nấng giấc mộng lập thân bằng con đường khoa cử như tất cả nho sinh trong xã hội phong kiến với cái viễn cảnh “ngựa anh đi trước võng nàng theo sau”. Thế nhưng, những biến cố chính trị đã dẫn đến sự tàn lụi của một chế độ tuyển chọn nhân tài bằng con đường khoa cử tồn tại hàng mấy thế kỷ. Nổi tiếng là một “thần đồng” của tỉnh Sơn Tây từ những năm mới mười lăm tuổi, sự đổ vỡ của nền Hán học đã đặt dấu chấm hết cho giấc mộng công danh của Tản Đà. Song, điều đáng quý ở nhà thơ núi Tản sông Đà là ở chỗ ông mộng công danh không phải là để vinh thân phì gia mà cái chí công danh ấy được tạo dựng nên bằng ước vọng phụng sự cho quốc gia, cho dân tộc. Cái chí hướng cao cả, cái hoài bão đẹp đẽ ấy đã được ươm mầm ngay từ khi cậu ấm Hiếu còn trai trẻ. Nhớ lại ngày đó, Tản Đà từng ôm ấp giấc mộng lập nên nghiệp lớn để xứng đáng với thân nam nhi đứng trong trời đất:

Phận nam nhi tang bồng là chí, Chữ trượng phu ý khí nhường ai.

Non sông thề với hai vai,

Quyết đem bút sắt mà mài lòng son.

Dư đồ rách, nước non tô lại,

Đồng bào xa, trai gái kêu lên.

Doanh hoàn là cuộc đua chen,

Rồng Tiên phải giống ngu hèn mãi ru.

(Xuân sầu)

Nói về mộng lập nghiệp của mình, trong Tản đà nhàn tưởng (tư tưởng do lúc nhàn tĩnh suy ra) Tản Đà cũng có viết: “Ở đời mà không có sự nghiệp, như suốt đời đi ở trọ mà không có nhà” và “Người đàn ông quý ở tài, mà cũng phải ở đức; người đàn bà quý ở đức, mà không cần có tài”. Trần Đình Hượu cho rằng cái mộng nghiệp lớn của cậu Nguyễn Khắc Hiếu lúc bấy giờ “đó là một sự nghiệp vì dân vì nước, có đủ màu sắc yêu nước và duy tân, nhưng vẫn là một sự nghiệp cá nhân và dựa vào tài văn chương” [7; tr. 535]. Và An Nam tạp chí chính là “cả hy vọng lập sự nghiệp vì đời” của Tản Đà:

Một giải sông Đà vạn cổ lưu! Ba Vì núi Tản thiên niên thọ! An Nam tạp chí vạn thiên thu!

Cùng nước An Nam thiên vạn cổ!

(Thơ mừng Tết) Khóa luận: Mộng trong thơ văn Tản Đà nhìn từ phương diện.

Thế nhưng, trót sinh trong xã hội mà văn chương đã không còn là một sản phẩm cao quý, không còn được đặt vào vị trí cao nhất mà cũng chẳng thể đổi lấy được công danh, Tản Đà gần như vỡ mộng. Người đàn ông có tài, biết mình có tài, hiển nhiên có sự mơ ước được đem cái tài ra để phục vụ đất nước để “đường mây bay bổng cánh hồng, dọc ngang trời rộng vẫy vùng biển khơi” nhưng mọi sự lại không thành, mộng tan vì thời thế, Tản Đà tự than rằng:

Sự nghiệp ngàn năm xa vút mắt Tài tình một gánh nặng trên vai.

(Năm hết hữu cảm)

Xã hội Việt Nam trong khoảng 30 năm đầu thế kỷ XX vô cùng phức tạp, tình hình tư tưởng trong xã hội còn phức tạp hơn với ba ý thức hệ: phong kiến, tư sản, vô sản tồn tại cùng lúc và tranh giành ảnh hưởng với nhau. Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu hiển nhiên trở thành tấm gương phản chiếu xã hội với “khối mâu thuẫn lớn” trong tư tưởng. Khối mâu thuẫn ấy là sản phẩm của con người Tản Đà (sinh ra trong gia đình quan lại phong kiến và được nuôi dạy từ bé theo tư tưởng phong kiến Nho gia) với thành phần bản thân (giai cấp tiểu tư sản) và ý thức hệ xã hội mới, trong hoàn cảnh nước ta bị Pháp xâm lược. Do đó, Tản Đà dần rời xa kiểu nhà nho chính thống mà trở thành nhà nho tài tử sống trong xã hội thực dân nửa phong kiến. Song, Tản Đà trước sau vẫn không rời bỏ hoàn toàn giấc mộng “kinh bang tế thế” mà bản thân đã được hấp thụ từ gia đình từ tấm bé, và rồi khi tiếp thu được tư tưởng duy tân phương Tây, thi sĩ núi Tản sông Đà cuối cùng đã quyết định “thực hành một giấc mộng kinh bang tế thế kiểu mới: cải cách xã hội bằng văn thơ. Vì thế, bên cạnh những hình thức biểu hiện của một cái tôi ngông, thơ văn ông còn đề cập đến lòng thương dân, chí lo đời, tinh thần bất bình với xã hội ô trọc, lên án tệ tham nhũng, đục khoét của quan lại, tố cáo sức mạnh tha hóa ghê gớm, nhiều mặt của đồng tiền” [11; tr. 1592].

Tản Đà vốn tôn thờ học thuyết Khổng Tử, một học thuyết cho rằng “phụ nhân nan hóa”, trước tình hình chính trị xã hội rối ren, những giá trị đạo đức lâu đời có nguy cơ bị đồng tiền phá vỡ, ông có ý muốn răn dạy phụ nữ nhằm bảo vệ gia đình, bảo vệ luân thường. Trong Đài gương kinh, Tản Đà viết: “Gương đã là một đồ dùng để soi mà phần nhiều cần hơn cho bên người đàn bà” thế nên “Muốn biết đức hạnh ăn ở trí khôn suy xét; phận sự làm ăn để sửa cho được tốt thời phải dùng một thứ gương bằng chữ”. Ông Nguyễn Khắc Hiếu dùng tác phẩm này trước nhằm răn dạy đàn bà, sau là chấn chỉnh lại trật tự xã hội. Từ “thì con gái” phải biết hiếu thuận với cha mẹ, có tình với anh chị em, biết gìn giữ phẩm hạnh và hiểu rõ trách nhiệm của mình. Đến “thì làm dâu cùng là lúc có chồng” thì phải biết hiếu thuận với cha mẹ chồng, giữ cái phẩm hạnh, lo việc nội trợ, cái chức nghiệp của mình và phải biết yêu thương, kính chồng. Sau, “thì làm chủ nhà cùng là lúc có con” phải làm tròn phận sự với cha mẹ hai bên, giữ chữ hạnh và chăm lo răn dạy con cái. Cuối đời, đến “thì tuổi già”, “người đàn bà từ thì con gái, thì làm dâu, thì làm chủ nhà cho đến thì tuổi già mà đức hạnh, trí khôn, phận sự không nhầm lỗi là chân tu.”. Phận làm đàn bà con gái, những tưởng không giúp ích được gì cho công cuộc chấn hưng đất nước nhưng lại có tác động vô cùng lớn với gia đình, như việc Mạnh Kha vâng lời mẹ hiền dạy mà quyết dựng nên nghiệp lớn vậy. Khóa luận: Mộng trong thơ văn Tản Đà nhìn từ phương diện.

Bên cạnh việc răn dạy đàn bà, Tản Đà còn nhận ra sự ra đời của đồng tiền đã tác động đáng kể đến những giá trị đạo đức ở đời, mà một người tự nhận mình là một “nhà văn kiêm nhà tư tưởng” như ông thì công tác tư tưởng sẽ được biểu hiện qua văn chương. Nổi bật nhất, Thần tiền là một tác phẩm thuộc thể tiểu thuyết đối thoại của Tản Đà được viết vào khoảng năm 1917. Tác phẩm kể về hai đồng bạc (Tản Đà gọi là hai cô gái) nói chuyện với nhau về mặt lợi và mặt hại của đồng tiền. Mở đầu là vài dòng thơ tác giả nói về đồng tiền:

Có nhiều là giầu, Có ít là nghèo, Ai mà không có,

Khốn khó trăm chiều

(Thần tiền)

Tản Đà, qua nhân vật đồng tiền trong Thần tiền, đầu tiên đã chứng minh việc đồng tiền mang đến những cái lợi rõ ràng, “đại khái thời như các người sung sướng, hiển vinh, tài trí, công nghiệp trên thế gian đều có là nhờ chị em mình mà được như thế cả”, nhưng cũng gây nên những tội ác như việc đồng tiền chị kể rằng có chuyện hai anh em tranh chấp tài sản bố mẹ, bèn dùng đồng tiền để đêm đi đút lót quan “Sau rút lại, đứa thời mất ruộng mất nương, đứa thời mất nhà mất cửa mà sinh ra oán thù nhau suốt đời. Như thế thời chị em mình chẳng làm khổ người ta là sao?”. Cuối cùng, hai đồng tiền đưa đến kết luận là đồng tiền không có lỗi, lỗi ở người sử dụng không giữ được đạo đức: “Không trừ bỏ chị em mình, chỉ lấy chất đạo đức tiêm vào lòng người đời cho biến hóa tính nết ở trong lòng người, cho mất những cái tính nết xấu ấy đi thời chị em mình không có chỗ di duyên mà làm hại”.

Tản Đà còn mong mỏi có thể dùng văn chương của mình chấn chỉnh lại lương tri của quốc dân, thế nên ông đã viết những tác phẩm nghiêng nặng về khuyên dạy quốc dân như Khuyên người giúp dân lụt hay bài xẩm chợ Khuyên thanh niên học hành:

Hỡi ai ơi là những người

Ông trên mạn ngược, bà vùng xuôi Có nhiều cho nhiều, ít cho ít

Cứu kẻ bần dân lúc thủy tai Lúc thuỷ tai, này ai ơi!

Quý tiếc thương yêu lấy giống nòi Con cháu Rồng Tiên khi đã bĩ Đừng nên rẻ rúng, bỏ nhau hoài!

(Khuyên người giúp dân lụt)

Hội gió mây xoay vần mấy lúc, Bực tài danh ta cố học mà nên. Thanh niên, hỡi bạn thanh niên!

Cùng nhau ta cố gắng để tiến lên cho kịp người. Ít câu ta hát vui chơi,

Anh em ghi nhớ mà vui học hành. Chớ quên cái chí đua ganh.

(Khuyên thanh niên học hành) Khóa luận: Mộng trong thơ văn Tản Đà nhìn từ phương diện.

Trong mộng ước trở thành một nhà cải cách, có thể dùng ngòi bút của mình (chủ yếu là qua sự nghiệp báo chí) để chấn hưng đất nước, mở mang cho dân tộc, Tản Đà đã cho ra đời những tác phẩm nghiêng nặng về sự giáo lý, mà ông cho là văn “vị đời”. Trong Tản Đà tùng văn tổng cộng có bốn bài: “Ở đời thế nào là phải?”, “Ba đức riêng” (gồm Tự ái, Tự trọng, Tự tôn), “Lòng thương xót” và “Cái lo”. Cụ thể hơn, Tản Đà cho rằng to lớn nhất trong lòng người là tấm lòng biết thương xót, có lẽ nhằm kêu gọi sự tự thức tỉnh của thanh niên trước tình hình đáng thương xót của đất nước. ông giảng giải: “Phàm người, ai muốn học làm thánh hiền hào kiệt, phải nên mở rộng lòng thương xót. Lòng thương xót mà có mở rộng được thời mới bao dung được nhiều cái khổ sở, tội ác của nhân thế.”. Về sự tự tôn, Tản Đà lấy gương của những bậc thánh hiền như ông Y Doãn, vua Lê Thái Tổ, phật Thích Ca, ông Lư Thoa, Lâm Khẳng, đức Khổng Tử để minh chứng rằng: “cái đức tự tôn là rất sang” và “sau đức tự ái, đức tự trọng mà tiến được đức tự tôn thời thánh hiền hào kiệt cách gang tấc.”, “chúng ta nếu đã biết tự ái, tự trọng, tự tôn thời thời tức là tự ta yêu tiếc nhà, tôn trọng nước”. Như vậy, chung quy lại tư tưởng của Tản Đà vẫn là kêu gọi lòng yêu nước của quốc dân.

Chính vì Tản Đà luôn cố gắng sống giữa cuộc đời trong sự vật lộn, dù có lúc ông chán đời đến mức phát “ngán” lên, nhưng cuối cùng thi sĩ cũng chẳng thể rời bỏ cuộc đời. Lo sợ trước sự đổi thay, và hơn hết là trước cảnh mình ngày một già đi mà sự nghiệp cải cách xã hội về mặt tư tưởng cho quốc dân vẫn chưa hoàn thành, trong bài thơ cuối cùng của cuộc đời mình in trên báo Ngày nay vào mùa xuân 1939, Tản Đà viết:

Làng văn mấy bạn văn chương

Bút hoa án tuyết, hơi sương mái đầu

Tiểu thư ai đó tựa lầu

Thơ đào chưa vịnh, mai hầu bảy ba Trời xanh, trời cũng khi già

Xuân xanh, xanh mãi đâu mà, hỡi ai!

(Vui xuân)

Qua những tác phẩm văn chương vị đời, Tản Đà hy vọng có thể đánh thức nhân tâm con người, giúp họ không bị tha hóa bởi xã hội đồng tiền cũng như gìn giữ cái Thiên lương cao cả ở con người.

2.1.2 Tản Đà với thuyết “Thiên lương” và giấc mộng “đại đồng” Khóa luận: Mộng trong thơ văn Tản Đà nhìn từ phương diện.

Trong “Bài chép mộng” (Tản Đà văn tập), có đoạn ông Nguyễn Khắc Hiếu viết như sau: “Mộng thường hiện ra bởi tư tưởng. Tư tưởng đi mặt nào, mộng đón mặt ấy. Cho nên ông Khổng Tử có tư tưởng hành đạo thời mộng thấy ông Chu Công; ông Văn Vương có tư tưởng Hưng Chu thời mộng được ông Lã Vọng. Xem mộng ai thế nào biết tư tưởng thế ấy.”. Như vậy, cái tư tưởng của Tản Đà đã được bộc lộ rõ qua đêm ông mộng được lên Trời, đó chính là mong muốn truyền bá thuyết Thiên lương:

Thiên tào tra sổ xét vừa xong

Đệ sổ lên trình Thượng đế trông

– “Bẩm quả có lên Nguyễn Khắc Hiếu Đày xuống hạ giới vì tội ngông.” Trời rằng: “Không phải là Trời đày. Trời định sai con một việc này

Là việc “thiên lương” của nhân loại,

Cho con xuông thuật cùng đời hay.”

(Hầu Trời)

Trong chuyến lên thiên đình ở Giấc mộng con II, Trời đã căn dặn Nguyễn Khắc Hiếu rằng: “Ta sai con trần giới, chỉ cốt có một việc đó; còn như các việc làm văn khác, chẳng qua là ta cho con có cái sinh kế ở dưới trần. Vậy từ nay con phải để thì giờ mà làm dần việc “thiên lương” đó đi, thời con sẽ được sớm trở về tiên giới.”. Tản Đà đã luận giải về thuyết Thiên lương của mình rất chi tiết trong Khối tình (bản chính) mục số 22. Bao gồm: thứ nhất, “Thiên lương có nhất định”: “Thiên lương là một vật đứng đầu loài vô hình, là cái hay của Giời cho tự nhiên trong loài người, phàm người ai cũng có”, Tản Đà chia các vật trên thế giới thành hai loại: loại hữu hình và loại vô hình. Loại vô hình thuộc về sự suy xét của các nhà triết lý. Thiên lương sẵn có, tùy theo con người có tư chất hay không, có biết gìn giữ thiên lương hay không mà thôi. Thứ hai, về “Nguyên chất của thiên lương”: “Thiên lương có ba chất: 1. Lương tri, là cái tri giác của Giời cho, để cảm biết các sự vật. 2. Lương tâm, là cái bụng dạ của giời cho, để tiếp nhận các sự vật. 3. Lương năng, là cái tài giỏi của giời cho, để làm theo các sự vật.” “Đó là ba nguyên chất của thiên lương, ba chất điều hòa là thiên lương toàn vẹn”. Thứ ba, “Sức vận động của Thiên lương”: “Thiên lương càng lớn, sức vận động càng mạnh, thường làm ra lắm sự phi thường”, Tản Đà dẫn chứng như việc Khổng Tử vì muốn truyền đạo học mà trải qua biết bao khổ cực nào có ai bắt phải làm thế. Hay những việc khí tiết của Trương Tuần, Mã Chí Ni, Ba Luật Tây, nàng Mỵ Ê, nàng Lục Châu đều là do sự thúc bảo của Thiên lương mà làm ra bao nhiêu việc hậu thế phải kinh ngạc. Thứ tư là “Công dụng của thiên lương”: “Ông Lương Khải Siêu có nói rằng: Thế giới là gì? Là hào kiệt đó thôi. Ta muốn nói thêm rằng: Hào kiệt là gì? Là thiên lương đó thôi. Thế giới được thành ra thế giới là nhờ có thiên lương của những người hào kiệt trên thế giời ”. Cuối cùng, về “Trọng giá của thiên lương”, Tản Đà cho rằng: “thực giá của người toàn ở thiên lương cả” và “thiên lương càng tốt, càng trọng thiên lương. Cho nên ông Bàng Manh bỏ quan mà giữ lấy thiên lương, ông Lê Gíac bỏ mình mà giữ lấy thiên lương” ấy cũng là vì quý cái thiên lương.

Như vậy, văn chương là phương tiện để Tản Đà rao giảng “thuyết Thiên lương”, ông sớm nhận ra rằng: “Văn chương có trọng giá, không phải là một sự chơi riêng trong ý thú, không phải là một sự đua vui trong phẩm bình, mà phải có bóng mây hơi nước đến dân xã” (Giấc mộng con). Năm 1938, chỉ một năm trước khi mất, Tản Đà vẫn cứ nặng nợvới tư tưởng Thiên lương mà cả đời ông mộng ước có ngày thực hiện được: Khóa luận: Mộng trong thơ văn Tản Đà nhìn từ phương diện.

Chút lòng tri kỷ xin ông giúp Minh bạch tâu lên đến cửu trùng

Hai chữ “Thiên lương” thằng Hiếu nhớ, Dám mong không phụ Trời trông mong.

(Tiễn ông Công lên trời)

Các nhà nghiên cứu nhìn nhận về thuyết Thiên lương mà Tản Đà đã hao tốn biết bao tâm sức để xây dựng nên như thế nào? Theo Nguyễn Huệ Chi thì: “Thực chất, nội dung Thiên lương của Tản Đà chỉ là sự hỗn hợp chữ Tâm của Mạnh Tử, của Vương Dương Minh, với lý thuyết của những nhà dân chủ tư sản phương Tây thế kỷ XVIII, chủ yếu là Ruxô.” [11; tr. 1592]. Văn Tâm trong Tản Đà – khối mâu thuẫn lớn thì cho rằng: “qua thuyết Thiên lương, một công trình suy tưởng mà Tản Đà rất lấy làm trân trọng, ta thấy được thấp thoáng một phiên bản thu nhỏ lại của toàn bộ tư tưởng Tản Đà” [22; tr. 427]. Còn Phạm Văn Diệu kết luận: “bằng thuyết thiên lương, Tản Đà vẫn canh cánh bên lòng một giấc mơ đẹp đẽ về cõi thế người đời” [7; tr. 414].

Giấc mơ đẹp về thế giới người mà Phạm Văn Diêu nói đến ấy là một xã hội chủ nghĩa không tưởng trong thơ văn Tản Đà. Trong bài thơ Đời lắm việc ông đã gợi mở tư tưởng đại đồng như sau:

Giàu sang chưa dễ ai nhàn Nghèo hèn ai chớ phàn nàn làm chi

Vui buồn ai cũng có khi

Có hoan lạc, có sầu bi lẽ thường Trăm năm một giấc mơ màng

Nghĩ chi cho bận gan vàng hỡi ai!…

(Đời lắm việc)

Khổng Tử đã khởi xướng “thuyết đại đồng” và truyền bá sự bình đẳng về tài sản là nền móng của xã hội ổn định. Học trò của Khổng Tử là Mạnh Tử tiếp tục tư tưởng này và đề ra một kế hoạch chi tiết để tổ chức sản xuất và tiêu thụ, bảo vệ sự phát triển lành mạnh của trẻ em, sự giáo dục và lao động đối với người lớn, sự nghỉ ngơi với người già. Tản Đà “Nghĩ cho cái tư tưởng đại đồng ở hạ giới mà có ngày được thực hiện như thế chăng, thời thật là hạnh phúc cho nhân loại biết bao!” “Đã đại đồng thời cũng có lẽ hòa bình” (Giấc mộng con). Tư tưởng đại đồng và ước mơ xã hội chủ nghĩa không tưởng được miêu tả khá chi tiết trong “cõi đời mới” trên vùng Bắc Cực ở Giấc mộng con. Trong đoạn đi đến “cõi đời mới”, Tản Đà vô cùng ngạc nhiên lẫn thích thú khi thấy một xã hội: “không có sự thiên tai, không có sự địa biến, không có sự trộm cướp, không có sự án tù, không có sự kiện cáo, không có sự buôn danh bán lợi, không có câu thế thái nhân tình”, và nguyên do của những cái không ở trên là ở sự “không có tiền bạc gì cả”. Khóa luận: Mộng trong thơ văn Tản Đà nhìn từ phương diện.

Có thể thấy rằng càng về sau, giai cấp tư sản càng tỏ ra phản bội những lý tưởng đặt ra trước đó, và sự ra đời của đồng tiền, theo Tản Đà đã làm thay đổi cục diện đất nước rất sâu rộng. Suy tưởng theo lương tâm chủ quan, thương xót trước cảnh thiếu thốn phổ biến trong xã hội đương thời, Tản Đà đã đề cao một “thế giới đại đồng” với “thủ chi bất cấm, dụng chi bất kiệt” (tha hồ lấy không cấm, tha hồ dùng không hết). Như vậy, “giấc mơ đại đồng thô sơ của Tản Đà đã bao hàm những đặc tính của một xã hội cộng sản chủ nghĩa: tất cả mọi người đều làm việc; tài sản là của chung và hưởng thụ theo nhu cầu.” [22; tr. 378]. Khuynh hướng phát triển của “cõi đời mới” là quay về thời thái cổ nhưng lại có nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ thuật, tìm con đường tiến hóa thiên nhiên để có “tự do trong sạchđộc lập thanh thản. Giấc mộng xã hội của Tản Đà, theo Trần Đình Hượu, “Tản Đà quả là người có lòng với đất nước và tiến hóa nhưng cách suy nghĩ chắp vá và hời hợt chỉ đưa ông đến những ảo tưởng, vừa làm ông thất vọng trong thực tế, vừa tạo ra một nét đặc sắc trong cách yêu nước của Tản Đà.” [7; tr. 559].

Vậy, khi viết Giấc mộng con, Tản Đà muốn thực hiện mộng ước về một xã hội lý tưởng. Chán ghét thực tại, ấp ủ một tinh thần yêu nước, mong muốn một xã hội lý tưởng, nhưng vì bất lực nên đành gửi tâm ý của mình vào văn chương, vào rượu say, và vào mộng mị mà thôi. Nhưng cay đắng thay, lối thoát này cũng chẳng thể giúp thi nhân tồn tại, thỏa mãn. Có thể nói theo Nguyễn Phương Chi là :“từ Giấc mộng con thứ nhất đến Giấc mộng con thứ hai là một sự bế tắc hoàn toàn.” [11; tr. 529].

Suy cho cùng, động lực của tất cả thuyết Thiên lương, tư tưởng đại đồng lẫn chủ nghĩa xã hội không tưởng của thi sĩ núi Tản sông Đà là từ lòng yêu nước với mong muốn được dùng cái tài của mình canh tân đất nước. Năm 1926, ông có thay đổi, từ chỗ tự coi mình là nhà triết học hoạt động lý luận, ông ngả sang hoạt động xã hội. Trên tờ An Nam tạp chí đã không còn những bài ca tụng “nhà nước bảo hộ” mà thay vào đó là những bài bàn về trách nhiệm của quốc dân đối với đất nước. Yêu nước, Tản Đà hoài niệm lại quá khứ vẻ vang của dân tộc với niềm tự hào và nỗi tiếc nhớ:

Trưng thị quần thoa,

Mê Linh tướng tài.

Đời Đông Hán, Hán quan vô loài,

Riêng thù chị, làm bận lòng ai. Núi sông thề nguyền

Yên ngựa cành mai;

Cơ đồ bá vương, gái tài trai.

(Nói về liệt đại anh hùng nước ta): Khóa luận: Mộng trong thơ văn Tản Đà nhìn từ phương diện.

Các anh hùng được nhắc đến trong bài ca cổ bản này là: Hai Bà Trưng, Ngô Quyền, Triệu Quang Phục, Đinh Tiên Hoàng, Lê Lợi, Quang Trung. Có thể thấy rằng những cái tên ấy không chỉ là những “liệt đại anh hùng” mà còn là vua, họ là những vị vua vô cùng tài giỏi, có công đánh tan quân xâm lược giành lại độc lập cho dân tộc: Trưng Nữ Vương, Ngô Vương, Triệu Việt Vương, Đinh Tiên Hoàng, Lê Thái Tổ, vua Quang Trung. Bên cạnh đó, còn có bài thơ Tản Đà làm để ca ngợi những danh tướng đời Hậu Trần:

Quân cơ sau trước nối thay nhau Hai bố, hai con một dạ sắt

Khí thiêng đúc lại bốn anh hào Trời có thương Trần chưa vội mất.

(Đời Hậu Trần)

Đặng Tất là con Đặng Dung, Nguyễn Cảnh Chân là con Nguyễn Cảnh Dị, cả bốn người đều là những tướng giỏi, trong cuộc chiến chống lại nhà Minh thời Hậu Trần. Sau thua trận Sái Đà nhưng hào khí Đông A vẫn mãi vang dội.

Trong Tản Đà văn tập, Tản Đà chia người yêu nước làm ba hạng: ái quốc bằng đạo đức, ái quốc bằng nhiệt thành và lấy khách khí ái quốc và ông cho mình là người yêu nước ở hạng cao nhất: yêu nước bằng đạo đức. Vì vậy mà chuẩn mực để gọi là yêu nước với Tản Đà chủ yếu là ở phương diện đạo đức, lòng yêu nước ở Tản Đà biểu hiện rõ trong một loại thơ mà ta tạm gọi là thơ nước non. Trong thơ nước non, Tản Đà thường nhắc đến một lời thề nguyền:

Nước non nặng một lời thề Nước đi, đi mãi không về cùng non.

Nhớ lời nguyện nước thề non

Nước đi chưa lại non còn đứng không.

(Thề non nước)

Người thề giữ lời hứa, biểu hiện thành một hành động tượng trưng: ra Bắc vào Nam, đi đâu Tản Đà cũng mang theo bên mình một bức địa đồ đất nước” [7; tr. 561]. Nhưng bức địa đồ ấy lại rách nát chứ không lành lặn gì, Tản Đà dành hẳn bốn bài thơ để nói về nó với những trăn trở khôn nguôi về vận mệnh của đất nước:

Ấy trước ông cha mua để lại Mà sau con cháu lấy làm chơi Thôi thôi có trách chi đàn trẻ Thôi để rồi ta sẽ liệu bồi.

(Vịnh bức địa đồ rách) Khóa luận: Mộng trong thơ văn Tản Đà nhìn từ phương diện.

Giận cho con cái đà hư thế Nghĩ đến ông cha dám bỏ hoài. Còn núi còn sông nhìn vẫn rõ Có hồ có giấy dễ mà chơi.

(Tiếp theo bài Vịnh bức địa đồ rách)

Đành chịu ngồi trông rách tả tơi Buồn chăng? Hỡi các chị em ơi! Nghĩ cho lúc trước thương người vẽ Ngó lại chung quanh hiếm kẻ bồi

(Địa đồ rách thứ ba) Hồ giấy muốn mua, tiền chẳng sẵn Non sông đứng ngắm lệ nhường vơi Việc nhà chung cả ai ai đó

Ai có cùng ta sẽ liệu bồi?

(Địa đồ rách thứ tư)

Sáng tác liên tục bốn bài về bức địa đồ rách, Tản Đà không chỉ bày tỏ nỗi xót thương trước tình cảnh nô lệ của đất nước, trách mắng lớp trẻ sao lại dửng dưng trước cảnh nước mất nhà tan mà còn quyết “sẽ liệu bồi”. Đó là một hoài bão, một niềm tin và hơn hết là giấc mộng giành lại giang san của Tản Đà. Cũng có khi Tản Đà dùng phép ẩn dụ để bộc lộ lòng yêu nước trong sự bế tắc:

Cánh Bằng đập ngọn phù dao,

Đầm xa tiếng Hạc lên cao vọng trời.

Ao thu lạnh lẽo sự đời,

Cành sương ngọn gió bời bời lá tre. Lắng tai Ếch những ngồi nghe

Tiếc xuân Quốc đã qua hè, ai thương?

(Ếch mà)

Như vậy, từ lòng yêu nước và chí làm trai theo quan niệm nho giáo, Tản Đà đã luôn ôm ấp một giấc mộng “kinh bang tế thế” theo kiểu mới, đó là mộng làm nhà tư tưởng. Tư tưởng của Tản Đà là thuyết Thiên lương và mong ước về một xã hội chủ nghĩa không tưởng. Những mơ ước cải cách xã hội của Tản Đà vẫn còn những hạn chế như Trần Đình Hượu cho rằng: “cách suy nghĩ chắp vá và hời hợt chỉ đưa ông đến những ảo tưởng” [7; tr. 559], song đấy cũng là một điểm đặc biệt trong cách yêu nước của Tản Đà nói riêng và giấc mộng về mặt tư tưởng của ông nói chung.

Tiểu kết Khóa luận: Mộng trong thơ văn Tản Đà nhìn từ phương diện.

Về đặc điểm mộng trong thơ văn Tản Đà, với hai thuộc tính và ba loại giấc mộng: thoát ly, yêu đương, tư tưởng, ông đã chứng minh rằng mình thực sự là một “mộng nhân” và những giấc mộng của ông có cơ sở, có sắp xếp, có ý nghĩa. Ở giấc mộng thoát ly, Tản Đà khởi đầu với quan niệm “nhân sinh như mộng” để rồi ông mộng được lên cung trăng, mộng được lên trời, gặp tiên và bộc lộ sự chán cả một kiếp làm người, một kiếp người nghèo khổ và đầy trắc trở. Từ cuộc đời thực đầy sự “xê dịch”, Tản Đà đã mang giấc mộng viễn du vào trong văn thơ của mình, đi để có nơi để bỏ không phải đi vì có đích đến. Bên cạnh đó, cậu ấm Hiếu là một người đa tình, từ sự đa tình dẫn đến giấc mộng yêu đương vì những mối tình trong đời thực không may đều đổ vỡ. Không tìm được hồng nhan tri kỷ trong cuộc đời, Tản Đà mãi uớc ao được gặp tri kỷ trong cõi mộng. Cùng với “lăng kính phong tình ân ái”, Tản Đà nhìn mọi thứ dưới cặp mắt yêu đương, hàng loạt bài thơ viết gửi những người bạn của ông là minh chứng cho điều ấy. Cuối cùng, sâu đậm nhất trong văn thơ Tản Đà vẫn là giấc mộng“kinh bang tế thế”, mộng làm “nhà văn học kiêm triết học ở Đông Dương” với thuyết Thiên lương và giấc mộng về một “xã hội chủ nghĩa không tưởng”. Vậy, mộng trong thơ văn Tản Đà là mộng có quy mô và vô cùng đặc sắc, trước và sau ông, thật không có bất cứ văn thi sĩ nào có thế giới mộng đa dạng như thế. Cũng qua đó, chứng tỏ rằng Tản Đà là một thi sĩ, một nhà văn hết sức lãng mạn, xứng đáng là bậc đàn anh của lớp văn thi sĩ 1932 – 1945.

2.2 Tản Đà và giấc mộng thoát ly

Tản Đà mộng nhiều, nhưng có một điều chắc chắn là những giấc mộng trong thơ văn ông có những biểu hiện khác nhau, mộng thoát ly là một biểu hiện cụ thể nhất của khuynh hướng lãng mạn thoát ly. “Nhân tố lãng mạn đã từng xuất hiện cùng lúc với hình ảnh nhà nho tài tử. Nó phát triển và đi vào văn học trung đại Việt Nam ở giai đoạn khủng hoảng trầm trọng của chế độ phong kiến nửa cuối thế kỷ 18 đến nửa đầu thế kỷ 19.” [10; tr. 96], đó là sự biểu hiện những xúc động của tâm hồn, những suy tư mang tính chất chủ quan. Đến đầu thế kỷ XX, chủ nghĩa lãng mạn đã thể hiện khá rõ những đặc trưng của nó qua thơ Tản Đà. “Tản Đà là nhà thơ của sầu và mộng, của những mối tình vẩn vơ. Trí tưởng tượng hết sức phóng túng giúp ông tạo nên những giấc mơ khá ngông cuồng” [15; tr.35]. Dù là một nhà nho, nhưng vì phải sống trong một xã hội thực dân nửa phong kiến nên trong Tản Đà đã có những khác biệt so với các nhà nho chính thống trước ông về tư tưởng.

Khinh đời không ai biết chơi như mình “Buồn cả cho đời vắng bạn chơi”; khinh đời không ai biết thưởng thức văn mình “Một mình ngâm lại một mình nghe” [7; tr. 203]; khinh đời chẳng ai xứng làm tri kỷ với mình nên đành tìm người trong mộng; khinh đời không ai trọng văn chương mình bằng người trong mộng. Tản Đà một mực tìm đến mộng. Vậy, cũng chính từ cái tôi, cái ngông của mình mà Tản Đà tìm đến cái mộng thoát ly. Anh thư ký Nguyễn Khắc Hiếu, trong bức thư đáp lại cô Chu Kiều Oanh ở Giấc mộng con cũng tự nhận rằng mình thiếu đức tính “trầm, tiềm, mộng, cương nghị, minh, tĩnh” mà không tài nào khác đi được. Có thể nói, điểm nổi bật nhất của cái tôi thoát ly trong thơ văn Tản Đà là thái độ chán ghét thực tại và nỗi mong mỏi tìm đến một thế giới mới, tạm gọi đó là “thế giới thần tiên” hay “thế giới mộng ảo”, đó là một thế giới khác xa cuộc đời chật chội, một sự vượt thoát ra khỏi cái giả dối, trần tục của đời sống thực. Với giấc mộng thoát ly của Tản Đà, chúng tôi xét thấy có năm biểu hiện: quan điểm “nhân sinh như mộng”, mộng lên cung trăng, chán đời, mộng lên trời gặp tiên và giấc mộng viễn du.

2.2.1 Tản Đà từ quan niệm “nhân sinh như mộng” đến nỗi chán kiếp làm người Khóa luận: Mộng trong thơ văn Tản Đà nhìn từ phương diện.

Thật cảnh ngộ của Tản Đà ngày càng túng quẫn, nhưng điều đó không dẫn ông đến thái độ chống đối xã hội mà ông đi con đường của các nhà nho tài tử xưa: hướng về triết lý Trang Chu, một triết lý xem đời là mộng ảo. Vậy nên, nói đến giấc mộng thoát ly của Tản Đà thì biểu hiện trước tiên là ở quan niệm “nhân sinh như mộng” của ông. Quan niệm ấy không phải chỉ mình ông Hiếu đã có đầu tiên, từ những thế kỷ trước, người ta đã cho rằng đời là giấc mộng, như trong thơ của Lý Bạch có câu:

Xử thế nhược đại mộng, Hồ vi lao kỳ sinh!

(Xuân nhật tuý khởi ngôn chí – Lý Bạch)

dịch nghĩa:

Ở cõi đời như trong giấc mộng lớn,

Tại sao mà phải làm mệt nhọc cuộc sống!

Bản dịch của Tản Đà:

Ở đời như giấc chiêm bao

Cái thân còn đó, lao đao làm gì?

Về quan niệm này của Tản Đà, Vũ Bằng từng viết trong Người ghét Tản Đà như sau: “Trăng, gió, rượu, thơ, sông, núi,…tất cả đều là cái nguồn sầu, nói chi đến sinh, lão, bệnh, tử!”. Vì quan niệm nhân sinh như mộng ảo nên Tản Đà lúc nào cũng nhận thức đời không là gì cả mà chỉ là một mối sầu dằng dặc. Và cũng chính từ “quan niệm cuộc đời vô nghĩa, sống là gửi, thác là về như thế, cho nên Tản Đà coi sự sống chỉ là một cuộc sống chỉ là một cái trò chơi, còn sống ngày nào thì còn chơi ngày ấy” [7; tr. 161]. Tản Đà không nói suông, đã không ít lần ông bày tỏ quan điểm ấy trong thơ văn. Và câu thơ “Đời người như giấc chiêm bao” được Tản Đà sử dụng ở cả 3 bài thơ, đó là: Thơ rượu, Đời lắm việc Mấy vần ngẫu hứng.

Quan niệm ấy còn thể hiện qua giấc kê vàng ta đã từng bắt gặp trong “Hoàng lương chợt tỉnh hồn mai” (Đoạn trường tân thanh). Tản Đà viết: Khóa luận: Mộng trong thơ văn Tản Đà nhìn từ phương diện.

Nào những ai:

Kê vàng tỉnh mộng, Tóc bạc thương thân

Vèo trông lá rụng đầy sân,

Công danh phù thế có ngần ấy thôi.

(Cảm thu, tiễn thu)

“Giấc mộng kê vàng” là một điển cố văn học được khá nhiều thi nhân sử dụng, nguồn gốc lấy từ câu chuyện trong Chẩm trung ký về một chàng tên Lư Sinh được Lữ ông đạo sĩ cho một chiếc gối và chìm vào giấc ngủ. Trong giấc ngủ ấy, cả một đời người dài với bao nhiêu là thăng trầm đã diễn ra vô cùng chân thực, để rồi khi “chợt tỉnh mộng, thấy nồi kê nấu vẫn chưa chín. Lư sinh ngạc nhiên nói: Có lẽ mình nằm mộng chăng? Lữ ông cười nói: Việc đời cũng như mộng vậy thôi” [13; tr. 179]. Vậy, “Giấc hoàng lương”, “Giấc mộng kê vàng”, “Giấc Nam Kha”, “Giấc hòe” đều do điển cố trên, “chỉ sự vinh hoa phú quý ở cõi đời chỉ như một giấc mộng” (Đinh Gia Khánh). Từ quan niệm ấy dẫn đến lối suy nghĩ không bon chen, đặc biệt là sự xem thường công danh phú quý của Tản Đà:

Ngẫm nghìn xưa: ai tài hoa, ai tiết liệt, ai đài trang.

Cùng một giấc mơ màng trong vũ trụ

(Đời đáng chán)

Quan niệm đời người như một giấc mộng, khi mùa xuân sắp tới, thêm một tuổi mới, Tản Đà tiễn ông Công lên trời mà lòng bâng khuâng nghĩ thân mình ấy vậy mà nằm mộng đã được một nửa giấc, đời người trăm năm nay đã đi qua một nửa thời gian:

Qua hết đông này năm chục tuổi

Xuân sang đã nửa giấc mơ mòng

(Tiễn ông Công lên trời)

Con người vốn ham sống, những người giàu sang, quyền lực lại càng ham sống lâu hơn. Tương truyền hoàng đế Tần Thủy Hoàng gần cả cuộc đời truy tìm thuốc trường sinh. Tản Đà nhận thấy cuộc đời vốn chỉ là một giấc mộng ngắn, ngắn đến nỗi từ cổ chí kim đã có mấy ai thọ được tới trăm tuổi, ấy vậy mà người ta cứ ham chữ “thọ”, cứ mong mỏi kéo dài sự sống trên cõi tục:

Đời người như giấc chiêm bao

Nghìn xưa đã mấy ai nào trăm năm.

Một đoàn lao lực lao tâm

Quí chi chữ “thọ” mà lăm sống nhiều.

(Thơ rượu) Khóa luận: Mộng trong thơ văn Tản Đà nhìn từ phương diện.

Với quan niệm hướng đến sự nhàn trong tâm, Tản Đà cho rằng mọi việc ở đời cũng chỉ là giấc chiêm bao, vậy nên phàm là con người thì tại sao phải “lao tâm lao lực” vì cái hình hài phù du ấy? Sao không tận hưởng cuộc sống một cách nhàn nhã nhất. Trong sử thi Mahabharata của Ấn Độ, có câu: “Lạ lùng nhất là người nào cũng biết rằng mình sẽ chết, vậy mà vẫn tiếp tục lăng xăng làm cái này cái nọ y như thể mình trường sinh bất tử”, trùng hợp thay lại tương đồng với quan niệm của Tản Đà:

Đời người như giấc chiêm bao Mà trong mộng ảo lại sao không nhàn

Đã sinh ra ở nhân hoàn

“Lao tâm lao lực” một đoàn khác chi!

(Đời lắm việc)

Hỉ, nộ, ái, ố trong kiếp người ai rồi cũng phải trải qua, có ai hơn ai, chẳng ai khác ai. Vậy nên theo Tản Đà thì hãy sống vô ưu vô lo:

Vui buồn ai cũng có khi

Có hoan lạc, có sầu bi lẽ thường

Trăm năm một giấc mơ màng Nghĩ chi cho bận gan vàng hỡi ai!…

(Đời lắm việc)

Ông còn cho rằng vũ trụ, thiên nhiên là vĩnh hằng, chỉ có cuộc đời con người là hữu hạn mà thôi:

Đời người như giấc chiêm bao

Trơ trơ là cái hoa đào gió đông!

(Mấy vần ngẫu hứng)

Hoa đào, gió đông cũng là một điển cố, “Gió đông là gió mùa xuân thổi từ phương Đông. Hoa đào năm nay vẫn tươi đẹp hớn hở cười với gió xuân. Thôi Hộ có bài thơ:

Khứ niên kim nhật thử môn trung, Nhân diện đào hoa tương ánh hồng, Nhân diện bất tri hà xứ khứ,

Đào hoa y cựu tiếu đông phong. Khóa luận: Mộng trong thơ văn Tản Đà nhìn từ phương diện.

(Dịch nghĩa: Năm ngoái hôm nay trong cổng này, mặt người và hoa đào màu hồng ánh lẫn nhau. Nay mặt người không biết đã đi đâu, chỉ còn hoa đào vẫn cười với gió đông như cũ)” [13; tr. 200]. Ấy là sự vĩnh hằng của vũ trụ và sự hữu hạn của kiếp người. Cuối cùng, nhìn lại cuộc đời mình, trong Pháo giao thừa của nhà thi sĩ, Tản Đà viết: “Nhân hồi tưởng nửa năm nay thuộc năm Quý Dậu trở về trước, “Giấc mộng con” là mộng! “Giấc mộng lớn” cũng là mộng! Duyên trái Hà thanh, thi bay Nam định đã là mộng! Chủ bút báo Hữu thanh, chủ sự báo An Nam chẳng qua cũng là mộng! Diễn thuyết Trí Tri, giảng học Hồng Bàng đã là mộng! Thư điếm phố Hà nội, biệt thự đồi Vĩnh Yên chẳng qua cũng là mộng! Nghĩ vậy thời lại thấy bao năm trước năm Quý Dậu đó đều cũng chẳng có chi là giá trị mà cứ gì Quý Dậu một năm?”. Như vậy, Tản Đà xem những sự kiện xảy ra trong cuộc đời mình, năm này sang năm khác, cũng chỉ như một giấc mộng.

Muốn lên cung trăng, Tản Đà bộc lộ sự chán cả một kiếp làm người. Lại một lần nữa, Tản Đà sử dụng hình ảnh loài chim, loài vật từ lâu đã trở thành biểu tượng của sự tự do. Song, ước muốn thoát ly lần này là sự hóa kiếp thành đôi chim nhạn, một giấc mộng vượt thoát hoàn toàn. Những câu thơ trong bài thơ Hơn nhau một chén rượu mời đã cho thấy một sự bất lực của cả kiếp người, đến nỗi chỉ mong kiếp sau được làm một giống loài khác, không phải là con người:

Kiếp sau xin chớ làm người Làm đôi chim nhạn tung trời mà bay

Tuyệt mù bể nước non mây

Bụi hồng trông thẳm như ngày chưa xa.

(Hơn nhau một chén rượu mời)

Tuy nhiên, Tản Đà không hề đơn độc, Nguyễn Công Trứ trước đó cũng đã từng bày tỏ ước muốn được chuyển kiếp làm cây thông. Phải chăng vì đã trải qua một thời gian tù túng ở chốn quan trường nên khi đã về hưu, ông mong ước kiếp sau được sống đời tự chủ để được tự do cất lên tiếng nói trung thực của mình, như cây thông kia được “đứng giữa trời mà reo”. Tản Đà không còn phải sống dưới chế độ phong kiến quân chủ chuyên chế như cụ Trứ, ấy nhưng cái thời đại mà Tản Đà phải sống còn rối ren hơn nhiều, chả trách ông lại mong mỏi đến kiếp sau, khi mà kiếp này chẳng thể cho ông những gì mà ông kỳ vọng. Cuộc đời con người, đáng chán là thế, cuộc đời của những người tài ba lỗi lạc, còn đáng chán hơn khi thời đại không cho phép họ được tung bay như cánh chim, được reo như cây thông giữa trời: Khóa luận: Mộng trong thơ văn Tản Đà nhìn từ phương diện.

Ngồi buồn mà trách ông xanh,

Khi vui muốn khóc, buồn tênh lại cười.

Kiếp sau xin chớ làm người,

Làm cây thông đứng giữa trời mà reo.

(Cây thông – Nguyễn Công Trứ)

Kiếp này làm người hiếm hoi niềm vui, thế nên chúng ta không lạ khi Tản Đà xem đời là bể khổ, một quan niệm rất gần với triết lý nhà Phật. Như trong bài thơ Cánh bèo, Tản Đà nhân một lần đến nhà một “người bạn son phấn” chơi ở Hải Phòng nên mượn cánh bèo để nói người ấy, Tản Đà còn tự chú thích rằng: “nghĩ cho rộng ra thời khắp cõi đời người đâu đều cũng là nơi bể khổ, cái kiếp đời trôi nổi ai cũng như bèo mà thôi. Ai ơi vớt lấy kẻo hoài!” [3; tr. 115]:

Khắp nhân thế là nơi khổ ải Kiếp phù sinh nghĩ lại cũng như ai.

Ai ơi, vớt lấy kẻo hoài.

(Cánh bèo)

Thế nên, Tản Đà luôn tự dặn với mình, với chính ảnh của mình rằng:

Trăm năm ta lánh cõi trần

Nghìn năm mình giữ tinh thần chớ phai.

(Nói chuyện với ảnh)

Chán đời là thế, xem chuyện đời như mộng ảo là thế, nhưng oái ăm thay Tản Đà vẫn cứ phải sống, cứ phải sống làm một con người. “Năm Duy Tân thứ chín, Duy Tân lập hậu mà mình cũng thành hôn. Đến nay cũng ba bốn đứa con, cảnh ngộ ở đời cũng chẳng khác chi người khác; lo ăn lo mặc, kiếp phù sinh rút lại cũng như ai. Cho hay con người ta sinh ra đời như đã dưới một cái quy trình nhất định, dầu có muốn ương với hóa công mà thoát vòng đào trú, khó thay!” (Giấc mộng lớn).

2.2.2 Mộng lên cung trăng Khóa luận: Mộng trong thơ văn Tản Đà nhìn từ phương diện.

Có thể nói, giấc mộng của Tản Đà mang tính chất lãng mạn thoát ly, mà nguyên nhân dẫn đến sự mộng ấy xuất phát từ sự thực. Một cuộc đời không như ông mong muốn, một xã hội tư sản đang dần thương mại hóa tất cả đã khiến sự trọng vọng xưa kia dành cho nho sĩ chẳng còn, và Tản Đà mong muốn thoát ly bằng những giấc mộng triền miên, một phần cũng để quên sự đời cay đắng. Song, Tản Đà – có thể gọi là một nhà văn lãng mạn ở khía cạnh nào đó, không hiểu vô tình hay hữu ý đã đi đúng theo những gì mà các nhà văn lãng mạn thường thể hiện trong tác phẩm của mình. “Đối lập với nguyên tắc bắt chước tự nhiên của chủ nghĩa cổ điển, các nhà lãng mạn đề cao tính tích cực sáng tạo, quyền cải biến thực tại của nghệ sĩ: anh ta tạo ra một thế giới đặc biệt, của mình, đẹp hơn, chân thực hơn cái thực tại kinh nghiệm; bởi vì nghệ thuật, sáng tạo là thực chất thầm kín, là ý nghĩa sâu kín và là giá trị cao nhất của thế giới, cũng có nghĩa nó là thực tại cao nhất.” [11; tr. 289]. Và khi Tản Đà mộng, ông không chỉ được sống những cuộc đời mới mẻ hơn, đẹp đẽ hơn mà ông còn tìm lại được cái tôi của mình và hơn hết là gặp được những người tri kỷ. Dường như cung Nguyệt là nơi mà Tản Đà luôn mong mỏi được đến trú ngụ, nhiều lần trong thơ mình, Tản Đà nhắc đến Quảng Hàn. Có khi ông hỏi chị Hằng rằng: “Cung quế đã ai ngồi đó chửa?” do cái ý ông Muốn làm thằng Cuội; cũng có lúc ông gửi lời: “Ai lên cung Quế nhờ thăm hỏi” trong buổi Tây hồ vọng nguyệt, hỏi giúp ông sao ở trần gian cô độc quá, và “Hỏi thăm cung Nguyệt cho người trọ không?” (Trông hạc bay). Như vậy, biểu hiện thứ hai của giấc mộng thoát ly trong thơ văn Tản Đà, là mộng được lên cung Quế, ánh trăng huyền diệu mà nhiều đêm thi nhân đã tâm sự.

Vậy vì sao Tản Đà lại muốn làm thằng Cuội, chứ không phải là bất kỳ nhân vật nào khác? Trong Giấc mộng con II, anh Cuội đã xuất hiện với câu hỏi: “Ông bây giờ đã bớt ngông chưa?” và đáp trả lại câu nói trêu của Tản Đà về cái người đời hay gọi là “nói dối như Cuội” rằng: “Tôi thời thấy ở dưới ấy anh làm báo nói láo, anh buôn bán thời quảng cáo điêu ngao điêu ngoa, rút lại toàn là nói dối cả!”. Thì ra anh Cuội cũng là một người hiểu chuyện, ấy nhưng anh cứ tối tối một mình thổi sáo bên gốc cây đa, phải chăng đó cũng chính là điều mà Tản Đà muốn. Vì chỉ có anh Cuội là được tự do tự tại, không chức tước, không lễ nghi, không lo nghĩ, khi muốn thì có thể một mình một cõi bầu bạn với thiên nhiên, bầu bạn với chính mình. Song, Tản Đà không phải người đầu tiên bầu bạn với trăng, trò chuyện với chú Cuội và chị Hằng. Trần Tế Xương đã có hẳn vài bài thơ tương tự như vậy:

Ta lên ta hỏi ông trăng,

Hoạ là ông ấy biết chăng sự đời.

Ông cao, ông ở trên trời,

Mà ông soi khắp nước người nước ta.

Năm châu cũng một ông mà, Kể riêng thì lại mỗi nhà mỗi ông.

(Hỏi ông trăng – Trần Tế Xương)

Tôi thấy người ta có bảo rằng:

Bảo rằng thằng Cuội ở cung trăng! Chứa ai chả chứa, chứa thằng Cuội, Tôi gớm gan cho cái chị Hằng.

(Chị Hằng, thằng Cuội – Trần Tế Xương)

Có thể thấy rằng so với Tú Xương, Tản Đà đã dành một sự trọng vọng lớn lao hơn cho chị Hằng, và xét kỹ ta thấy rằng trong cái mộng thoát ly của Tản Đà thì ông mộng cũng vì nỗi chán đời. Trong cảnh đêm thu Tản Đà cảm thấy buồn chán lắm, có một cái trần gian thì ông Hiếu chán những một nửa và ông tưởng tượng ra nơi cung Quế, mong ước được lên đó sống, ngông cuồng mà thi vị làm sao: Khóa luận: Mộng trong thơ văn Tản Đà nhìn từ phương diện.

Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi! Trần giới em nay chán nửa rồi. Cung Quế đã ai ngồi đó chửa? Cành đa xin chị nhắc lên chơi. Có bầu, có bạn, can chi tủi, Cùng gió, cùng mây, thế mới vui. Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám.

Tựa nhau trông xuống thế gian, cười.

(Muốn làm thằng Cuội)

Thơ Tản Đà buồn nhiều, song cũng có đôi lần ông cười trong thơ như lần ông “Cười trận gió đông hăng hái thổi” (Vịnh cánh hoa đào) hay “Gặp nhau khi cũng bật cười” (Sẩm nhà trò) và “Trời say, mặt cũng đỏ gay, ai cười?” (Lại say). Nhưng lần này cũng là lần duy nhất ông lại kết thúc bài thơ bằng một chữ “cười” được tách ra riêng biệt: “Tựa nhau trông xuống thế gian, cười.”, có lẽ Tản Đà vui thật sự, vui với cái mộng được làm thằng Cuội để mà có khi được làm bạn với chị Hằng, với gió mây. Mỗi năm Tết Trung thu trăng tỏ, cùng nhau nhìn ngắm trần gian mà suy ngẫm về sự đời. Vậy nên khi giấc mộng tan đi, nụ cười cũng biến mất theo, Tản Đà lại “Tiếc của đời”, tiếc cái tài cứ mãi lênh đênh trong cuộc đời, một lần nữa, ông kêu tên chị Hằng và chú Cuội một cách tha thiết:

Nhác thấy không đành mất Cho nên tiếc của đời

Chị Hằng ơi chú Cuội Con cú nọ cành mai

(Tiếc của đời)

Mộng muốn làm anh Cuội không thành, trong buổi ngắm trăng ở hồ Tây, Tản Đà ngậm ngùi nhờ ai đó có lên nơi ở của chị Hằng thì hỏi dùm ông, rằng trên trần gian này có ai là tri kỷ của ông không. Một nỗi cô đơn, một nỗi lạc lõng, một nỗi buồn, sự bất lực và mong muốn thoát ly đậm đặc trong bài thơ Tây hồ vọng nguyệt, Tản Đà chú: “Trong toàn bài này không có dùng chữ nào trùng nhau và chữ trăng không dám dùng đến, là một cách trang trọng để đãi khách Hằng Nga”:

Những ngán cành đa khôn quấn quít Mà hay mặt sóng cũng chơi vơi.

Ai lên cung Quế nhờ thăm hỏi Soi khắp trần gian có thấy ai?

(Tây hồ vọng nguyệt) Khóa luận: Mộng trong thơ văn Tản Đà nhìn từ phương diện.

Không chỉ “chán nửa rồi” như trong bài Muốn làm thằng Cuội, lần này Tản Đà chán hết cái trần gian, chán sạch. Ông lại một lần nữa mong muốn được lên cung Nguyệt ở trọ, và lần này “sứ giả” của Tản Đà là chim hạc. Chim hạc, loài chim thường được biết đến với vẻ đẹp thoát tục, sự trường thọ và “việc chim bay được đương nhiên khiến những con vật này dễ được dùng làm biểu trưng cho các mối liên lạc giữa trời và đất.” [2; tr. 172], loài chim này cũng không ít lần xuất hiện trong thơ ca. Nếu Bạch Cư Dị có bài Cảm hạc, Nguyễn Trãi với bài Chim hạc già thì Tản Đà có bài Trông hạc bay với sự thoát ly đầy mộng ước:

Trông khắp trần gian hết thú chơi

Thèm trông con hạc nó lên giời Hạc kia bay bổng tuyệt vời

Hỏi thăm cung Nguyệt cho người trọ không?

(Trông hạc bay)

2.2.3 Mộng được lên trời, gặp tiên

Như vậy, Tản Đà quả hay mơ đến chốn tiên, phải chăng khi thoát ly hẳn cuộc sống trần gian, tìm đến nơi cõi trời, ông hi vọng sẽ có người trọng tài và hiểu được những hoài bão lớn lao của mình. Thế nhưng ông Tản Đà vốn ngông, Trời thì chưa lên nhưng thư ông viết đã gây nên một phen náo loạn chốn thiên đình rồi:

Tình riêng trăm ngẩn mười ngơ

Ngồi buồn lấy giấy viết thơ hỏi Trời.

Xem thơ, Trời cũng bật cười Cười cho hạ giới có người oái oăm.

(Trời mắng) Khóa luận: Mộng trong thơ văn Tản Đà nhìn từ phương diện.

Hầu Trời, một bài thơ có thể gọi là tiêu biểu nhất cho giấc mộng lên tiên của Tản Đà, một chuyến đi được miêu tả chi tiết và vô cùng sống động, thể hiện ước vọng của một khách đa tình mong muốn được trọng vọng, được người đời hiểu được cái nhiệm vụ cao cả của bản thân. Thế nhưng Tản Đà vẫn một mực khẳng định đó không phải là “mơ mòng”, chuyện ông được lên tiên là chuyện hoàn toàn có thật:

Đêm qua chẳng biết có hay không, Chẳng phải hoảng hốt, không mơ mòng. Thật hồn! Thật phách! Thật thân thể!

Thật được lên tiên – sướng lạ lùng.

Khổ đầu tiên là sự “sướng lạ lùng” thì khổ cuối cùng là “giọt sương rơi”, sự đối lập ấy đã cho thấy mong ước thoát ly của Tản Đà:

Hai hàng luỵ biệt giọt sương rơi Trong xuống trần gian vạn dặm khơi Thiên tiên ở lại, trích tiên xuống Theo đường không khí về trần ai.

(Hầu Trời)

Giấc mộng lên hầu ông Trời kết thúc gọn ghẽ trong một đêm, chỉ một đêm thôi mà khiến Tản Đà tiếc nuối vô hạn, tâm trạng đó khiến cho hồn ông tiếp tục mộng, lần này, ông mộng lên cõi tiên. Lưu Nguyễn vào Thiên thai là một bài thơ làm theo điệu từ khúc, mượn ý của một tích xưa trong văn học Trung Quốc với phần lớn dung lượng bài thơ miêu tả cuộc gặp gỡ, kết duyên và chia ly giữa hai nàng tiên nữ và Lưu Thần, Nguyễn Triệu. Một bức tranh tiên cảnh xa hoa nhưng cũng có phần quạnh quẽ khi thiếu vắng hơi người:

Nhà lan huệ, áo lụa là

Giường màn sẵn đó, ngọc ngà thiếu chi! Khắp sau trước nhìn đi ngoảnh lại Ngoài hai cô con gái còn ai?

Toàn không một kẻ con trai Bạn trai chỉ có hai người là ta

(Lưu Nguyễn vào Thiên thai)

Thế nhưng, như một quy luận, “Ngày vui ngắn chẳng tày gang” (Truyện Kiều – Nguyễn Du), hai con người trần thế sớm đã chán cảnh thần tiên sực nức hương thơm và tiên nữ, sớm nhung nhớ cảnh cũ người xưa. Cuộc trở về tưởng chừng sẽ ngập tràn niềm vui, ấy vậy mà họ lại trở thành những người lạc lõng giữa cuộc đời thực, trơ trọi giữa cái thế gian mà họ nghĩ là quê hương của mình. Phải chăng, Tản Đà đã dồn bút lực của một giấc mộng lên tiên không thành của mình vào hai dòng thơ cuối với một nỗi “bơ vơ chán nản cõi đời”: Khóa luận: Mộng trong thơ văn Tản Đà nhìn từ phương diện.

Xa chẳng mấy, đến bên đường cái, Về đến làng không một ai quen.

Bẩy đời con cháu lớn lên

Chỉ nghe cụ hái thuốc tiên không về. Buồn lúc ấy không quê không quán, Nỗi bơ vơ chán nản cõi đời.

Thiên Thai trở lại tìm ai,

Thôi thời cửa động đã cài then hoa.

(Lưu Nguyễn vào Thiên Thai)

Lá đào rơi rắc lối Thiên Thai

Suối tiễn oanh đưa luống ngậm ngùi Nửa năm tiên cảnh

Một phút trần ai

Uớc cũ duyên thừa có thế thôi

Đá mòn, rêu nhạt. Nước chảy, huê trôi

Cái hạc bay lên vút tận trời! Trời đất từ nay xa cách mãi Cửa động

Đầu non

Đừơng lối cũ

Nghìn năm thơ thẩn bóng trăng chơi ….

(Tống biệt)

Trở lại với thực tế, năm 1942, Quách Tấn có dịp ghé thăm gia đình Tản Đà và có thu nhặt được ít di cảo của ông, trong đó có một câu lục bát được Tản Đà viết ở bìa một quyển sách cũ:

Cõi trần chẳng có Thiên Thai, Bỗng dưng trong lúc canh dài gặp tiên.

Quách Tấn kể lại rằng, theo lời của Trần Văn Lai, một người đệ tử của Tản Đà thì câu thơ trên làm ở Khê Thượng vào khoảng năm 1937. Số là ông Tản Đà nằm mộng thấy được gặp tiên nữ ở chốn bồng lai, nhưng chợt thấy gió nổi lên làm tỉnh mộng, ngồi dậy làm thơ chép mộng. Nhưng vừa viết được hai câu trên thì người nhà dậy làm ồn quá nên “tiên sinh bại hứng. Thành ra mộng dở dang mà thơ cũng dở dang” [7; tr. 141]. Khóa luận: Mộng trong thơ văn Tản Đà nhìn từ phương diện.

Như vậy, ta có thể hoàn toàn đồng ý với nhận định của Văn Tâm, rằng: “trí tưởng tượng về hạnh phúc cõi Bồng Lai của Tản Đà đã vượt xa tất cả những giấc mộng Bồng Lai của các nhà văn cổ kim khác. Sau này, hồi tưởng lại giấc mơ độc nhất vô nhị đó, Tản Đà đã cho rằng bình sinh chưa khi nào được khoái cảm như vậy.” [22; tr. 345]. Cũng chính lẽ đó mà chúng ta khá dễ hiểu khi Trương Tửu cũng có lần kể rằng, bài thơ Tản Đà yêu thích nhất chính là bài thơ Tây Thi hát trong buổi tiệc rượu của hai mỹ nhân thiên cổ và một “trích tiên” trong Giấc mộng con II:

Non xanh xanh.

Nước xanh xanh,

Nước non như vẽ bức tranh tình

Non nước tan tành, Giọt lụy tràn năm canh! Đêm năm canh,

Lụy năm canh,

Nỗi niềm non nước, Đố ai quên cho đành? Quên sao đành?

Nhớ sao đành?

Trần hoàn xa cách.

Bồng lai non nước xanh xanh!

Bài thơ yêu thích nhất của Tản Đà lại là bài hát của nàng Tây Thi vắn số trong Giấc mộng con II, đó cũng chính là một biểu hiện cho thấy Tản Đà trân quý những giấc mộng của mình như thế nào. Khi gặp Tây Thi và Dương Qúy Phi, ông Nguyễn Khắc Hiếu ở hạ giới mới lên “thấy trong bụng nó lạ quá! Tỉnh không ra tỉnh, mộng không ra mộng”. Cái trạng thái nửa vời của Tản Đà khiến mộng và thực trong thơ văn ông như trộn lẫn vào nhau. Trên thiên giới, Nguyễn Khắc Hiếu “trong giấc ngủ, mơ thấy rằng”: tất cả những sự việc diễn biến trong cuộc đời thật của Tản Đà, từ việc An Nam tạp chí bị đình bản cho đến những cuộc vào Nam ra Bắc và cả cuộc sống chật vật. “Khi đó hoảng nhiên biết là mộng”, như vậy những điều ông Nguyễn Khắc Hiếu trải qua trong giấc mộng lại chính là cuộc đời thực của ông Tản Đà. Oái oăm thay, những sự diễn ra trong giấc mộng kép ấy lại khiến Tản Đà hốt hoảng, có thể nói ông xem đó là một cơn ác mộng, một cuộc đời như cơn ác mộng.

Đời chẳng có chi vui, chỉ là một cơn ác mộng kéo dài khiến người ta muốn tỉnh dậy, Tản Đà thường ngán đời lắm, chỉ muốn mộng mà thôi. Có thể nói giấc mộng chính là một lối thoát cho tâm hồn đầy mơ mộng và bế tắc của Tản Đà. Nhiều lúc chợt tỉnh giấc, trở về với thực tại, ông lại thấy chán ngán, lại tiếc nuối với những giấc mộng ông xây bằng trí tưởng tượng bay bổng của mình, vì thế ông lại ao ước được trở lại cõi mộng. Tản Đà hối tiếc và luôn xem những cảnh tiên ấy là một sự thật không thể chối cãi. Bài thơ Nhớ mộng ra đời cũng vì cái cảm quan ấy, bài thơ với 8 dòng thơ nhưng chứa đến 6 chữ “mộng”, có thể nói đây là bài thơ có nhiều chữ “mộng” nhất trong toàn bộ thi phẩm của Tản Đà:

Giấc mộng mười năm đã tỉnh rồi Tỉnh rồi lại muốn mộng mà chơi. Nghĩ đời lắm nỗi không bằng mộng Tiếc mộng bao nhiêu lại ngán đời Những lúc canh gà ba cốc rượu Vài khi cánh điệp bốn phương trời?

Tìm đâu cho thấy người trong mộng Mộng cũ mê đường biết hỏi ai?

(Nhớ mộng)

2.2.4 Tản Đà và giấc mộng viễn du Khóa luận: Mộng trong thơ văn Tản Đà nhìn từ phương diện.

Có thể nói rằng bất cứ sự gì xảy ra trong cuộc đời đều sẽ tạo cho Tản Đà những cuộc “xê dịch” đến miền đất khác. Chủ nghĩa xê dịch được định hình rõ nét từ Nguyễn Tuân, nhưng thiết nghĩ dùng từ này để nói về Tản Đà cũng khá hợp lý.

Trong lời đề tựa quyển Giấc mộng con của Hán Thu Nguyễn Tiến Lãng, nhà xuất bản Hương Sơn năm 1941 có đoạn viết: “Giấc mộng con là một cuộc thử thoát ly của một nhà thiếu niên nho sĩ, mơ được những sự viễn du, mà chỉ được du lịch bằng trí tưởng tượng sau khi đọc những sách tân thư của người Tàu xuất bản”. Năm 1932, quyển Tản đà văn tập của Tản Đà xuất hiện trên văn đàn, trong “Bài chép mộng”, Tản Đà có chép rằng: “Tự nhiên đi tới một chỗ tỉnh, không biết là tỉnh nào, thành thị phố xá cũng phảng phất như Nam Định”, đấy có phải là Nam Định hay không, chỉ mình ông Khắc Hiếu biết, còn những người yêu văn thơ ông thì chỉ biết Tản Đà đang kể về một chuyến đi tới mảnh đất khác với mảnh đất mà ông đang sống. Trong giấc mộng ấy, ông Tản Đà lặp đi lặp lại câu: “Thú thật là thú! Hay thật là hay!” những mười lần liên tục cuối mỗi đoạn văn, ấy là cái mãn nguyện, thích chí của ông trong giấc mộng.

Thế nhưng, nói về sự xê dịch trong văn thơ Tản Đà là có cơ sở, ngay trong cuộc đời thực của mình, Tản Đà cũng chẳng chịu ở yên. Chúng tôi tạm liệt kê những nơi mà ông đã đi qua trong 3 cột mốc quan trọng của cuộc đời ông: “Từ 5 tuổi đến khi lấy vợ: Nam Định – Hà Nội – Sơn Tây – Nam Định – Hà Nội –Vĩnh Yên – Hà Đông – Hà Nam – Sơn Tây – Nam Định – Vĩnh Yên – Sơn Tây – Vĩnh Yên. Từ 27 tuổi đến lúc mở An nam tạp chí: Vĩnh Yên – Hà Nội –Hải Phòng – Trung Kỳ – Hà Nội – Sơn Tây – Hà Nội. Từ 36 tuổi đến lúc mất: Hà Nội – Huế – Sài Gòn – Hà Nội – Sài Gòn – Hà Nội – Vĩnh Yên – Hải Phòng –Hà Nội – Nam Định – Hà Nội – Vinh – Hà Nội.” [10; tr. 111]. Như vậy, trong các tỉnh thành trong cả nước, ông Nguyễn Khắc Hiếu của chúng ta đã đặt chân đến xấp xỉ mười ba tỉnh thành, quả là một cuộc đời đầy tính xê dịch, và rõ ràng “Những cuộc xê dịch và những truân chuyên trong đời sống theo nhau vào sáng tác của Tản Đà” [10; tr. 111]. Tác phẩm minh chứng cho nhận định trên của Vũ Hào Hiệp là Giấc mộng lớn. Bên cạnh đó, Thi Vũ trong bài viết Tản Đà, người thi sĩ của sự lên đường có viết rằng: “Riike đi về mái nhà phương Đông thì khi Tản Đà bỏ nhà lên đường. Lên đường để dẫn dắt những khách lạc đường trở về. Suốt cả thi nghiệp và thi sử của Tản Đà đều biểu lộ qua ý chí nung nấu “tìm lại cái tâm đã mất” trong Giấc mộng lớn” [7; tr. 393]. Song, cũng có nhưng chuyến đi Tản Đà được người khác tặng cho, chứ ông không chủ đích mà đi, như chuyện ông chủ nhà in Đắc Lập ở Huế là Bùi Huy Tín vì mến cái tài của Tản Đà mà mời ông vào Huế chơi. Tản Đà sau chuyến đi có viết bài thơ kể lại và cảm ơn tấm lòng biết trọng tài của ông Tín: Khóa luận: Mộng trong thơ văn Tản Đà nhìn từ phương diện.

Chơi xuân kể lại hành trình

Ngày ba mươi tết hứng tình ra đi.

Từ Bất Bạt, qua Việt Trì

Còn năm kỷ vị, còn thì tiết đông.

Canh Thân ăn tết Thăng Long,

Sang ngày mồng bốn vào trong Trung kỳ.

Chơi xuân ta nghĩ cũng kỳ, Dịp đâu may mắn cũng vì có ai, Cám ơn hai chữ “yêu tài”,

Con đường thiên lý còn dài tấc son Còn trời, còn nước, còn non

Tiền trình vạn lý, anh còn chơi xa.

Chơi cho biết mặt sơn hà,

Cho sơn hà biết ai là mặt chơi.

(Chơi Huế)

Không dừng lại ở đất nước mình, Tản Đà còn có cái thú xê dịch rộng hơn trong Giấc mộng con, có điều đây là sự ngao du trong mộng tưởng. Nguyễn Khắc Hiếu “Ở Sài Gòn được ít lâu, rồi theo ông Vinailles sang Đại Pháp” (cụ thể là vùng Saint Etienne, Pháp); đến Washington rồi đến Canada, Alaska (Mỹ). Về cõi đời cũ, đi đến nước Anh, sang Nauy, Thụy Điển, Nga, Vladivostok, Nhật Bản, Đại bản, Hoành tân rồi quay về Thượng Hải. Sau đó, Hiếu “Qua Tứ Xuyên, sang Tây Tạng, quay đến Ấn Độ, xem núi Himalaya” rồi “Úc châu đã trải qua, lại quay về Phi châu (Afrique), chơi Ai Cập (Egypte); ở thành Caire” và quay trở về quê hương với “Núi Tản đương xanh, sông Đà chưa cạn, giang sơn phong cảnh, nhìn kỹ còn như xưa.”. Nói về việc Tản Đà ham thích những chuyến đi đến nỗi mộng mãi, Lê Thanh trong Mộng và mộng có viết: “Chính trong những khi ông ngao du như vậy, ông mới có thế thấy những cảnh bao la bát ngát mà trí tưởng tượng của ông vẫn khao khát, nào núi tuyết, rừng băng, nào sông Ngân, bể Nam Minh. Lại trong mộng, ông mới có thể gặp được những người trong ý tưởng” [7; tr. 238].

Như vậy, giấc mộng thoát ly trong thơ văn Tản Đà có thể nói là nội dung chứa nhiều biểu hiện nhất, với quan điểm nhân sinh như mộng, mộng lên cung Quế, mộng lên trời gặp tiên, nỗi chán đời, mộng viễn du. Tất cả đã tạo nên một cõi mộng rất riêng của nhà thơ núi Tản sông Đà và là dấu hiệu của một tâm hồn lãng mạn thoát ly.

2.3 Tản Đà và giấc mộng yêu đương Khóa luận: Mộng trong thơ văn Tản Đà nhìn từ phương diện.

2.3.1 Tản Đà, từ con người đa tình đến giấc mộng yêu đương

Theo lời của con trai trưởng Tản Đà thì ông “có nòi tình, thuộc tình chủng” [30; tr. 377]. Ông án sát Kế có nhiều vợ lại thường qua lại ở chốn son phấn cho thỏa cái tình, bà Nghiêm là một đào hát nổi danh tài sắc. Một người phụ nữ có thể viết lên những dòng thơ “tình tứ, ỡm ờ” ắt hẳn cũng rất đa tình và cũng có tài:

Chữ tình là cái chi chi thế

Cũng có khi mà cũng có khi [30; tr. 377]

Như vậy, hai mảnh tài tình ấy đã mến nhau mà ghép lại với nhau, tạo thành một “cuộc hôn nhân tài tình” (chữ dùng của Nguyễn Khắc Xương). Cậu ấm Hiếu ra đời, cũng là lúc chế độ khoa cử tới hồi tàn lụi, nền Hán học sụp đổ cùng với sự thao túng của thế lực đồng tiền. Tất cả đã đẩy những thứ gọi là tình yêu vào vòng xoáy danh vọng. Không có tiền đút lót, chàng trai Nguyễn Khắc Hiếu thi trượt hết lần này đến lần khác, từ kỳ thi Hương ở Nam Định đến thi vào trường Hậu bổ, không tiền không công danh, những mối tình lần lượt rời xa cậu ấm Hiếu. Thế nhưng, Tản Đà vẫn yêu và luôn tự cho mình phải gánh cả một gánh tình trên vai:

Vì ai cho tớ phải lênh đênh

Nặng lắm ai ơi, một gánh tình

(Chơi Hòa Bình)

Tản Đà đa tình, đó là điều ông chưa bao giờ phủ nhận. Như Văn Tâm có viết: “Một trái tim rất mực đa tình, mê đắm các tiên nữ trên trời và dưới trần, các giai nhân đang sống và đã khuất từ nghìn năm trước” [7; tr. 468] và ông có cả những người tình nhân không hề quen biết: Khóa luận: Mộng trong thơ văn Tản Đà nhìn từ phương diện.

Ai những nhớ ai, ai chẳng nhớ Để ai những luống nhớ ai hoài

(Thư lại trách người tình nhân không quen biết)

Trong buổi nói chuyện, tâm tình với ảnh của mình, Tản Đà cũng tự nhận mình là “cái giống đa tình”. Ông là một nhà nho tài tử, đối lập với các mẫu nhà nho khác trong xã hội phong kiến, mà đã là người tài tử thì thường đa tình. Nhưng “nho giáo không tán thành đa tình vì tình theo thánh hiền thường gắn liền với dục – không phải là tình dục theo nghĩa ta hiểu ngày nay, mà là sự ham muốn, say mê” [7; tr. 532]. Tản Đà mặc kệ, ông nhiều lần khẳng định mình là một người mang “cái bệnh đa tình”:

Người đâu? Cũng giống đa tình,

Ngỡ là ai, lại là mình với ta.

(Nói chuyện với ảnh)

Cái giống yêu hoa lạ lạ đời

Mắt xanh chưa lọt đã mê tơi Chim giời cá nước duyên ai đó? Vía dại hồn khôn chết dễ chơi!

(Cái giống yêu hoa)

Qua những bức thư viết cho những người tình không tên, nổi bật là loạt bài thơ: Thư đưa người tình nhân có quen biết, Thư đưa người tình nhân không quen biết, Thư trách người tình nhân không quen biết, Thư lại trách người tình nhân không quen biết, ta có thể thấy rằng, Tản Đà buồn tình nhưng chưa bao giờ có thể thoát khỏi lưới tình, nó như một cái nợ mà khách đa tình phải nặng mang:

Tình tình sắc sắc

Muốn buông ra mà lắc rắc mãi vẫn chưa ra.

Lại vương thêm tơ tóc mối trần ai Nợ nhân thế khéo dằng dai là thế thế

(Tình sắc)

2.3.2 Những mối tình trong cuộc đời thực Khóa luận: Mộng trong thơ văn Tản Đà nhìn từ phương diện.

Năm 1907, Nguyễn Khắc Hiếu theo học tại trường Quy thức, tỉnh Sơn Tây, lúc này đã xảy đến một mối tình đầu vô cũng sâu đậm với cô gái họ Đỗ, cậu ấm Hiếu đã kể lại trong Giấc mộng lớn như sau: “Ở Hàng Bồ, số nhà hơn hai mươi về dãy bên lẻ, có một người con gái ngồi bán tạp hóa, không biết có phải là tuyệt sắc hay không mà tự con mắt mình khi bấy giờ thời như ngoài người ấy không có ai là con gái.” Đó là mối tình đầu sâu đậm của Tản Đà.

Nhưng ngoài cô gái Hàng Bồ mà người ta thường nhắc tới ra, theo Nguyễn Khắc Xương, còn có ít nhất ba mối tình thực nữa mà Tản Đà đã ghi lại trong thơ. Đó là mối tình với cô con gái út ông tri phủ Vĩnh Tường (Vĩnh Phú ngày nay), cô nữ sinh mười ba tuổi ở Nam Định; cả ba mối tình này diễn ra hầu như trong cũng một thời gian. Tản Đà còn yêu cô đào Liên, người sắm vai Tây Thi trong vở kịch Cô Tô tàn phá do ông soạn giả kiêm đạo diễn. Trong đó, mối tình với cô gái họ Đỗ là “tình tuyệt vọng”, một loại tình yêu rất phổ biến trong văn học lãng mạn tư sản. Mối tình với người đẹp phủ Vĩnh là loại tình “yêu để mà yêu” đặc biệt lãng mạn. Mối tình với cô nữ sinh ở Nam Định là “tình ngây thơ” rất dân dã, họ yêu nhau qua những câu đối đáp theo lối hát giao duyên trong dân gian. Còn tình yêu với cô đào Liên là một dạng “tình nghệ sĩ”. Có thể nói, Tản Đà viết về những tình yêu của mình chẳng phải cho ai, mà là cho chính bản thân, để ghi nhớ lại những bóng hồng đã khắc vào tim mình những kỷ niệm khó quên.

Cô gái Hàng Bồ được viết trong Giấc mộng lớn, cô út Vinh trong Bài ký chép ao con trong nhà giáo phủ Vĩnh và cô gái 13 tuổi ở Nam Định ta thấy trong Kỷ niệm hái hoa đào. Cả ba mối tình đều khắc cốt ghi tâm đối với cậu ấm Hiếu và đều không có kết quả. Về cô út Vinh, năm 1908 ông Tích về làm giáo thụ ở phủ Vĩnh Tường thuộc tỉnh Vĩnh Yên, lúc này Tản Đà có mối tình với cô út tri phủ Vĩnh Tường. Thế nên trong Tản Đà văn tập, tập nhất có đoạn viết: “Thế thời ra mỗi bên người một phương, ai đem đến chốn này mà chúm dụm lại láng giềng nhau xó ao đó. Làm cho ao: độ mưa độ nắng, khi đầy khi vơi, dù thế nào mặc lòng mà dưới ao vẫn thường đối bóng người, trên ao vẫn thường vấp tiếng vang”. Còn về cô gái mười ba tuổi ở tỉnh Nam Định, Tản Đà có bài thơ:

Nhớ ai đất khách quê người, Nhớ ai góc bể bên trời bơ vơ

Năm năm tháng tháng đợi chờ

Sông sâu nước đục bao giờ cho trong?

(Nhớ ai) Khóa luận: Mộng trong thơ văn Tản Đà nhìn từ phương diện.

Xuân Diệu chú: “Tả một mối tình khác của Tản Đà ở thành phố Nam Định, nhớ người yêu ở xa cách mà cũng gặp cảnh ngộ không mấy tốt đẹp” [3; tr. 71]. Cô gái này đã từng xuất hiện trong “Kỷ niệm hái hoa đào” (trích từ Khối tình, bản phụ). Chính Tản Đà kể lại rằng, ông theo anh Tái Tích đến ở Vĩnh Tường từ năm 20 đến 24 tuổi, nhưng mùa đông năm ông 24 tuổi thì về tỉnh Nam Định. Trong khoảng thời gian này có mối quan hệ tình cảm khá sâu sắc với cô em mới mười ba tuổi, là em của người quen Nguyễn Tái Tích. Cái “Kỷ niệm hái hoa đào” mà Văn Tâm gọi đó là “thưở hoa niên” là một khoảng trời yêu đương thưở thiếu thời sâu đậm của Nguyễn Khắc Hiếu: “Tết Nguyên đán năm Duy Tân thứ bảy, tôi ăn tết chơi ở tỉnh khác, giữ nhà cho một người bà con làm việc ở tỉnh ấy sắp về ăn tết nhà. Trưa hôm ba mươi tết, nhà lan thanh vắng, xẩy một người bạn cũng ngụ cư ở láng giềng đấy đến chơi, 13 tuổi, tóc dở lòa xòa buông quá vai. Nhân tắm gội xong, thay quần áo sạch, cùng ra vườn sau hái hoa đào. Một người trèo lên cây hái hoa, đưa một người đứng dưới cầm. Người nọ lên, người kia lại xuống. Khách địa tha hương, giai nhân tài tử, đầu xanh mây biếc, người trắng huê hồng, giời Nam ai vẽ bức Thiên Thai mà mỗi bên bớt đi một? Lúc người bạn tôi lên cây hái hoa mà tôi đứng dưới gốc để giữ hoa, nhìn theo ra đầu cành, thời năm ngón tay trắng muốt vin sát cành hoa đào, vừa đẹp, vừa kháu, vừa xinh, vừa hay”. “Tiếc cho đời người sáu bảy mươi năm, mỗi năm ba mươi sáu mươi ngày, mà chỉ một năm ấy, một ngày ấy, được thú chơi như thế ấy! Có khi nhớ cảnh giang hồ, vườn hồng thăm hỏi, thời hoa đào năm nọ còn cười, cành xuân đã bẻ cho người đâu xa.

Mối tình của cô gái nhỏ tuổi cũng sớm kết thúc, Tản Đà quay trở lại phố Hàng Bồ thì người yêu đầu tiên cũng đi lấy chồng. Trong Giấc mộng lớn, Tản Đà kể rằng: Mối tình đầu với cô gái ở Hàng Bồ mà mà ông mong nên duyên chồng vợ, ngặt nỗi “nhà ta nghèo như thế, lấy đâu được song mã mà cưới!

(lời của Nguyễn Tái Tích). Khắc Hiếu khi ấy buồn mà cảm ra hai câu thơ:

Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi,

Trần giới em nay chán nữa rồi!

Hai câu thơ in ở đầu Khối tình con thứ nhất là mãi đến sau khi sau mới làm ra, mà cái cảm tưởng thực phát từ đấy”. Tản Đà điên loạn và chán đời đến mức “tịch cốc” trong sáu tháng, “từ đấy về sau khác hẳn từ đấy về trước. Bụng không biết no, không biết đói, người không biết vui, không biết buồn, chỉ cứ mỗi ngày một bữa rượu” (Giấc mộng lớn).

Về mối tình với cô gái phủ Vĩnh, Tản Đà có làm thành bài thơ Thương ai để than tiếc cho một người con gái tài sắc: “đàn hay chữ tốt, thường cưỡi ngựa bắn cung, mặc yếm nhiễu đào, cài bông hoa trắng” (Tản Đà văn tập) lại phải làm lẽ một viên quan vô cùng xấu xí. Phẫn uất, cô sinh cho chồng một người con rồi bỏ về nhà cha mẹ đẻ ở vậy đến trọn đời. Vậy là kết thúc một kiếp hồng nhan: Khóa luận: Mộng trong thơ văn Tản Đà nhìn từ phương diện.

Thương ai điêu đứng phong trần

Thương ai án tuyết song hoành luống công!

Công lênh vụng bước tao phùng Trời xanh đã chán, má hồng khôn yên.

Thương ai tủi liễn oan đào Thương ai đi đứng ra vào hổ ngươi

Trăm năm thẹn nói dơ cười

Hồng nhan mang lấy của trời mà chi

(Thương ai)

Những tình yêu đầu đời đều tan vỡ, Tản Đà mới đôi mươi đã chìm đắm trong những cơn tương tư triền miên:

Sương mù mặt đất, người theo mộng Nhạn lảng chân trời kẻ đợi thư Nghìn dặm dám quên tình lúc ấy Trăm năm còn nhớ chuyện ngày xưa.

(Ngày xuân tương tư)

Thơ đề ba bức mực chưa phai Nay lại tương tư, lại nhớ ai? Cái giống đa tình ta có một Mà người tri kỷ đấy không hai.

Đêm xuân những não tơ tằm rối Ngày hạ thêm thương tiếng cuốc dài.

(Lại tương tư)

Quái lạ làm sao cứ nhớ nhau

Nhớ nhau dằng dặc suốt đêm thâu. Bốn phương mây nước, người đôi ngả Hai chữ tương tư, một gánh sầu.

(Tương tư)

2.3.3 Ước ao được gặp tri kỷ Khóa luận: Mộng trong thơ văn Tản Đà nhìn từ phương diện.

Cũng chính vì cái bản tính đa tình, đa sầu, đa cảm, ôm ấp mộng gầy nên nghiệp lớn, nhưng Tản Đà lại không tìm được tri kỷ ở cuộc đời thực. Thế nên, trong thơ ông không ít bài nói về sự khao khát tri kỷ, ước ao gặp được tri kỷ:

Cành đa xin chị nhắc lên chơi. Có bầu, có bạn, can chi tủi, Cùng gió, cùng mây, thế mới vui.

(Muốn làm thằng Cuội)

Mảnh tình xẻ nửa ngây vì nước Tri kỷ trông lên đứng tận trời

(Tây hồ vọng nguyệt)

Nước non vắng khách hữu tình

Non xanh nước biếc cho mình nhớ ai?

(Vô đề)

Tìm đâu cho thấy người trong mộng Mộng cũ mê đường biết hỏi ai?

(Nhớ mộng)

Non nước bấy lâu lòng tưởng nhớ Mà ai tri kỷ vắng tăm hơi

(Thư trách người tình nhân không quen biết)

Tri kỷ xưa nay dễ mấy người Trần ai nào đã ai với ai?

(Trần ai tri kỷ) Khóa luận: Mộng trong thơ văn Tản Đà nhìn từ phương diện.

Có thể nói đó là một tâm trạng cô đơn, lạc loài vì “cái thân luân lạc ở hạ giới bao năm nay mà bao nhiêu tri kỷ ở cả chốn thiên đình” (Giấc mộng con II). Và một nét đặc biệt của Tản Đà là người tri kỷ mà ông tìm kiếm lại là những giai nhân, rằng “Tản Đà muốn giải sầu, muốn lấp chỗ trống của tâm hồn bằng tình cảm của người tri kỷ, nhưng người tri kỷ hợp với Tản Đà lại là đàn bà.” [7; tr. 549], từ sự thiếu tri kỷ đã hình thành nên những giấc mộng yêu đương của Tản Đà. Cũng trong Giấc mộng con II, nơi mà anh thư ký Nguyễn Khắc Hiếu không chỉ có một mình “hồng nhan tri kỷ” Chu Kiều Oanh mà còn có Dương Qúy Phi, Tây Thi, Chiêu Quân và nhiều mỹ nhân khác nay đã là những tiên nữ: “Nơi đó gọi là Bồng Lai, các tiên thanh nhàn, phần nhiều đều ở đây cả. Ra tới nơi, chỉ thấy non xanh nước biếc, cỏ lục hoa hồng; sau hỏi ram không có một vị tiên nào là tiên ông, chỉ toàn là những mỹ nhân ở hạ giới lên, mà quái lạ! Toàn là những mỹ nhân trong khi quốc phá quân vong cả. Hoặc cũng có người không phải là đương cái cảnh ngộ ấy, thì cũng tình cảnh ai oán như Chiêu Quân. Còn nhiều người vô danh, thời đại khái như Tần cung phụ nữ vậy”.

Nguyễn Khắc Hiếu uống rượu, theo “mệnh lệnh của mỹ nhân” mà làm thơ, nghe “Chiêu quân đánh tỳ bà”. Như vậy, cái thích chí nhất của con người này khi lên tiên là tìm được giai nhân, những mỹ nhân mang tiếng làm “quốc phá quân vong” ấy vậy mà trên tiên giới chỉ toàn là tiên nữ. Và việc anh thư ký Nguyễn Khắc Hiếu lên Trời và được dự tiệc rượu “hơn trăm người mà chỉ có một mình mình không phải là mỹ nhân”, cả việc có khoảng thời gian dạo chơi riêng với Tây Thi là một điều đáng lưu tâm, Giấc mộng con II có đoạn viết: “có khi kết đôi bên trăng, cùng vui chơi phong nguyệt. Ai về không rướch (rứt)!”.

Về Chiêu Quân, trong Giấc mộng lớn cũng có nhắc đến, chuyện Tản Đà tế Chiêu Quân, theo lời của chính ông thì: “Bài này khi tôi ở chơi chùa Non Tiên, làm bằng chữ nho để tế nàng Chiêu Quân giữa đêm hôm 13 tháng 3 năm Duy Tân thứ 7. Sau về đến Nam Định, quan huyện Nẻ (Nễ Xuyên Nguyễn Thiện Kế) mới dịch ra nôm cho.”, khi ấy Tản Đà mới 23 tuổi:

Cô ơi cô đẹp nhất đời,

Mà cô mệnh bạc, thợ trời cũng thua

Một đi, từ biệt cung vua

Có về đâu nữa, đất Hồ nghìn năm!

Mả xanh còn dấu còn căm,

Suối vàng lạnh lẽo cô nằm với ai?

[…]

Hồn cô ví có ở đây,

Đem nhau đi với, lên mây cũng đành. Khóa luận: Mộng trong thơ văn Tản Đà nhìn từ phương diện.

Tản Đà trong lúc cao hứng còn có ý muốn hỏi cưới Hằng Nga – một mỹ nhân mà ông luôn cho là bạn tâm giao của mình:

Tình riêng trăm ngẩn mười ngơ

Ngồi buồn lấy giấy viết thơ hỏi Trời.

Xem thơ, Trời cũng bật cười Cười cho hạ giới có người oái oăm.

Khách hà nhân giả?

Cớ làm sao suồng sã dám đưa thơ?

Chốn thiên cung ai kén rể bao giờ? Chi những sự vẩn vơ mà giấy má!

Chức Nữ tảo tùng giai tế giá Hằng Nga bất nại bão phu miên.

(Trời mắng)

Tản Đà giảng văn thích nghĩa bài này như sau: “Bài hát này nói một người si tình, viết thư chực ve con gái Trời mà bị Trời mắng.” Trời vừa buồn cười vừa giận lắm, mắng rằng: “Sao dám suồng sã hỗn như thế! Ở trên nhà Trời đây, ta có kén rể bao giờ đâu, mà dám đưa giấy lên để hỏi, sao mà vẩn vơ đến như thế! Có hai cô con gái, một cô Chức Nữ thì đã gả chồng từ bao giờ, còn cô Hằng Nga thì chỉ ưa ngủ một mình, như thế thì còn hỏi lấy ai?” [3; tr. 113].

Trong chế độ phong kiến thì việc trai gái lấy nhau là do song thân định đoạt, tình yêu là một thứ tốt nhất đừng nên có. Do đó mà tình yêu tự do trở thành mơ ước cho các nhà nho tài tử, Tản Đà đã viết về tình yêu trong Giấc mộng con và cả trong truyện ngắn Thề non nước. Trong Thề non nước, mối tình giữa du khách và kỹ nữ là một thứ tình duyên không ràng buộc, và với Tản Đà có lẽ đã trở thành một điều gì đó hấp dẫn. Nói không sai khi Tản Đà đã mở đầu cho loại tình như vậy, Xuân Diệu sau này cũng có nói về mối tình không lo lắng không trách nhiệm với kỹ nữ, nhưng người khách làng chơi của “ông hoàng thơ tình” lại có phần lạnh nhạt hơn với kỹ nữ:

Lời kỹ nữ đã vỡ vì nước mắt,

Cuộc yêu đương gay gắt vì làng chơi. Người viễn du lòng bận nhớ xa khơi,

Gỡ tay vướng để theo lời gió nước.

(Lời kỹ nữ) Khóa luận: Mộng trong thơ văn Tản Đà nhìn từ phương diện.

Về mối tình với cô đầu tên Vân Anh (nguyên mẫu là cô Đỗ Thị Vân, một người bạn gái của Tản Đà) ông xem kỹ nữ cũng là một nghề, có lúc bần tiện mà cũng có lúc “phong quang đắc ý”. Trong Thề non nước, bần tiện là khi: “Khách ngồi buồn, tự nghĩ một mình rằng: Vào chơi nhà cô đầu, quang cảnh thế này nghĩ thật buồn, song cũng tiện cho mình được ngủ qua một tối rồi mai đi; lại nghĩ người ả đầu đó, trông cũng xinh xắn và cũng có phong cách, sao không được có đông khách hát mà ăn ở bần tiện đến như thế.” Còn phong quang đắc ý là khi: “Đã được đông khách hát thời sự ăn mặc, chỗ ăn ở cũng dần dần được sang trọng” “Vân Anh từ khi lên Hàng Giấy, thanh giá càng lộng lẫy như một vừng giăng sáng ở dưới đáy hồ thu”. Vân Anh là một cô đầu, nhưng cô có học chữ nho và có thể làm thơ. Trong buổi tiếp khách hữu tình, hai người đã cũng nhau làm xong bài “Thề non nước” để đề tranh, “hai người cùng lấy làm ưng ý”, “Khách đề trước một bài chữ nôm, Vân Anh thời viết quốc ngữ. Đề xong, lại cùng ngồi uống rượu làm văn, thường hai người cùng làm chung nhau một bài, mỗi người làm một đoạn.”, “Lúc ấy, hai tình quyến luyến, tự người Bình Khang kia không phải giả ý mà du tử cũng nặng lòng biệt ly.”

Tản Đà với bản tính đa tình, ông còn viết khá nhiều về người kỹ nữ như trong Giấc mộng con, ông kể về chuyến thăm trong mộng tới một nơi gọi là “Sầu thành”, tên gọi của một thanh lâu ở New York, nơi ở của các kỹ nữ đã ngoài 30 nên “giá mua cười rẻ hơn” và “tình cảnh không được vui lắm” so với các Phong nguyệt thành nên nơi đây đề bảng hiệu là vậy: “Có lúc sầu mà sầu, nhiều lúc vui mà lại sầu. Trong lúc vui mà sầu thời thực là thái sầu

Song, “Vân Anh chỉ là người tương đắc, Kiều Oanh mới là người yêu lý tưởng”. Anh thư ký Khắc Hiếu trong Giấc mộng con yêu cô Chu Kiều Oanh không chỉ là “yêu một người đàn bà đẹp, có tài, có đức, mà còn thổ lộ những nguyện ước, những tâm sự như một người tri kỷ, bình đẳng hoàn toàn với mình. Đó là một nét mới trong quan niệm về người yêu.” [7; tr. 545] mà theo Phạm Thế Ngũ thì cuộc tình ái cao thượng giữa anh Khắc Hiếu với nàng Chu Kiều Oanh nói lên cái mộng tình cảm của Tản Đà. Người đàn bà lý tưởng, theo Tản Đà không phải là một mỹ nhân mà là một giai nhân, “mỹ nhân khác giai nhân ở đức”(Giấc mộng con). Nguyễn Khắc Hiếu và Kiều Oanh, một thứ tình cảm vô cùng tự do, thấu hiểu nhau, hưởng thụ cảm xúc yêu đương nhưng không có chủ đích tiến đến hôn nhân, đó cũng là một quan niệm mới mẻ trong tình yêu của Tản Đà. Ta có thể thấy một điều rằng: Tình yêu của Tản Đà đã mang sắc thái thành thị tư sản, nhưng ông vẫn chưa gột rửa hết tư tưởng của nho giáo. Dù cho cô Oanh đã đêm đêm lẻn ra vườn hoa để nói chuyện với người yêu, hết lòng giúp đỡ anh Hiếu khi gặp chuyện. Số là vì không giữ kỹ chìa khóa mà tủ ông chủ bị trộm lấy hết, Hiếu “Sợ thay! Nếu gặp phải sự này mà tỉnh mất thời quyển mộng của ta không thành” bèn bàn với Kiều Oanh cách giải quyết. Từ đấy mà sinh ra “Tình tương thân, lệ tương trọng, lý thú tương đắc” giữa Hiếu và Oanh. “Hiếu ta bình sinh thích chè ngon, thích người đẹp, thích cảnh trí thanh tĩnh, đến bận ấy được cả ba cái hợp một”. Một khung cảnh hữu tình mà hai người cũng hữu ý, giai nhân “như ghét như yêu như chiều như ngượng. Lông mày ngài, con mắt phượng, cô nhìn ai?” (Giấc mộng con). Nhưng cả hai cũng chỉ dừng lại ở việc uống trà và đàm đạo về văn chương, tuyệt nhiên không vượt qua lễ giáo phong kiến. Cả với cô kỹ nữ Vân Anh cũng vậy, “rượu xong, khách đi ngủ, đến sáng dậy, chi tiền rồi đi”, trước sau hai người vẫn “tương kính” nhau vô cùng. Khóa luận: Mộng trong thơ văn Tản Đà nhìn từ phương diện.

2.3.4 “Lăng kính phong tình ân ái” của Tản Đà

Trần Đình Hượu cho rằng: “Từ chỗ lấy tình luyến ái nam nữ thành thứ thuốc tiêu sầu, Tản Đà nhìn tình tri kỷ thành tình luyến ái nam nữ. Ở ông điều đó hầu như thành một thứ lăng kính để nhìn thế giới. Cái nhìn ân ái, phong tình chi phối sức tưởng tượng làm Tản Đà thấy mọi người mọi vật đều như đang ở trong một tâm trạng yêu đương.” [7; tr. 549]. Điều này xuất hiện khá rõ nét trong thơ Tản Đà, điển hình là trong Chén rượu vĩnh biệt, Tao Đàn số Tản Đà – 1939, Nguyễn Tuân cho biết “năm 1935, từ Thanh Hóa gửi đến cho Tản Đà ở Khê Thượng một ít nem chua và một bó đóm diêm”, Tản Đà đã làm một bài thơ như là lời cảm tạ ông bạn Nguyễn Tuân, bài thơ như sau:

Phòng văn thơ thẩn một mình

Đèn khuya nửa ngọn lửa tình cùng ai?

Nước non cách mấy dậm dài

Non xanh nước biếc nhớ người đâu xa.

Nhớ ai là kẻ yêu ta

Nắm nem thanh đóm làm quà cho nhau.

Nem chua ăn hết đã lâu

Đóm thời một bó trắng phau hãy còn.

Tay cầm cái đóm con con

Tưởng người cách nước xa non như gần.

Ai về nhắn bác Nguyễn Tuân

Thu Trang, Thanh Hoá nghe gần Nhà Diêm Là người cho đóm cho nem.

(Nhắn người trong Thanh) Khóa luận: Mộng trong thơ văn Tản Đà nhìn từ phương diện.

Thật khó có thể tin được với những từ như “lửa tình”, “kẻ yêu ta”, “non xanh nước biếc nhớ người” v.v… lại nằm trong một bài thơ Tản Đà gửi cho ông bạn mến mộ mình. Hay lần Tản Đà làm thơ vì nhớ ông bạn ở phố Mã Mây, câu thơ

vẫn mượt mà đầy quyến luyến như vậy:

Xa thời ai nhớ, gần thời nhớ ai.

Mã Mây với phố Hàng Khoai

Quan hà gang thước cho người sầu riêng.

Trách cho ông bạn láng giềng Giận nhau chi đó mà kiềng nhau ra.

Ước gì họp mặt đôi ta

Cốc men Quế Lộ, chén trà Liên Tâm.

(Nhớ ông bạn ở phố Mã Mây – Hà Nội)

Tản Đà nhớ bạn đọc cũng cùng một tình cảm như những người yêu nhớ nhau:

Nhớ ai, chẳng nhớ những là ai Mây núi xa trông luống ngậm ngùi.

(Sài Gòn, nhớ bạn độc giả An Nam tạp chí) Gửi ông Tú tài Nghiêm Phúc Đồng:

Nhớ lúc rượu ngon năm bảy chén Nhớ khi đêm vắng một đôi người Nhớ sân đứng tế người thiên cổ Nhớ chỗ nằm xem truyện Liêu Trai

(Nhớ bạn)

Tình riêng vẩn vơ không có kết quả là thế, dùng lăng kính phong tình để làm thơ gửi cho bạn bè mình là thế, nhưng cũng có người con gái yêu mến cái tài của ông Tản Đà mà tự nguyện dâng cái tình cảm cho ông. Chuyện là Tản Đà trong lần đi thăm chùa Hương ông trót mê món rau sắng ở đó, mà ngặt nỗi hết tiền tiêu nên ông viết bài thơ:

Muốn ăn rau sắng chùa Hương

Tiền đò ngại tốn, con đường ngại xa.

Người đi, ta lại ở nhà,

Cái dưa thời khú, cái cà thời thâm.

(Rau sắng chùa Hương) Khóa luận: Mộng trong thơ văn Tản Đà nhìn từ phương diện.

Nguyễn Khắc Xương chú rằng: “Vì mấy câu ca dao này, Tản Đà được một bạn đọc vốn yêu thơ văn ông gửi tặng một gói rau sắng. Về sau mới biết người đó là nữ sĩ Song Khê em Tương Phố.” [31 ;tr. 231]. Về chuyện này, Tản Đà đã viết lại một bài thơ để bày tỏ lòng biết ơn với người mến mộ ấy, và ông cho rằng đó là“một người tình nhân không quen biết” trong cuộc đời mình:

Mấy lời cảm tạ tri âm

Đồng bang là nghĩa, đồng tâm là tình

Đường xa rau hãy còn xanh

Tấm lòng thơm thảo, bát canh ngọt ngào.

Yêu nhau xa cách càng yêu

Dẫu rằng suông nhạt, mà nhiều chứa chan

(Nguyễn Khắc Hiếu bái phục)

Như vậy, với bốn biểu hiện: cái tính đa tình, những mối tình trong đời thực được đưa vào văn thơ, ước mong gặp tri kỷ trong cõi mộng và lăng kính phong tình, Tản Đà đã khởi nên, vẽ nên một giấc mộng yêu đương có thể nói là đặc sắc và phong phú vào hàng bậc nhất trong văn học Việt Nam. Khóa luận: Mộng trong thơ văn Tản Đà nhìn từ phương diện.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Khóa luận: Phương thức thể hiện mộng trong thơ văn Tản Đà

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x