Khóa luận: Giải pháp tín dụng nhằm phát triển DNVVN tại SHB

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Giải pháp tín dụng nhằm phát triển DNVVN tại SHB hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Giải pháp và kiến nghị về hoạt động tín dụng nhằm phát triển DNVVN tại SHB dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

3.1 Những phương hướng để phát triển DNVVN

Vai trò của DNVVN đã được thừa nhận rộng rãi khắp nơi ở hầu hết các nước trên thế giới. Tuy vậy, xuất phát từ đặc điểm cụ thể cũng như mục tiêu phát triển của từng nước mà xác định chiến lược lâu dài cho sự phát triển khu vực kinh tế này. Với đặc điểm của kinh tế Việt Nam còn nhỏ bé, kém phát triển và đại bộ phận các doanh nghiệp đang hoạt động trong nền kinh tế hiện nay đều là DNVVN và xu hướng các doanh nghiệp được thành lập trong thời gian tới cũng sẽ là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Nhận thức được vấn đề phát triển DNVVN là một nhiệm vụ chính trị quan trọng trong chiến lược xây dựng quan hệ sản xuất mới, dựa trên đặc điểm, tính chất và xu hướng phát triển khu vực này, đồng thời để nhằm đạt được mục tiêu phát triển kinh tế xã hội đến năm 2030 và 2040, Đảng và Nhà nước ta đã có những chính sách hỗ trợ nhằm phát triển DNVVN ở nước ta. Các chính sách của Nhà nước nhất là chính sách tín dụng có tiềm năng quan trọng và tác động rất lớn đến sự tạo dựng các doanh nghiệp mới và sự phát triển của các doanh nghiệp hiện có.

  • Để khuyến khích các DNVVN phát triển cần xuất phát từ một số quan điểm sau:

Hoàn thiện và đảm bảo tính ổn định khung pháp lí, cải cách thủ tục hành chính và chính sách tài chính nhằm tạo môi trường đầu tư kinh doanh bình đẳng, minh bạch, thông thoáng cho DNVVN phát triển.

Đánh giá tác động của các chính sách đến DNVVN, định kì tổ chức đối thoại giữa cơ quan nhà nước với DNVVN, qua đó hướng dẫn và giải quyết các yêu cầu bức thiết cho phát triển kinh doanh.

Điều chỉnh hệ thống thuế phù hợp nhằm khuyến khích khởi sự DN, đổi mới chế độ kế toán, các biểu mẫu báo cáo theo hướng đơn giản hóa, khuyến khích DN tự kê khai và nộp thuế, vừa tạo thuận lợi cho DN, vừa chống thất thu thuế.

Cải thiện tình trạng thiếu mặt bằng sản xuất, tăng cường bảo vệ môi trường thông qua việc lập và công khai quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, tạo điều kiện để phát triển các khu công nghiệp, cụm công nghiệp có quy mô hợp lí và giá thuê đất phù hợp với khả năng của DNVVN, hỗ trợ di dời các DNVVN gây ô nhiễm, tác hại đến môi trường tại các khu dân cư và đô thị đến các khu công nghiệp, cụm công nghiệp. Khóa luận: Giải pháp tín dụng nhằm phát triển DNVVN tại SHB.

Sửa đổi, bổ sung các quy định để đẩy nhanh việc xây dựng Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNVVN tại các địa phương, khuyến khích phát triển các loại hình ngân hàng, ngân hàng TMCP chuyên phục vụ cho DNVVN, trong đó bao gồm cả việc phát triển nghiệp vụ cho thuê tài chính và áp dụng biện pháp cho vay không có đảm bảo bằng tài sản thế chấp đối với các DNVVN có dự án khả thi, có hiệu quả để đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư kinh doanh.

Đẩy nhanh việc thực hiện các chương trình hỗ trợ, phổ biến, ứng dụng công nghệ và kĩ thuật tiên tiến với các DNVVN, nâng cao năng lực quản lí kĩ thuật, khuyến khích việc hợp tác và chia sẻ công nghệ giữa các DN có quy mô khác nhau. Phát triển có hiệu quả các chương trình nghiên cứu có khả năng ứng dụng vào thực tiễn. Nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung và ban hành hệ thống các tiêu chuẩn kĩ thuật, hệ thống quản lí chất lượng và chứng nhận chất lượng phù hợp với quốc tế. Khuyến khích DNVVN tham gia các chương trình liên kết ngành, liên kết vùng và phát triển công nghiệp phụ trợ.

Đẩy nhanh việc xây dựng hệ thống thông tin doanh nghiệp để có cơ sở dữ liệu đánh giá về tình trạng của DNVVN, phục vụ công tác hoạch định chính sách và cung cấp các thông tin phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh của DN. Triển khai các hoạt động tuyên truyền, giáo dục, phổ biến kinh nghiệm, ý chí kinh doanh và làm giàu hợp pháp tới mọi đối tượng. Nghiên cứu thí điểm việc đưa các kiến thức về kinh doanh vào chương trình học ở trường phổ thông, cao đẳng, đại học…nhằm thúc đẩy tinh thần kinh doanh, phát triển văn hóa DN, tạo sự ủng hộ trong toàn xã hội đối với DN kinh doanh theo pháp luật.

Phát triển thị trường dịch vụ phát triển kinh doanh (cả về phía cung và phía cầu), hoàn thiện môi trường pháp lí về hoạt động cung cấp dịch vụ phát triển kinh doanh, chú trọng về việc quản lí chất lượng các dịch vụ. Khuyến khích các tổ chức Hiệp hội thực hiện phát triển các dịch vụ phát triển kinh doanh, tích cực triển khai các chương trình trợ giúp DNVVN. Tham gia xây dựng thể chế, chính sách và các chương trình trợ giúp DNVVN nhằm tăng cường vai trò hỗ trợ của Hiệp hội và thực sự trở thành đại diện lợi ích hợp pháp của DNVVN.

Nâng cao hiệu quả điều phối thực hiện các hoạt động trợ giúp phát triển DNVVN, tăng cường vai trò của Hội đồng Khuyến khích phát triển DNVVN, tăng cường năng lực cho các địa phương về quản lí, xúc tiến, phát triển DNVVN.

3.2 Định hướng phát triển hoạt động tín dụng của SHB Hải Phòng với DNVVN Khóa luận: Giải pháp tín dụng nhằm phát triển DNVVN tại SHB.

Đứng trước xu thế chung của nền kinh tế và yêu cầu riêng của SHB, SHB Hải Phòng sẽ thực hiện tốt một số mục tiêu sau:

  • Về công tác phát triển nguồn vốn

Tiếp tục đẩy mạnh công tác huy động vốn, phấn đấu tăng trưởng nguồn vốn, đặc biệt là nguồn vốn trung, dài hạn, nguồn vốn có chi phí thấp, mở rộng mạng lưới huy động một cách hợp lí.

Công tác phát triển nguồn vốn phải thường xuyên bám sát thị trường, tăng cường, mở rộng, khai thác những khách hàng có nguồn tiền nhàn rỗi.

Có chính sách lãi suất phù hợp, tăng cường làm tốt chính sách chăm sóc khách hàng. Giữ gìn và phát triển quan hệ gắn bó mặt thiết với các khách hàng lớn, khách hàng truyền thống của chi nhánh.

Tập trung nâng cao nghiệp vụ, tác phong phục vụ của từng cán bộ giao dịch viên. Khen thưởng thỏa đáng những cá nhân, tập thể có thành tích tốt trong công tác khai thác huy động vốn.

  • Về công tác đầu tư tín dụng

Phấn đấu tăng trưởng dư nợ lành mạnh, an toàn và hiệu quả đối với mọi thành phần kinh tế. Phân tích, đánh giá thế mạnh từng khu vực, từng ngành nghề, từng DN sản xuất kinh doanh có hiệu quả để chủ động tiếp thị.

Phải luôn quan tâm đến chất lượng tín dụng, coi trọng tính an toàn, khả năng thu hồi nợ của các khoản vay.

Tích cực mở rộng quan hệ với những khách hàng tiềm năng, có tình hình tài chính ổn định, có chiến lược kinh doanh tốt để đầu tư. Làm tốt công tác thẩm định, lựa chọn những dự án có tính khả thi cao.

Cơ cấu lại khách hàng theo hướng giảm dần dư nợ cho vay đối với những khách hàng có tình hình tài chính yếu kém, phương án kinh doanh không hiệu quả. Đối với những khách hàng có nợ gia hạn, nợ quá hạn, tập trung đôn đốc, theo dõi nguồn tài chính của khách hàng. Bám sát tình hình kinh doanh của DN, theo dõi từng công trình, từng dự án đầu tư, từng hạng mục để đề ra biện pháp thu nợ. Tăng cường bổ sung TSĐB để giảm thiểu rủi ro có thể xảy ra.

  • Về công tác phát triển các sản phẩm dịch vụ ngân hàng

Quan tâm đến chất lượng các loại hình dịch vụ ngân hàng để nâng cao sức cạnh tranh. Mặt khác để tăng tỉ trọng thu từ dịch vụ phí ngân hàng trong tổng thu nhập. Chú trọng tập trung, giới thiệu, phát triển mạnh các loại hình dịch vụ ngân hàng như : dịch vụ chuyển tiền, dịch vụ chi trả kiều hối, bảo lãnh, thu hộ, mở L/C. Đặc biệt phát triển mạnh các dịch vụ cung cấp các sản phẩm thẻ như ATM, VISA, MASTER… Mở rộng các điểm chấp nhận thẻ.

Tăng cường, đẩy mạnh việc kí kết các hợp đồng cung cấp dịch vụ với các khách hàng có quan hệ với chi nhánh, đặc biệt là những khách hàng có quan hệ tín dụng. Khóa luận: Giải pháp tín dụng nhằm phát triển DNVVN tại SHB.

3.3 Giải pháp tín dụng nhằm nâng cao chất lượng tín dụng DNVVN của SHB Hải Phòng

Trên cơ sở lý luận, các phân tích và những định hướng phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ được trình bày ở trên, tôi xin kiến nghị một số giải pháp sau:

3.3.1. Đa dạng hoá hoạt động tín dụng đối với DNVVN

3.3.1.1. Đa dạng hoá về loại hình tín dụng đối với DNVVN

Như đã phân tích, khu vực DNVVN rất đa dạng về quy mô, ngành nghề kinh doanh, rất linh hoạt, vì vậy nhu cầu về khối lượng vay vốn, thời hạn vay, phương thức trả gốc lãi… là không giống nhau. Chính vì vậy mà ngân hàng với phương châm “Lấy hiệu quả kinh doanh của khách hàng làm mục tiêu phục vụ”, phải đưa ra những loại hình tín dụng phù hợp với từng yêu cầu của khách hàng.

Một thực tế là SHB Hải Phòng thực hiện cho vay trung và dài hạn còn chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng dư nợ. Vì vậy SHB Hải Phòng phải đẩy mạnh cho vay trung dài hạn để giúp các DNVVN có thể đầu tư tài sản cố định, máy móc thiết bị hiện đại để sản xuất những sản phẩm tăng tính năng công dụng phù hợp với yêu cầu thị trường, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.

SHB Hải Phòng nên bổ sung loại hình cho thuê tài sản đối với DNVVN đây là hình thức rất nhiều ưu việt tạo điều kiện cho các doanh nghiệp không đủ vốn tự có để mua tài sản mà tránh được tình trạng mua phải tài sản lạc hậu, lỗi thời. Mặt khác đối với ngân hàng cũng sẽ tránh được rủi ro do ứ đọng vốn vì không phải bỏ tiền trước để mua tài sản, việc giao tài sản được thực hiện trực tiếp giữa hai bên. Khóa luận: Giải pháp tín dụng nhằm phát triển DNVVN tại SHB.

Nên linh hoạt trong hoạt động cho vay đối với từng đối tượng khách hàng. Vẫn biết cho vay các DNVVN là có nhiều rủi ro song không hẳn tất cả các DNVVN đều làm ăn kém hiệu quả, đều đưa ra những phương án vay vốn không thuyết phục. Phải mạnh dạn đánh giá xem xét mức độ tín nhiệm của DNVVN để có thể cho vay tín chấp đối với DNVVN. Không phải tất cả các DNVVN đều có tài sản thế chấp SHB Hải Phòng nên căn cứ vào hiệu quả của phương án vay vốn, nguồn chính để trả nợ khoản vay là lợi nhuận mang lại từ phương án sản xuất. Nếu được SHB Hải Phòng có thể tư vấn thiết lập phương án, cũng như thực hiện phương án. Đồng thời có thể góp chung vốn để cùng thực hiện. Như vậy sẽ tăng mức độ tín nhiệm giữa SHB Hải Phòng với khách hàng, tăng hiệu quả sử dụng vốn.

Thông thường SHB Hải Phòng cũng như nhiều ngân hàng khác chỉ thực hiện cho vay trực tiếp giữa ngân hàng với doanh nghiệp, thì SHB Hải Phòng có thể cấp tín dụng gián tiếp thông qua việc mua lại các khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán. Đây là hình thức mua bán nợ và chưa được thực hiện phổ biến ở các ngân hàng.

3.3.1.2. Đa dạng hoá hình thức tín dụng đối với DNVVN

Cũng không nằm ngoài mục tiêu phục vụ tốt nhất mọi nhu cầu đa dạng của các DNVVN, SHB Hải Phòng nên đa dạng hoá hình thức tín dụng đối với DNVVN. Ngoài các hình thức cho vay truyền thống thông qua việc cầm cố thế chấp tài sản, SHB Hải Phòng nên tìm cũng như phát triển các hình thức vay mới như:

  • Chiết khấu giấy tờ có giá
  • Hình thức hùn vốn đầu tư, liên doanh, liên kết với khách hàng.
  • Cho vay bảo lãnh
  • Cho vay bảo đảm bằng các khoản sẽ thu.

3.3.1.3. Đa dạng hoá phương thức cho vay:

Phương thức cho vay phải đảm bảo thực hiện tốt cơ chế tín dụng và đảm bảo cho khách hàng sử dụng vốn nhanh, tiết kiệm. Ngoài phương thức cho vay từng lần SHB Hải Phòng áp dụng SHB Hải Phòng nên mở rộng thêm các phương thức cho vay đối với DNVVN để tiện lợi cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mà vẫn đảm bảo an toàn vốn của ngân hàng. Theo phương thức cho vay từng lần thì mỗi một lần vay, khách hàng phải lập đơn kiêm khế ước xin vay, trình các chứng từ, hợp đồng kinh tế xin vay, qua nhiều khâu kiểm duyệt xin vay. Trong khi đó nhu cầu vốn hoạt động của các DNVVN đa dạng, phong phú, đòi hỏi nhanh nhạy cao, cũng như sự “đói vốn” của những doanh nghiệp này. Vì vậy ngoài phương thức cho vay từng lần SHB Hải Phòng có thể áp dụng cho vay theo hạn mức tín dụng. Đây là phương thức cho vay rất phù hợp với tính năng động, nhanh nhạy của cơ chế thị trường, rất thuận lợi cho khách hàng vay vốn có số vòng quay thường xuyên, hàng ngày, tạo điều kiện để vốn tín dụng luôn chuyển đều đưa qua quỹ Ngân hàng, qua đó tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát trong quá trình sử dụng vốn vay. Như vậy hiệu quả sử dụng vốn vay sẽ tăng lên.

3.3.2. Xây dựng một cơ chế lãi suất linh hoạt cho DNVVN Khóa luận: Giải pháp tín dụng nhằm phát triển DNVVN tại SHB.

Với đặc điểm năng lực tài chính thấp, vốn đầu tư ban đầu hạn hẹp cộng với khả năng tự tích luỹ vốn thấp nên đây là những khó khăn cho việc mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh của DNVVN. Từ những đặc điểm trên dẫn đến ngân hàng rất ngại cho vay đối tượng DNVVN. Mặt khác, khối lượng vốn vay ít, chi phí giao dịch cao. Chính vì vậy ngân hàng không muốn cho vay đối tượng này hoặc cho vay với lãi suất cao để bù đắp rủi ro. Vì vậy càng làm cho DNVVN khó tiếp cận với tín dụng ngân hàng.

Lãi suất cho vay được xây dựng trên cơ sở lãi suất huy động bình quân cộng với hệ số bù rủi ro và tỷ lệ lợi nhuận dự kiến. Ngoài ra, lãi suất cho vay còn phụ thuộc vào chính sách tiền tệ của Nhà nước; từng loại thời hạn khác nhau, khối lượng vay; thời kỳ khác nhau.Với từng đối tượng khách hàng có mức lợi nhuận dự kiến và hệ số rủi ro khác nhau SHB Hải Phòng có thể áp dụng các mức lãi suất khác nhau nhằm thu hút và giữ khách hàng, lấy lãi suất để làm công cụ kích thích các đối tượng hoạt động có hiệu quả, cụ thể là:

  • Chính sách lãi suất phải linh hoạt theo đối tượng vay vốn:

Với khách hàng quen thuộc, có uy tín, vay trả sòng phẳng thì cơ chế được hưởng một mức lãi suất ưu đãi thấp hơn. Điều đó sẽ góp phần củng cố mối quan hệ lâu dài với khách hàng, vừa khuyến khích cho các khách hàng tăng cường mối quan hệ với SHB Hải Phòng, vừa tích cực làm ăn có hiệu quả, trả nợ gốc là lãi đúng hạn cho ngân hàng.

Ngoài ra có thể tuỳ từng trường hợp cụ thể như khách hàng đến vay vốn lần đầu tiên SHB Hải Phòng có thể giảm lãi suất và có nhiều ưu đãi khác về thời hạn vay hoặc tổng giá trị món vay.

Đa dạng hoá các loại hình lãi suất để tạo điều kiện phù hợp với chu kỳ sản xuất kinh doanh của khách hàng. Dựa vào từng loại lãi suất và từng kỳ hạn, khách hàng có nhiều cơ hội lựa chọn khoản vay thích hợp đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của họ đạt hiệu quả cao, đảm bảo trả nợ ngân hàng đúng hạn.

3.3.3. Xây dựng chiến lược Marketing trong đó trọng tâm là chính sách khách hàng nhằm mở rộng và tăng cường mối quan hệ chặt chẽ giữa SHB Hải Phòng và DNVVN

Nền kinh tế càng phát triển thì vai trò của hoạt động Marketing càng được khẳng định. Trong điều kiện thị trường ngày càng có nhiều đối thủ cạnh tranh gay gắt không những đó là các ngân hàng trong nước mà còn với cả các ngân hàng nước ngoài. Trước tình hình đó để tháo gỡ khó khăn này SHB Hải Phòng cần quan tâm đến hoạt động Marketing mà trọng tâm vào chính sách khách hàng nhằm giới thiệu quảng cáo các dịch vụ, các cơ chế, điều kiện cũng như những quy định về nghiệp vụ tín dụng .

  • Để thực hiện tốt điều này SHB Hải Phòng cần quan tâm đến vấn đề sau:

Có sự linh hoạt đối với từng loại hình doanh nghiệp về lãi suất, điều kiện vay vốn, phương thức cho vay,… nhằm thoả mãn tốt nhất từng loại hình doanh nghiệp cụ thể. Khóa luận: Giải pháp tín dụng nhằm phát triển DNVVN tại SHB.

Vì đối tượng khách hàng DNVVN là chủ yếu nên SHB Hải Phòng cần có sự ưu tiên hơn đối với đối tượng này bằng các có những ưu đãi đặc biệt hoặc thành lập một quỹ cho vay riêng đối với DNVVN nhằm tạo điều kiện thuận lợi, tạo tính chuyên nghiệp khi cho vay đối tượng này nhằm tăng khả năng tiếp cận vốn tín dụng cả SHB Hải Phòng hơn.

Mở rộng phạm vi hoạt động bằng cách thành lập thêm chi nhánh, phòng giao dịch để tiếp xúc với đa dạng loại hình doanh nghiệp, ngành nghề kinh doanh.

Tạo sự khác biệt về loại sản phẩm này bằng cách có thể cung cấp tín dụng tại nhà để giảm bớt thời gian giao dịch đi lại của khách hàng, tăng cường bổ sung các dịch vụ đi kèm như dịch vụ tư vấn khách hàng, đơn giản hoá các thủ tục vay vốn.

SHB Hải Phòng có thể tổ chức các cuộc hội thảo, hội nghị khách hàng để tạo ra các cơ hội cho các DNVVN gặp gỡ, trao đổi kinh nghiệm trong sản xuất kinh doanh cũng như trong việc tiếp cận vốn tín dụng.

Kết hợp với các tổ chức hỗ trợ DNVVN như Trung tâm hỗ trợ DNVVN, Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNVVN… nhằm tạo thêm nhiều cơ hội mở rộng khách hàng cũng như tạo cho DNVVN dễ dàng tiếp cận được vốn tín dụng của SHB Hải Phòng. Phối hợp với các tổ chức này kiểm soát, kiểm tra tình hình, năng lực của các doanh nghiệp nhằm thu thập thêm thông tin cũng như tìm hiểu nhu cầu của đối tượng khách hàng này nhằm phục vụ tốt nhất các nhu cầu đó.

Có những chương trình quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng như sách báo nhằm giới thiệu, quảng bá sản phẩm ưu việt của mình với các doanh nghiệp. Có thể đăng trên báo diễn đàn doanh nghiệp, Thời báo kinh tế, Kinh tế Việt Nam…

3.3.4. Tăng cường hoạt động tư vấn đối với DNVVN Khóa luận: Giải pháp tín dụng nhằm phát triển DNVVN tại SHB.

Ngân hàng có thể mở rộng các hoạt động tư vấn cho DNVVN tư vấn không chỉ dừng lại ở mức độ giải thích các quy định và thể lệ cho khách hàng mà là cùng với họ xem xét tính hiệu quả của dự án trên cơ sở đó giúp họ lập phương án sản xuất kinh doanh. Như đã phân tích ở chương II, điểm yếu nhất của các DNVVN hiện nay là họ không có khả năng xây dựng những dự án có tính khả thi, hơn nữa thói quen sử dụng tư vấn chuyên nghiệp chưa hình thành trong đại bộ phận các doanh nghiệp Việt Nam. Các vấn đề cần tư vấn như: thông tin công nghệ, thị trường thị hiếu, xác định cơ cấu vốn đầu tư hợp lý, quản lý quá trình sản xuất kinh doanh, tính toán đầu vào, đầu ra của thị trường và tính hiệu quả lâu dài.

Ngoài ra, ngân hàng nên tổ chức một mạng lưới thông tin để giúp đỡ các doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp vừa và nhỏ do thiếu thông tin hoặc thông tin không chính xác mà ký những hợp đồng bất lợi cho mình. Ngân hàng do có mối quan hệ với nhiều khách hàng với mọi ngành nghề, lĩnh vực khác nhau, có những chuyên gia thu thập và phân tích thông tin nên có thể đáp ứng nhu cầu thông tin còn thiếu cho doanh nghiệp giúp các doanh nghiệp giảm được chi phí, tránh được những thông tin không cân xứng và tăng hiệu quả kinh doanh cho DNVVN.

3.3.5. Nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng đối với DNVVN, thực hiện đúng quy trình tín dụng:

Thẩm định là một bước quan trọng nhất trong quy trình tín dụng. Nó không những có ý nghĩa đối với ngân hàng là nhằm nâng cao chất lượng tín dụng, giảm rủi ro cho ngân hàng mà nó còn có ý nghĩa rất lớn đối với khách hàng bởi không ít những khách hàng bị từ chối oan bởi cán bộ tín dụng không làm tốt công tác thẩm định phương án, dự án sản xuất.

Thẩm định tín dụng là một quá trình liên tục từ khâu thu thập thông tin đến khâu phân tích các thông tin đó để từ đó có quyết định cho vay hay không.

3.3.5.1. Về thu thập thông tin

Thông tin tín dụng là yếu tố quan trọng đầu tiên mà ngân hàng cần khi quyết định cho vay. Cán bộ tín dụng phải thu thập thông tin từ nhiều kênh, nguồn khác nhau, có khả năng chọn lọc các thông tin có hiệu quả, như vậy sẽ đảm bảo tránh được rủi ro khi ra quyết định cho vay, doanh nghiệp có cơ hội vay được vốn.

Xem xét thông tin từ phỏng vấn người vay, từ sổ sách ngân hàng để được thấy quan hệ vay trả của khách hàng.

Cần phải nắm bắt thông tin qua các phương tiện thông tin, phối hợp với trung tâm thông tin tín dụng của NHNN (CIC), thông tin từ đồng nghiệp, bạn bè, SHB Hải Phòng cũng cần tạo lập mối quan hệ thường xuyên với Phòng Thương mại và công nghiệp Việt Nam trong đó có Trung tâm hỗ trợ các DNVVN. Đây là những tổ chức có thể cung cấp những thông tin đầy đủ nhất về các hoạt động sản xuất kinh doanh của các DNVVN. Khóa luận: Giải pháp tín dụng nhằm phát triển DNVVN tại SHB.

Ngoài các thông tin từ báo cáo tài chính, cán bộ tín dụng cần phải chủ động đi khảo sát tình hình tạo cơ sở của các doanh nghiệp. Qua đó, ngân hàng có thể nắm bắt được thông tin về khả năng sản xuất kinh doanh nói chung của doanh nghiệp, năng lực quản lý, nhu cầu hiện tại và tương lai của khách hàng một cách khác quan.

3.3.5.2. Về phân tích và đánh giá khách hàng

SHB Hải Phòng cần sàng lọc khách hàng, hoàn thiện hệ thống xếp hạng tín dụng đối với các doanh nghiệp khi tiến hành cho vay.

Phân tích khách hàng dựa vào tiêu chí 5C, 5P, Campari. Phân tích định tính và định lượng.

  • Phân tích định tính

Mô hình 6C, 5P, Tiêu chuẩn Campari: Nhằm giúp cán bộ tín dụng xác định khả năng trả nợ và ý muốn trả nợ của khách hàng, Phân tích định lượng: Dựa vào mô hình cổ điển và mô hình điểm số Z

Căn cứ vào chỉ số Z, các ngân hàng có thể phân loại các doanh nghiệp nằm trong vùng an toàn, chưa có nguy cơ phá sản; doanh nghiệp nằm trong vùng cảnh báo, có thể có nguy cơ phá sản; doanh nghiệp nằm trong vùng nguy hiểm, nguy cơ phá sản cao. Đây là cơ sở để các ngân hàng quyết định hạn mức tín dụng cần thiết đối với từng doanh nghiệp. Như vậy, mô hình điểm số Z có thể coi là một công cụ hỗ trợ đắc lực cho các nhà quản trị ngân hàng có những quyết định đúng đắn trước khi cấp tín dụng

  • Mô hình điểm số Z

Cách tính: Z= 6.56X1 + 3.26X2 + 6.72X3 + 1.05X4

Trong đó:

  • X1: Vốn lưu động ròng/ Tổng tài sản
  • X2: Lợi nhuận giữ lại/ Tổng tài sản
  • X3: EBIT/ Tổng tài sản
  • X4: Vốn chủ sở hữu/ Tổng nợ

VD: Công ty cổ phần chế biến và XNK thủy sản Việt Trường, năm 2025 có xin vay vốn SHB Hải Phòng với số tiền 170 triệu VND để bổ sung vốn lưu động tham gia vào chu kì sản xuất kinh doanh. Sau khi cán bộ tín dụng thẩm định dự án và tính toán hạn mức tín dụng, SHB Hải Phòng quyết định hạn mức cho vay với công ty là 140 triệu. Tuy nhiên, nếu dựa vào mô hình xếp hạng tín dụng cùng với các chỉ tiêu về định tính 6C, hạn mức tín dụng với Công ty Cổ phần chế biến và XNK thủy sản Việt Trường có sự thay đổi. Khóa luận: Giải pháp tín dụng nhằm phát triển DNVVN tại SHB.

Về chỉ tiêu định tính: Mô hình 6C nhằm xác định khả năng trả nợ và ý muốn trả nợ của khách hàng. Dựa vào nguồn thông tin ngân hàng có được từ các đối tác, từ phỏng vấn trực tiếp công ty, vào tài sản đảm bảo, vào tỉ lệ vốn chủ sở hữu/tổng tài sản, và đặc biệt là vào tình hình kinh doanh trong 3 năm qua (từ năm 2023 đến 2025) cho thấy công ty Việt Trường là một công ty làm ăn có hiệu quả, tình hình tài chính minh bạch, cho phép SHB Hải Phòng có thể cấp tín dụng với DN trên.

  • Về chỉ tiêu định lượng: Mô hình điểm số Z
  • Bảng 3.1: Các chỉ tiêu tài chính
  • Bảng 3.2: Các chỉ số thanh toán

Ta có Z = 6.56* 0.26 + 3.26* 0.28 + 6.72*1.1*10-16 + 1.05*0.09*10-3 = 2.62

Chỉ tiêu Z chỉ ra, nếu Z > 2.6, DN nằm trong vùng an toàn, chưa có nguy cơ phá sản. Ta thấy chỉ số Z của Công ty Cổ phần chế biến và XNK Việt Trường là 2,62 > 2,6 như vậy có thể khẳng định độ tín nhiệm về xếp hạng tín dụng là cao, SHB có thể căn cứ vào đó để nâng hạn mức tín dụng, mở rộng cho vay với Công ty Cổ phần chế biến và XNK thủy sản Việt Trường lên 170 triệu VND thay vì 140 triệu VND như trong hạn mức tín dụng SHB Hải Phòng đã quyết định cho vay.

3.3.6. Tổ chức tốt công tác huy động các nguồn vốn đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng, đặc biệt là nguồn vốn trung và dài hạn

Huy động vốn là công việc đầu tiên một ngân hàng phải thực hiện để tạo điều kiện cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Nguồn vốn ngân hàng phải dồi dào thì ngân hàng mới đáp ứng được nhu cầu vay vốn của các doanh nghiệp. Vì vậy tổ chức tốt công tác huy động vốn cũng góp phần quan trọng vào việc hỗ trợ tín dụng cho các DNVVN. Như ở chương II đã phân tích một thực trạng là các DNVVN hiện nay rất khó khăn trong việc tìm nguồn vốn tài trợ trung và dài hạn. Mặt khác, SHB Hải Phòng cho vay chủ yếu là tín dụng ngắn hạn (chiếm gần 80%). Vì vậy ngân hàng cần có những biện pháp nhằm thu hút lượng vốn trung và dài hạn tạo cơ sở, điều kiện cho việc mở rộng cho vay trung dài hạn đối với DNVVN

3.3.7. Hoàn thiện cơ chế đảm bảo tiền vay đối với DNVVN tại SHB Hải Phòng

Đối với các DNVVN hiện nay như đã phân tích ở trên là còn nhiều bất cập so với yêu cầu về điều kiện vay vốn theo quy định hiện hành bao gồm: Về tài sản thế chấp, phương án sản xuất kinh doanh, về chấp hành chế độ kế toán thống kê.

Trong đó đáng quan tâm là điều kiện về tài sản thế chấp để được vay vốn. Đây là vấn đề hết sức nan giải với các DNVVN, trong điều kiện tài sản thế chấp còn quá ít ỏi. Khóa luận: Giải pháp tín dụng nhằm phát triển DNVVN tại SHB.

Thực tế và lý luận đã chứng minh được rằng điều kiện quan trọng nhất để đảm bảo an toàn đồng vốn cho vay không phải là tài sản thế chấp mà chính là ở tính khả thi của phương án, dự án sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp doanh nghiệp. Điều đó cho phép chúng ta có thể tìm giải pháp khắc phục tình trạng thiếu tài sản thế chấp vay vốn từ việc nâng cao năng lực thẩm định dự án, phương án vay vốn của ngân hàng, bên cạnh việc tạo môi trường pháp lý thuận lợi của Nhà nước. SHB Hải Phòng có thể phân định một số dạng khách hàng cụ thể để thực hiện cho vay như sau:

  • Đối với doanh nghiệp được bảo lãnh tín dụng một phần và đủ tài sản thế chấp cho phần còn lại thì yêu cầu doanh nghiệp thực hiện đảm bảo nợ đủ theo yêu cầu.
  • Đối với doanh nghiệp được bảo lãnh tín dụng một phần và tài sản thế chấp không đủ đảm bảo cho phần còn lại thì yêu cầu dùng tài sản hình thành từ vốn vay tiếp tục đảm bảo cho nợ vay còn lại.
  • Đối với các doanh nghiệp không đủ điều kiện để thực hiện như hai dạng trên thì SHB Hải Phòng phải chú ý trong thẩm định dự án, phương pháp vay vốn bằng thông qua hội đồng tín dụng, trong đó có các chuyên gia tư vấn theo chuyên môn yêu cầu, để quyết định đầu tư hay không và mức là bao nhiêu.

Như vậy một lần nữa lại càng khẳng định vai trò của việc nâng cao trình độ thẩm định dự án, phương án của ngân hàng. Cán bộ thẩm định không chỉ tinh thông về nghiệp vụ chuyên môn mà còn phải hiểu biết rộng rãi, sâu sắc các nghiệp vụ bổ trợ như chuyên môn các ngành kỹ thuật và các ngành kinh tế khác. Đồng thời phải nắm bắt thông tin kịp thời, chính xác về phương án, dự án vay vốn.

3.3.8. Tổ chức đào tạo và đào tạo lại cán bộ tín dụng của SHB Hải Phòng trong đó tập trung nâng cao trình độ chuyên môn của cán bộ tín dụng Khóa luận: Giải pháp tín dụng nhằm phát triển DNVVN tại SHB.

Yếu tố con người được coi là quan trọng nhất trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, nó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cung cấp dịch vụ của ngân hàng. Nhận thức được vấn đề này, muốn nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng cần thiết phải củng cố, nâng cao trình độ nghiệp vụ chuyên môn của cán bộ tín dụng.

  • Để nâng cao chất lượng cán bộ tín dụng, SHB Hải Phòng cần thực hiện một số biện pháp sau:

Tổ chức thi tuyển một cách công bằng, nghiêm túc, khách quan tuyển chọn những người có năng lực, tâm huyết với nghề, ưu tiên người có kinh nghiệm.

Tiếp tục nâng cao trình độ cán bộ tín dụng, tăng cường công tác đào tạo và đào tạo lại để cán bộ tín dụng có đủ kiến thức chuyên môn cũng như kiến thức về kinh tế thị trường. Khuyến khích các cán bộ đi nghiên cứu, nâng cao trình độ, học tập ở trong và ngoài nước.

Phối hợp với Trung tâm điều hành, các ngân hàng thương mại khác và các cơ quan thuộc Chính phủ tổ chức các cuộc hội thảo về phương pháp đánh giá tài sản thế chấp vay vốn ngân hàng, các thông số thẩm định kết quả tài chính, kết quả hoạt động của doanh nghiệp, vấn đề thông tin phòng chống rủi ro, tổ chức cuộc thi cán bộ tín dụng giỏi nhằm khuyến khích cán bộ tín dụng học hỏi kinh nghiệm từ các ngân hàng bạn đồng thời cập nhật những thông tin mới từ phía Chính phủ.

SHB Hải Phòng phải có chế độ thưởng phạt nghiêm minh, gắn lợi ích với hiệu quả hoạt động nhằm nâng cao trách nhiệm cán bộ tín dụng trong việc tìm kiếm khách hàng mới, mở rộng tín dụng cũng như giảm nợ quá hạn, nợ khó đòi…

Bố trí sắp xếp sử dụng đội ngũ cán bộ tín dụng phải phù hợp với vị trí yêu cầu của từng công việc. Phân rõ trách nhiệm pháp lý của từng vị trí công tác đảm bảo quyền lợi gắn với trách nhiệm.

3.4. Một số kiến nghị Khóa luận: Giải pháp tín dụng nhằm phát triển DNVVN tại SHB.

3.4.1. Kiến nghị với Nhà nước

  • Một là: Hoàn thiện khung pháp lý cho DNVVN

Chính phủ và các ban ngành cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật để khuyến khích các doanh nghiệp, doanh nghiệp yêu cầu hoạt động kinh doanh theo đúng pháp luật. Ban hành các chính sách hỗ trợ, bảo vệ DNVVN, chính sách thuế, chính sách thương mại, đất đai…

Nhà nước cần ban hành các đạo luật cơ bản, tạo môi trường pháp lý cần thiết để các DNVVN dễ dàng thực hiện các biện pháp đảm bảo nghĩa vụ trả nợ và các ngân hàng dễ dàng trong việc xử lý tài sản đảm bảo nợ khi có rủi ro xảy ra. Đó là luật sở hữu tài sản và các văn bản dưới luật quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan quản lý Nhà nước về cấp chứng thư, sở hữu tài sản; ban hành các văn bản dưới luật hướng dẫn việc thực hiện xử lý, phát mại tài sản thế chấp, cầm cố và bảo lãnh. Có như vậy mới góp phần tạo ra sự đảm bảo chắc chắn hơn cho các Ngân hàng thương mại và từ đó mà khuyến khích họ trong việc cho vay vốn đối với các DNVVN.

  • Hai là: Tạo ra một “sân chơi bình đẳng” về tín dụng trung và dài hạn để tất cả người đi vay đều tuân thủ những thể lệ giống nhau.

Những quy định hiện hành và quy tắc điều chỉnh việc tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng dài hạn và trung hạn đã có sự phân biệt đối xử với doanh nghiệp vừa và nhỏ trong khi đó ưu tiên cho DNNN.

  • Ba là: Thành lập các Công ty cho thuê tài chính chuyên để phục vụ cho các DNVVN.

Đây sẽ là các nguồn tài trợ vốn trung và dài hạn cho các DNVVN vừa an toàn vừa hợp với khả năng nguồn lực của DNVVN. Mô hình này đã được nhiều nước áp dụng thành công.

  • Bốn là: Xây dựng quỹ bảo lãnh tín dụng cho các DNVVN

Thực trạng chung là DNVVN vốn ít, trình độ công nghệ lạc hậu, trình độ quản lý hạn chế. Nhưng cũng có nhiều doanh nghiệp có khả năng phát triển, có dự án kinh doanh khả thi nhưng do không đủ điều kiện để tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng mà phải vay vốn các nguồn phi chính thức với lãi suất cao. Vì vậy, giải quyết vấn đề thiếu vốn là khâu đột phá nhằm khai thác mặt tích cực, hạn chế bất lợi đối với cả các tổ chức tín dụng và doanh nghiệp.

Mô hình hoạt động của quỹ bảo lãnh tín dụng: Trong giai đoạn trước mắt, nước ta cần xây dựng quỹ bảo lãnh tín dụng dưới hình thức tổ chức tài chính Nhà nước với tên gọi “Quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNVVN”. Việc xây dựng quỹ bảo lãnh tín dụng phải phù hợp với định hướng chiến lược phát triển kinh tế nói chung và đặc điểm phát triển của DNVVN.

Quỹ ra đời và hoạt động như là một công cụ hỗ trợ của Nhà nước đối với sự phát triển của các DNVVN. Hoạt động của nó phải nằm trong sự phối hợp hỗ trợ của Chính phủ, Phòng Thương mại công nghiệp Việt Nam, Hội đồng Trung ương, liên minh các HTX Việt Nam, Hiệp hội các DNVVN. Khóa luận: Giải pháp tín dụng nhằm phát triển DNVVN tại SHB.

Hệ thống Quỹ bảo lãnh tín dụng cho các DNVVN cần được hình thành theo mô hình Quỹ bảo lãnh tín dụng Trung ương và một số chi nhánh phân theo vùng lãnh thổ gắn liền với khu vực tập trung các DNVVN.

Quỹ bảo lãnh tín dụng đối với DNVVN Việt Nam nên là tổ chức trung gian giữa Nhà nước và doanh nghiệp, là một định chế tài chính phi lợi nhuận nằm trong hệ thống ngân hàng và chịu giám sát của NHNN Việt Nam.

Đối tượng phục vụ của quỹ bảo lãnh tín dụng: Đó là các DNVVN hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại, xây dựng, giao thông vận tải, khai thác… Những doanh nghiệp này có dự án khả thi, có đủ điều kiện để vay vốn các Ngân hàng thương mại nhưng chưa có đủ giá trị tài sản thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của người thứ ba theo yêu cầu của các ngân hàng thương mại. Quỹ bảo lãnh tín dụng bảo lãnh cho các doanh nghiệp mới thành lập cũng như các doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh. Quỹ sử dụng nguồn vốn của mình để bảo lãnh cho các món vay ngắn hạn, trung và dài hạn.

  • Nguyên tắc và mức bảo lãnh:

Quỹ chỉ cấp bảo lãnh cho DNVVN có dự án khả thi đã được tổ chức tín dụng thẩm định là có hiệu quả nhưng chủ đầu tư không đủ tài sản thế chấp.

Việc cấp bảo lãnh thực hiện theo cơ chế cộng đồng trách nhiệm và phân chia rủi ro.

Điều kiện được nhận bảo lãnh: DNVVN thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam, có dự án kinh doanh khả thi, tình hình tài chính lành mạnh, không có nợ đọng về thuế, không có nợ quá hạn tại các tổ chức tín dụng và các tổ chức kinh tế khác.

  • Năm là: Xây dựng các trung tâm tư vấn hỗ trợ DNVVN

Một trong những hạn chế của DNVVN là đội ngũ quản lý còn yếu kém, doanh nghiệp thiếu thông tin và khả năng tiếp cận thị trường. Vì vậy, việc thành lập các trung tâm tư vấn hỗ trợ DNVVN là hết sức cần thiết, đóng vai trò quan trọng nhằm trợ giúp DNVVN trong các lĩnh vực sau đây: Khóa luận: Giải pháp tín dụng nhằm phát triển DNVVN tại SHB.

Đào tạo nâng cao trình độ cán bộ quản lý điều hành và tay nghề người lao động: Ngoài việc tổ chức mạng lưới các cơ sở dạy nghề trong phạm vi cả nước, một việc hết sức quan trọng là tổ chức đào tạo kiến thức kinh doanh phù hợp với nền kinh tế thị trường cho đôị ngũ quản lý DNVVN. Đối với chủ DNVVN họ có nhiều kinh nghiệm sản xuất, thành đạt trong kinh doanh nhưng chưa có dịp tiếp xúc một cách có hệ thống các kiến thức mới về quản lý tài chính, về pháp luật vì vậy cần tổ chức các lớp đào tạo theo các chủ đề dành cho chủ doanh nghiệp, tổ chức các buổi giao lưu, toạ đàm cho các doanh nhân trẻ.

  • Hướng dẫn xây dựng dự án, phương án kinh doanh khả thi.

Việc xây dựng phương án sản xuất kinh doanh đóng vai trò rất quan trọng cho DNVVN, giúp các doanh nghiệp biến một ý tưởng mới thành hoạt động kinh doanh thành công về phương diện tài chính. Nhưng việc tự mình lập phương án sản xuất kinh doanh để đệ trình với các cơ quan hữu quan là một điều hết sức khó khăn mà nhiều DNVVN, nhất là doanh nghiệp ngoài quốc doanh là không thể tự làm được. Vì vậy rất cần phải có hoạt động tư vấn về lĩnh vực này. Có như vậy các ngân hàng mới biết được mục đích sử dụng, khả năng sinh lời của dự án, từ đó mới có thể xem xét thẩm định trước khi đầu tư vốn cho doanh nghiệp.

  • Cung cấp thông tin thị trường, khoa học công nghệ, giới thiệu sản phẩm của doanh nghiệp ra nước ngoài

3.4.2. Về phía SHB Hải Phòng

Ban hành, hoàn thiện đồng bộ hoá các văn bản về hoạt động kinh doanh tín dụng của các chi nhánh trong hệ thống, tạo điều kiện thuận lợi cho các chi nhánh mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng đối với khách hàng cũng như đối với DNVVN. Có những chính sách hỗ trợ tài chính và xử lý nợ đọng, nợ khó đòi của các DNVVN. Xây dựng chính sách tín dụng phù hợp với từng loại hình doanh nghiệp Việt Nam. Tăng cường vai trò tư vấn đối với doanh nghiệp.

Thu hút các dự án, chương trình của quốc tế, trong nước, hỗ trợ cho SHB Hải Phòng trong viêc đào tạo cán bộ quản lý, nâng cao trình độ quản lý điều hành hoạt động ngân hàng theo tiêu chuẩn quốc tế. Đào tạo nâng cao trình độ nghiệp vụ, thẩm định, đánh giá dự án, phân tích và đánh giá rủi ro cho cán bộ tín dụng, quán triệt tư tưởng coi doanh nghiệp đến vay vốn là sự nhờ cậy để từ đó ban phát, bố thí cho doanh nghiệp. Việc tuyển chọn cán bộ cần được tiêu chuẩn hoá và theo xu hướng trẻ hoá. Cần bố trí công việc cho cán bộ theo đúng chuyên môn đào tạo và sở trường, trang bị công nghệ ngân hàng hiện đại nâng cao tính cạnh tranh.

Thành lập riêng một quỹ cho vay DNVVN và phân bổ cho các chi nhánh để các doanh nghiệp này dễ dàng tiếp cận được các nguồn vốn tín dụng. Khóa luận: Giải pháp tín dụng nhằm phát triển DNVVN tại SHB.

3.4.3. Kiến nghị đối với các DNVVN

Bên cạnh những giải pháp, cơ chế hỗ trợ từ phía ngân hàng cho doanh nghiệp một cách tích cực thì điều quan trọng, chủ yếu là những nỗ lực từ bản thân doanh nghiệp. Một thực tế hết sức bất cập đó là doanh nghiệp thì thiếu vốn trong khi đó ngân hàng đang thừa vốn không cho vay được, không phải là ngân hàng không muốn cho các doanh nghiệp vay mà ngân hàng e ngại doanh nghiệp không có khả năng trả nợ. Vì thế để khai thông rào cản gây ách tắc quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với doanh nghiệp thì các ngân hàng phải chú ý giải quyết các vấn đề sau:

  • Thứ nhất: DNVVN phải có giải pháp tạo vốn tự có

Hiện nay, cơ cấu vốn của nhiều doanh nghiệp chưa hợp lý, tỷ trọng nguồn vốn đi vay từ bên ngoài, từ ngân hàng trong tổng nguồn vốn kinh doanh của các doanh nghiệp, kể cả Nhà nước và ngoài quốc doanh nói chung còn cao. Điều đó dẫn đến: Doanh nghiệp bị quá phụ thuộc vào nguồn vốn ngân hàng, vay được vốn ngân hàng thì hoạt động được, không vay được vốn ngân hàng thì không hoặc khó hoạt động. Doanh nghiệp có thể huy động, tạo lập nguồn vốn khác nguồn vốn ngân hàng như vốn tự có của chủ doanh nghiệp; vốn cổ phần, vốn liên doanh liên kết; vốn huy động từ nội bộ, vốn tự huy động qua phát hành trái phiếu… Như vậy doanh nghiệp sẽ chủ động trong hoạt động và tự chịu trách nhiệm trước các rủi ro trong hoạt động kinh doanh của mình. Nguồn vốn tự có sẽ là cơ sở bảo lãnh cho doanh nghiệp khi vay nên khả năng tiếp cận vốn tín dụng sẽ dễ dàng hơn.

  • Thứ hai: Các doanh nghiệp phải xây dựng được phương án kinh doanh có hiệu quả, có tính khả thi.

Phương án khả thi là yếu tố quyết định đến việc cho vay vốn của ngân hàng. Vì vậy doanh nghiệp cần phải thực sự đưa được phương án có hiệu quả, có tính thuyết phục. Muốn vậy doanh nghiệp cần nâng cao khả năng lập dự án vì nhiều doanh nghiệp có cơ hội tốt, có ý tưởng nhưng không lập được dự án. Doanh nghiệp cũng cần chủ động nghiên cứu thị trường, môi trường kinh doanh, những rủi ro có thể xảy ra tạo điều kiện cho hoạt động sử dụng vốn vay ngân hàng được an toàn, hiệu quả.

  • Thứ ba: Đổi mới thiết bị công nghệ.

Do hạn chế về quy mô và nguồn tài chính nên đối với DNVVN vấn đề trước mắt chưa phải là công nghệ hiện đại mà phải chọn công nghệ phù hợp, công nghệ đa dụng xuất phát từ nhu cầu thị trường về sản phẩm để lựa chọn công nghệ. Các doanh nghiệp cần có chương trình đổi mới công nghệ để tăng năng suất lao động, tiết kiệm chi phí, nâng cao chất lượng sản phẩm. Bên cạnh việc cải tiến kỹ thuật công nghệ cần phải đào tạo, nâng cao tay nghề của người lao động để theo kịp sự hiện đại của máy móc, nâng cao hiệu quả sử dụng máy, hạn chế hiện tượng lãng phí nguồn lực.

  • Thứ tư: Coi trọng phát triển nguồn nhân lực Khóa luận: Giải pháp tín dụng nhằm phát triển DNVVN tại SHB.

Như đã đưa ra ở chương I, nguồn nhân lực của DNVVN kể cả lao động và chủ doanh nghiệp phần lớn là chưa được đào tạo một cách cơ bản, họ còn bị hạn chế về chuyên môn, kỹ thuật và quản lý. Về lâu dài, cần trên cơ sở chiến lược phát triển, cơ cấu ngành nghề mà xây dựng chính sách đào tạo nhân lực.

Bên cạnh đó, một vấn đề rất quan trọng và cấp bách đối với DNVVN là vấn đề hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới. Đó sẽ là cơ hội vừa là thách thức đối với các DNVVN. Vì vậy các DNVVN cần tranh thủ sự giúp đỡ của các cơ quan chức năng để nắm bắt thông tin, nâng cao hiểu biết về luật lệ thương mại quốc tế, khai thác thị trường phù hợp. Cuối cùng là doanh nghiệp phải tự đánh giá nâng cao sức cạnh tranh của chính mình, lo cho mình trước khi nhờ sự giúp đỡ của người khác, tránh ỷ lại vào sự bảo hộ của Nhà nước.

Kết luận

DNVVN có vai trò quan trọng và chiếm ưu thế trong nền kinh tế thị trường của Việt Nam hiện nay. Vì thế việc phát triển tín dụng ngân hàng cho các doanh nghiệp này là chiến lược cho các ngân hàng thương mại nói chung và của SHB Hải Phòng nói riêng. Thấy được điều này SHB Hải Phòng đã có nhiều chú ý đến các doanh nghiệp này. Tuy nhiên trong thực tế mối quan hệ của SHB Hải Phòng với các DNVVN còn nhiều bất cập, nhiều khi chưa tìm được tiếng nói chung. Vì thế việc tìm ra các giải pháp tín dụng ngân hàng nhằm nâng cao chất lượng tín dụng đối với các DNVVN tại SHB Hải Phòng là một vấn đề vô cùng cần thiết. Với mong muốn đưa ra một số giải pháp để giải quyết vấn đề nêu trên luận văn đã hoàn thành nội dung cơ bản sau:

Đưa ra một quan điểm chung về chất lượng tín dụng ngân hàng, phân tích các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng để lấy đó làm tham chiếu phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng tín dụng tại SHB Hải Phòng.

Phân tích thực trạng hoạt động tín dụng và tình hình chất lượng tín dụng tại SHB Hải Phòng qua ba năm 2023, 2024 và 2025. Thấy được những mặt tích cực cần tiếp tục phát huy đồng thời nhìn nhận một cách khách quan những điểm hạn chế và nguyên nhân của chúng để đưa ra giải pháp khắc phục.

Nêu lên một số giải pháp và kiến nghị nhằm nang cao chất lượng tín dụng tại SHB Hải Phòng trong thời gian. Đặc biệt , luận văn đã chỉ ra được sự cần thiết trong việc hoàn thiện hệ thống xếp hạn tín dụng tại SHB Hải Phòng trong khâu thẩm định, nhằm có thể có quyết định chính xác nhất khi cho vay hay không với khách hàng.

Tuy nhiên việc phát triển DNVVN hiệu quả đầu tư tín dụng cho DNVVN là một vấn đề lớn, cần có hệ thống các giải pháp và các điều kiện thực hiện đồng bộ. Do đó trong bản luận văn này, em chỉ mong muốn đóng góp nhỏ trong tổng thể các giải pháp phát triển nhằm nâng cao chất lượng tín dụng đối với các DNVVN. Để giải pháp được thực thi và phát huy tác dụng thì cần có sự nỗ lực từ bản thân các DNVVN, có sự quan tâm phối hợp hỗ trợ của Chính phủ và các NHTM cũng như các cấp, các ngành có liên quan.

Do hiểu biết bản thân và thời gian nghiên cứu có hạn nên bản khoá luận không thể tránh khỏi một số khiếm khuyết, em rất mong nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo cũng như bạn đọc quan tâm đến đề tài để bản khoá luận của em được hoàn thiện hơn. Khóa luận: Giải pháp tín dụng nhằm phát triển DNVVN tại SHB.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Khóa luận: Chất lượng tín dụng đối với DNVVN tại Ngân hàng SHB

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x