Khóa luận: Thực trạng tín dụng ngân hàng đối với DNVVN tại SHB

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng tín dụng ngân hàng đối với DNVVN tại SHB hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng hoạt động tín dụng ngân hàng đối với DNVVN tại SHB chi nhánh Hải Phòng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

2.1 Quá trình hình thành và phát triển của Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội

2.1.1 Giới thiệu chung về NH TMCP Sài Gòn-Hà Nội

  • Tên đầy đủ: Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội.
  • Tên giao dịch quốc tế: SAIGON- HANOI COMMERCIAL JOINT STOCK BANK
  • Trụ sở chính: 77 Trần Hưng Đạo – Hoàn Kiếm – Hà Nội.

Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà nội (SHB) tiền thân là Ngân hàng TMCP Nông thôn Nhơn Ái, hoạt động theo giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 5703000085 do Sở kế hoạch và đầu tư TP Cần Thơ cấp ngày 10/12/1993 và giấy phép số 0041/NN/GP do NHNN Việt Nam cấp ngày 13/11/1993. SHB chính thức đi vào hoạt động từ ngày 12/12/1993.

Giai đoạn đầu với vốn điều lệ 400 triệu đồng; Mạng lưới ngân hàng chỉ có trụ sở chính đặt tại số 341- Ấp Nhơn Lộc 2 – Thị tứ Phong Điền – Huyện Châu Thành – Tỉnh Cần Thơ nay là Huyện Phong Điền Thành phố Cần Thơ; Tổng số cán bộ nhân viên là 8 người; địa bàn hoạt động chỉ vài xã thuộc huyện Châu Thành; Đối tượng khách hàng là các hộ nông dân với mục đích vay vốn phục vụ sản xuất nông nghiệp nông thôn. Đến nay, sau 18 năm hoạt động, vốn điều lệ của SHB đạt 5000 tỷ đồng; mạng lưới hoạt động kinh doanh đã có mặt tại các địa bàn thành phố chính như: TP Hồ Chí Minh, TP Hà Nội, TP Đà Nẵng, TP Cần Thơ, Hải Phòng, Quảng Ninh, Vinh, Huế, Nha Trang, Vũng Tàu, Lạng Sơn, Lào Cai, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Bắc Ninh, Chu Lai, Quy Nhơn, Bình Dương, Đồng Nai…; Đối tượng khách hàng của SHB đa dạng gồm nhiều thành phần kinh tế, hoạt động trong nhiều ngành nghề kinh doanh khác nhau. Với nhiều sản phẩm tiện ích, phù hợp, SHB đang ngày càng phát triển. Thể hiện kết quả kinh doanh của năm sau luôn cao hơn năm trước, các chỉ tiêu tài chính đều đạt và vượt kết hoạch đề ra, tạo tiền đề thuận lợi để ngân hàng phát triển bền vững.

2.1.2 Giới thiệu về NH TMCP Sài Gòn-Hà Nội chi nhánh Hải Phòng.

Ngày 15 tháng 12 năm 2022, Ngân hàng TMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB) chính thức khai chương chi nhánh Hải Phòng (SHB Hải Phòng) tại Toà nhà DG số 15 Trần Phú, Ngô Quyền, Hải Phòng.

SHB Hải Phòng là chi nhánh cấp I trực thuộc Hội sở chính SHB và được thực hiện các nghiệp vụ: Huy động vốn của khách hàng dưới mọi hình thức; Cấp tín dụng theo các kỳ hạn ngắn, trung và dài hạn cho các nhóm khách; Các dịch vụ ngân hàng điện tử (SMS Banking, Internet Banking, Ezpay, Etransfer…), thẻ thanh toán Solid; Dịch vụ thanh toán trong nước và quốc tế; Thu đổi ngoại tệ; Dịch vụ chuyển tiền Kiều hối (Western Union); Dịch vụ ngân quỹ; Dịch vụ chi trả lương qua tài khoản cho các doanh nghiệp…; Thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng khác.

2.1.3 Chức năng, và mạng lưới hoạt động của ngân hàng SHB Hải Phòng Khóa luận: Thực trạng tín dụng ngân hàng đối với DNVVN tại SHB.

2.1.3.1 Chức năng hoạt động của Ngân hàng SHB Hải Phòng

Chức năng và nhiệm vụ của Chi nhánh được nêu trong qui chế tổ chức và hoạt động của Ngân hàng TMCP SHB – Chi nhánh Hải Phòng ban kèm theo qui chế hoạt động chung cuả các tổ chức tín dụng. Bao gồm:

Chi nhánh có nhiệm vụ triển khai các mặt nghiệp vụ theo quy định tại điều lệ Ngân hàng TMCP SHB và các văn bản pháp quy do Ngân hàng SHB hướng dẫn. Khai thác và huy động các nguồn vốn để cho vay ngắn hạn, trong hạn và dài hạn theo quy định cuả luật các tổ chức tín dụng về quy chế cho vay đối với khách hàng trong từng thời kỳ, thực hiện các dịch vụ ngân hàng như tổ chức kinh doanh tiền tệ, thanh toán đối nội, đối ngoại, bảo lãnh ….cho mọi đối tượng phù hợp với quy định của Pháp luật.

Ngân hàng TMCP SHB – Chi nhánh Hải PHòng là đại diện theo uỷ quyền cuả Ngân hàng SHB; chịu sự ràng buộc về nghĩa vụ và quyền lợi đối với Ngân hàng SHB. Ngân hàng SHB chịu trách nhiệm cuối cùng về nghĩa vụ tài sản phát sinh do sự cam kết của Chi nhánh.

2.1.3.2 Cơ cấu tổ chức của SHB Hải Phòng

Về chức năng hoạt động của các phòng ban:

  • Hiện nay chi nhánh SHB Hải Phòng được tổ chức:

Ban giám đốc: Thực hiện các chức năng của Ngân hàng SHB trong việc điều hành các hoạt động kinh doanh của Chi nhánh theo đúng pháp luật nhà nước và các điều lệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng như Ngân hàng SHB. Ban giám đốc gồm 01 giám đốc và 01 phó giám đốc. Khóa luận: Thực trạng tín dụng ngân hàng đối với DNVVN tại SHB.

Giám đốc: là người quyết định mọi hoạt động của Ngân hàng, đồng thời chịu trách nhiệm trước Ngân hàng SHB và pháp luật nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về mọi quyết định của mình.

Phó giám đốc: giúp việc cho giám đốc, trực tiếp quản lý điều hành mọi hoạt động của Chi nhánh. Ngoài ra , phó giám đốc chịu trách nhiệm phụ trách các phòng kế toán, phòng tín dụng , phòng hành chính, phòng ngân quỹ và các phòng giao dịch trực thuộc.

Phòng kế toán: thực hiện công tác hạch toán, ghi chép phản ánh đầy đủ mọi hoạt động và nghiệp vụ kinh tế phát sinh vào sổ sách kế toán, thực hiện báo cáo thống kê kịp thời đầy đủ …

Phòng tín dụng:

  • Thực hiện công tác quản lý vốn theo quy chế của Ngân hàng SHB
  • Kinh doanh tín dụng : sử dụng nguồn vốn an toàn, hiệu quả, cho vay đối với mọi thành phần kinh tế theo đúng pháp luật, đúng nguyên tắc của ngành quy định : thực hiện công tác tín dụng và thông tin tín dụng.
  • Lập các báo cáo về công tác tín dụng, báo cáo sơ kết, tổng kết tình hình hoạt động kinh doanh.
  • Ngoài ra , phòng tín dụng còn thực hiện một số công việc do ban giám đốc giao.

Phòng ngân quỹ :

  • Quản lý và sử dụng các quỹ chuyên môn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước, Ngân hàng TMCP SHB.
  • Thực hiện các khoản nộp ngân sách Nhà nước theo luật định. Chấp hành quy định về an toàn kho quỹ, định mức tồn quỹ theo luật định. Chấp hành các dự trữ bắt buộc theo quy định của Nhà nước.
  • Phối hợp với phòng hành chính đề xuất các biện pháp quản lý tài sản, chỉ tiêu tài chính, chế độ của cán bộ viên chức về BHXH, thai sản, ốm đau và các chế độ khác theo quy định của Ngành ….

Phòng hành chính:

  • Thực hiện lưu trữ hồ sơ có liên quan của Chi nhánh .
  • Thực hiện công tác quy hoạch cán bộ, đề xuất cử cán bộ viên chức đi công tác học tập trong và ngoài nước .
  • Thực hiện trả lương, nâng lương, chính sách, chế độ liên quan đến người lao động theo bộ luật Lao Động, các văn bản hướng dẫn của Nhà nước, của ngành Ngân hàng và của Ngân hàng SHB.
  • Trực tiếp quản lý hồ sơ của cán bộ Chi nhánh.
  • Tổng hợp theo dõi, đề xuất khen thưởng cho tập thể, cá nhân theo đúng quy định . Tổng hợp và xây dựng chương trình công tác tháng, quý, năm của Chi nhánh và các phòng giao dịch trực thuộc.
  • Trực tiếp quản lý con dấu của Chi nhánh, thực hiện công tác hành chính , văn thư
  • Thực hiện một số nhiệm vụ khác do ban giám đốc giao …

Các phòng giao dịch triển khai và thực hiện một số nghiệp vụ theo quy định trong điều lệ của Ngân hàng SHB, các văn bản hướng dẫn của Ngân hàng SHB và Chi nhánh Hải Phòng. Với mô hình tổ chức gọn nhẹ như trên đảm bảo cho các phòng ban trong Chi nhánh phát huy hết năng lực của mỗi cá nhân trong mỗi vị trí công tác của mình và mỗi người luôn luôn có trách nhiệm với công việc do mình đảm trách đồng thời giúp cho lãnh đạo Chi nhánh luôn kiểm soát chỉ đạo mọi hoạt động kinh doanh của đơn vị đúng pháp luật.

2.2 Tình hình kinh doanh của SHB Hải Phòng thời gian qua Khóa luận: Thực trạng tín dụng ngân hàng đối với DNVVN tại SHB.

2.2.1 Tình hình nguồn vốn bình quân

  • Bảng 2.1: Tình hình nguồn vốn của SHB giai đoạn 2023 – 2025

Năm 2023 là giai đoạn vô cùng khó khăn của nền kinh tế thế giới nói chung và nền kinh tế Việt Nam nói riêng, chính vì vậy, sang năm 2024 khi nền kinh tế có xu hướng ổn định trở lại cũng là lúc các hoạt động kinh doanh của Ngân hàng tăng trưởng trở lại (tốc độ tăng trưởng tăng 76,15%). Năm 2025 khi nền kinh tế đã đi vào ổn định thì hoạt động của ngân hàng cũng được tăng trưởng ổn định và có lãi (tốc độ tăng trưởng đạt 36,51%). Cụ thể :

Phân theo kì hạn : Tỉ trọng huy động tiền gửi có kì hạn chiếm tỉ trọng rất cao (71,92%) trong tổng cơ cấu nguồn vốn. Tuy nhiên chủ yếu khách hàng vẫn gửi tiết kiệm có kì hạn ngắn hạn, tỉ trọng trung và dài hạn vẫn chưa cao. Chi tiết, năm 2023 tổng mức huy động tiền gửi có kì hạn đạt 1.040.205 triệu, năm 2024 đạt 2.135.418 triệu và đến năm 2025 đạt 3.042.72 triệu (bình quân tăng 73,89%). Tuy nhiên lượng tiền gửi có kì hạn tăng đột biến vào năm 2024 (105,28%) cho thấy sau khủng hoảng, khách hàng đã dần có niềm tin trở lại với nền kinh tế, hệ thống ngân hàng nói chung và hệ thống SHB nói riêng, đặc biệt với chi nhánh SHB Hải Phòng.

Tiền gửi không kì hạn tăng không đáng kể ( năm 2024 đạt 1,91%, năm 2025 đạt 5,91%) cho thấy việc khách hàng sử dụng tiền vào các dịch vụ thanh toán và các dịch vụ khác của ngân hàng còn chưa cao.

Phân loại theo cơ cấu : Theo bảng trên ta thấy, không có sự thay đổi rõ nét trong cơ cấu vốn huy động giai đoạn 2023 – 2025. Huy động vốn từ cá nhân, tổ chức kinh doanh vẫn chiếm tỉ trọng lớn ( 98%) trong tổng cơ cấu huy động cho thấy ngân hàng đã tự chủ và phát huy được khả năng huy động vốn của mình, các sản phẩm phù hợp với nhu cấu và thị hiếu khách hàng, hạn chế đi vay nóng, vay trên thị trường liên ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác, làm giảm chi phí huy động, tăng lợi nhuận cho ngân hàng.

Qua bảng phân tích trên ta thấy, tuy nền kinh tế có những biến động ảnh hưởng đến hoạt động của nền kinh tế cũng như của các ngân hàng nhưng tình hình huy động vốn của SHB vẫn luôn tăng trưởng qua các năm, năm sau cao hơn năm trước khẳng định sự nhạy bén của Ban Lãnh đạo và đội ngũ CVN đã luôn có những chính sách kịp thời, không ngừng cải thiện và nâng cao chất lượng dịch vụ, góp phần giúp SHB khẳng định vị thế và phát triển, an toàn và bền vững.

2.2.2 Tình hình sử dụng vốn Khóa luận: Thực trạng tín dụng ngân hàng đối với DNVVN tại SHB.

  • Bảng 2.2 : Cơ cấu dư nợ tín dụng năm 2023 -2025 của SHB Hải Phòng

Cho vay theo kỳ hạn: Trong cơ cấu kỳ hạn cho vay thì chủ yếu là dư nợ cho vay ngắn hạn (Chiếm 60% tổng dư nợ cho vay). Trong năm 2024 dư nợ cho vay ngắn hạn đạt 1.567.025 triệu đồng (chiếm 64,51% tổng dư nợ), cho vay trung hạn đạt 539.974 triệu đồng (chiếm 22,23% tổng dư nợ), còn lại là cho vay dài hạn. Mức chênh lệch dư nợ vay năm 2024 tăng khá mạnh so với 2023 là 89,15%. Bên cạnh đó dư nợ cho vay dài hạn năm 2025 cũng tăng lên rất cao đạt 432.911 triệu đồng, tăng 34,41 % so với năm 2024.

Cho vay theo đối tượng khách hàng: Ta thấy cho vay theo tổ chức kinh tế (TCKT), cá nhân trong nước vẫn luôn chiếm tỷ lệ cao và ngày càng phát triển. Cụ thể năm 2023 là 1.281.385 triệu đồng nhưng đến năm 2025 là tăng lên 2.896.973 triệu đồng, tăng 19,37% so với 2024. Nhưng cho vay bằng vốn tài trợ, ủy thác đầu tư có chiều hướng giảm xuống từ 2.802 triệu đồng năm 2023 xuống 1.072 triệu đồng năm 2025.

2.3 Thực trạng cho vay với DNVVN tại SHB Hải Phòng

2.3.1 Thực trạng DNVVN ở Việt Nam hiện nay

Một cuộc điều tra quy mô được Cục phát triển DN nhỏ và vừa (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) với sự tham gia của hơn 63 ngàn DN tại 30 tỉnh thành phía Bắc, nhằm nắm bắt tình hình DNVVN, các nhu cầu của DN cần trợ giúp. Cuộc điều tra cho thấy quy mô vốn của DN còn nhỏ, gần 50% số DN có mức vốn dưới 1 tỉ đồng, gần 75% số DN có mức vốn dưới 2 tỉ đồng và gần 90% số DN có mức vốn dưới 5 tỉ đồng. Khóa luận: Thực trạng tín dụng ngân hàng đối với DNVVN tại SHB.

DNVVN ở nước ta hiện nay chiếm khoảng 96% tổng số DN trên toàn quốc với gần 500.000 DN. Trong đó DNNN chiếm 3,5% còn lại chủ yếu là DN ngoài quốc doanh chiếm xấp xỉ 97%. Các DNVVN hoạt động trong lĩnh vực sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp chiếm 17%, lĩnh vực xây dựng chiếm 14%, nông nghiệp chiếm 14%, còn lại 55% số này hoạt động trong lĩnh vực dịch vụ. Phần lớn các DNVVN hiện nay hoạt động với mục tiêu hướng nội, trong một phạm vi không gian rất nhỏ nên trình độ quản lí, quản trị DN thường khá yếu kém. Kĩ năng sản xuất kinh doanh chủ yếu dựa vào kinh nghiệm bản thân hoặc gia đình. Theo số liệu thống kê, có tới 55,63% số chủ DN có trình độ học vấn từ trung cấp trở xuống, trong đó 43,3% chủ DN có trình độ học vấn từ sơ cấp và phổ thông các cấp. Cụ thể, số người tiến sĩ chỉ chiếm 0,66%, thạc sĩ 2,33%, đã tốt nghiệp đại học 37,82%, tốt nghiệp cao đẳng chiếm 3,56%, tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp chiếm 12,33% và 43,3% có trình độ thấp hơn. Vì vậy khả năng lập kế hoạch kinh doanh tổ chức và triển khai hoạt động sản xuất còn mang tính tự phát. Mỗi khi có sự thay đổi về môi trường kinh doanh, bộ phận DN này sẽ gặp nhiều khó khăn để thích ứng.

Trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế đang diễn ra gay gắt trong lĩnh vực khoa học công nghệ thì trình độ khoa học kĩ thuật của phần lớn DNVVN Việt Nam đều sử dụng công nghệ lạc hậu từ 20-50 năm so với các nước trong khu vực. Do vậy sản phẩm làm ra thị trường có giá trị công nghiệp thấp, hàm lượng chất xám ít, giá trị thương mại và sức mạnh cạnh kém so với sản phẩm cùng loại của các quốc gia trong khu vực cũng như trong thế giới. Bên cạnh đó, do hạn chế về vốn nên khả năng quảng bá, tiếp cận thị trường trong nước, quốc tế của các DNVVN còn gặp nhiều khó khăn. Phần lớn chưa xác lập được kênh bán hàng nên các sản phẩm làm ra vừa phải cạnh tranh với các DN lớn trong nước, vừa phải cạnh tranh với các hàng hóa nhập khẩu.

Phần lớn đều thiếu thông tin, đặc biệt là thông tin kinh doanh. Những nguồn thông tin về thị trường đầu vào như thị trường vốn, thị trường lao động, thị trường nguyên vật liệu.. Bên cạnh đó, những thông tin về môi trường kinh doanh như hệ thống pháp luật, các văn bản liên quan đến DNVVN, thị trường tiêu thụ sản phẩm cũng chưa được cập nhật. Bên cạnh đó, chỉ tiêu về sử dụng công nghệ thông tin cũng cho thấy, tuy số DN có sử dụng máy vi tính lên đến hơn 60% nhưng chỉ có 11,55% DN có sử dụng mạng nội bộ – LAN là rất thấp (chỉ 2,16%) Đây là một kết quả đáng lo ngại vì khả năng tham gia thương mại điện tử và khai thác thông tin qua mạng của các DN còn rất thấp, chưa tương xứng với yêu cầu của Chính phủ.

Bên cạnh những yếu kém từ phía chủ quan của cá DNVVN, còn phải kể đến những yếu tố khách quan kìm hãm sự phát triển của bộ phận DN này. Đầu tiên phải kể đến là vẫn còn sự phân biệt đối xử giữa các DN thuộc các thành phần kinh tế khác nhau. Các DNVVN chủ yếu thuộc thành phần kinh tế tư nhân. Ở nhiều nơi vẫn còn sự bất bình đẳng trong mối quan hệ về đất đai, mặt bằng sản xuất, vay vốn, hệ thống thông tin thị trường… Vấn đề vốn hiện nay được coi là bức xúc nhất. Hầu hết các DNVVN đều có nhu cầu vay vốn để đầu tư trang thiết bị, khoa học kĩ thuật nhưng đều vướng vào những hàng rào khó vượt qua về tài sản thế chấp nên rất khó tiếp cận với nguồn vốn vay. Nhằm tháo gỡ những khó khăn về vấn đề này, Bộ Tài chính đã có nhiều văn bản nhằm hỗ trợ tài chính cho các DNVVN thông qua Quỹ bảo lãnh tín dụng như trình Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định số 193/2001/QĐ-TTg về việc ban hành quy chế thành lập, tổ chức và hoạt động của quỹ bảo lãnh tín dụng; ban hành thông tư số 42/2002/TT-BTC ngày 7/5/2002 hướng dẫn một số điểm quy chế thành lập tổ chức và hoạt động của Quỹ bảo lãnh tín dụng… Tuy nhiên cho đến thời điểm hiện tại Quỹ bảo lãnh tín dụng cho các DNVVN hầu như chưa được khai triển thành lập ở các địa phương. Sở dĩ xuất hiện tình trạng này là do hầu hết các địa phương đều không huy động được nguồn vốn để đóng góp 30% vốn điều lệ hình thành Quỹ bảo lãnh tín dụng. Mặt khác, ngân hàng cũng không mặn mà với việc góp vốn vào để Quỹ bảo lãnh tín dụng cho các DNVVN do không đủ hấp dẫn về lợi ích. Do vậy, các tổ chức tín dụng này cũng ít quan tâm đến việc tham gia đóng góp để hình thành 70% Quỹ bảo lãnh tín dụng cho các DNVVN.

Về vấn đề mặt bằng sản xuất, hiện nay đại đa số các DNVVN vẫn đang tự xoay sở tìm kiếm đất đai làm mặt bằng SXKD, làm tăng chi phí đầu tư của DN. Theo báo cáo của Viện nghiên cứu quản lí kinh tế trung ương, để có mặt bằng kinh doanh, DN phải “mua lại” đất của người khác bao gồm cả tiền đền bù giải phóng mặt bằng, tự san lấp mặt bằng kinh doanh, thuê lại mặt bằng đã mua với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền…Mặt khác, diện tích đất Nhà nước có để cho thuê thương quá ít so với nhu cầu ở một số tỉnh thành phố tập trung nhiều DN. Bên cạnh đó các chương trình trợ giúp thông tin, trợ giúp đào tạo nguồn nhân lực, trợ giúp xúc tiến xuất khẩu… cho các DNVVN cũng đã được các Bộ, ngành, địa phương tổ chức triển khai nhưng nhìn chung kết quả đạt được còn rất khiêm tốn. Điều quan trọng nhất là nhận thức của các DNVVN về việc tăng cường khả năng cạnh tranh trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế còn rất hạn chế. Nếu các DN này không nhanh chóng chuyển đổi thì sẽ không bắt kịp với quá trình hội nhập, có nguy cơ tụt hậu….

2.3.2 Thực trạng cho vay với DNVVN tại SHB Hải Phòng Khóa luận: Thực trạng tín dụng ngân hàng đối với DNVVN tại SHB.

2.3.2.1 Chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng

Trong 3 năm qua (2023-2025) tỉ lệ tăng trưởng trung bình tín dụng của ngân hàng là 19,24% mỗi năm. Trong khi đó, tỉ lệ tăng trưởng trung bình của hoạt động tín dụng với DNVVN là 34,25% mỗi năm. Như vậy tỉ lệ tăng trưởng hoạt động tín dụng với DNVVN gấp khoảng 1,78 lần so với tỉ lệ tăng trưởng tín dụng chung. Điều này cho thấy tiềm năng của khách hàng là DNVVN , ngân hàng đã chú ý đến vấn đề này.

Năm 2025 là một năm SHB Hải Phòng có bước tiến đáng kể đối với việc cho vay DNVVN. Dư nợ cho vay năm 2025 là 898.215 tỉ đồng chiếm 30,99% tổng dư nợ và gấp 1,65 lần so với năm 2024. Dư nợ cho vay với DNVVN năm 2024 chiếm 24,29% tổng dư nợ, và năm 2023 chiếm 18,39%. Như vậy, tỉ trọng dư nợ đối với DNVVN đang tăng lên một cách khá đáng kể và ổn định qua các năm.

Mặc dù tỉ trọng tín dụng DNVVN năm 2025 là 30,99%, nhiều hơn so với cùng kì năm 2024 là 6,7% nhưng về con số tuyệt đối thì năm 2025 đúng là một bước đột phá của SHB Hải Phòng trong việc cho vay loại hình DN này. Điều này có được là do sự đánh giá đúng đắn của ngân hàng về vai trò cũng như tiềm năng của DNVVN trong nền kinh tế. Tuy nhiên, về số lượng thì khách hàng là DNVVN mới chỉ chiếm 67,27% tổng lượng khách hàng doanh nghiệp của ngân hàng.

  • Bảng 2.4: Tăng trưởng tín dụng với DNVVN

Từ năm 2023, dư nợ cho vay DNVVN không ngừng tăng lên với DN ngoài quốc doanh và DNNN. Tuy nhiên tỉ trọng cho vay với DNNN đang giảm dần dù vẫn chiếm tỉ trọng lớn. Xu hướng cho thấy những năm tiếp theo dư nợ cho vay DN ngoài quốc doanh sẽ chiếm tỉ trọng lớn trong dư nợ cho vay DNVVN. Điều này cho thấy sự thích nghi của Ngân hàng trước những biến động của môi trường kinh doanh. Hiện nay, số lượng các DNVVN càng lớn, quy mô hoạt động ngày càng tăng, linh hoạt và hiệu quả hơn trước. Do vậy, đây cũng là đích nhắm tới của nhiều ngân hàng, nhất là các ngân hàng ngoài quốc doanh.

2.3.2.2 Chỉ tiêu nợ có đảm bảo Khóa luận: Thực trạng tín dụng ngân hàng đối với DNVVN tại SHB.

Tài sản đảm bảo là điều kiện gần như bắt buộc đối với DN khi muốn có quan hệ tín dụng với ngân hàng, đặc biệt là đối với DNVVN. Hiện nay, ngân hàng đã nới lỏng điều kiện cho vay với loại hình DN này với điều kiện DN sản xuất kinh doanh có hiệu quả và có quan hệ tín dụng tốt, lâu dài với ngân hàng. Tuy nhiên, đa số các DN được vay tín chấp ở SHB Hải Phòng hiện nay là các DNNN.

  • Bảng 2.5: Nợ có đảm bảo bằng tài sản (ĐBBTS)

Như vậy tỉ lệ tài sản đảm bảo của DNVVN tuy tăng lên khá cao trong các năm, tuy nhiên nếu tính trên tỉ lệ gia tăng TSĐB trên Tổng dư nợ có TSĐB thì năm 2024 và năm 2025 là ngang nhau ( chiếm khoảng 25% tổng dư nợ có tài sản đảm bảo). Tuy nhiên tỉ lệ dư nợ có TSĐB của DNNN và DNNQD có sự thay đổi qua các năm. Năm 2023, tỉ lệ dư nợ có TSĐB của DNNN chiếm 47,95% thì sang năm 2024 chỉ chiếm 40, 19%, sang năm 2025 thì chỉ còn chiếm 34, 56%. Ngược lại tỉ lệ dư nợ có TSĐB của DNNQD lại có xu hướng tăng dần lên qua các năm. Năm 2023, tỉ lệ dư nợ có TSĐB của DNNQD chiếm 52,04%, năm 2024 chiếm 59,24%, năm 2025 là 65,43%. Tuy các năm gần đây, SHB Hải Phòng đã có những chính sách và biện pháp nhằm nới lỏng điều kiện cho vay với các DNVVN, tuy nhiên trên thực tế khu vực kinh tế nhà nước được hưởng ưu đãi này nhiều hơn so với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh. Đây cũng là sự e ngại chung của các ngân hàng với các khu vực kinh tế DNVVN ngoài quốc doanh vì trên thực tế, DNVVN Nhà nước dù có làm ăn thua lỗ vẫn mang danh nghĩa nhà nước nên khả năng thu lại vốn tín dụng khi có rủi ro vẫn cao hơn các DNNQD. Tuy vậy, Ngân hàng nên dựa vào năng lực tài chính thực tế của DN hơn là danh nghĩa cơ quan Nhà nước của họ vì khi có rủi ro xảy ra thì khi có thể thu hồi vốn, Ngân hàng cũng đã phải chịu những khoản phí rất lớn.

2.3.2.3 Chỉ tiêu nợ xấu

  • Bảng 2.6: Nợ xấu giai đoạn 2023 – 2025

Nợ quá hạn là một chỉ tiêu quan trọng đánh giá chất lượng tín dụng của Ngân hàng. Xem xét tình hình nợ quá hạn chung của Ngân hàng và nợ quá hạn của DNVVN cho thấy mặc dù đến năm 2025 Ngân hàng mới có nợ quá hạn nhưng quy mô lại khá lớn (chiếm 2,15% tổn dư nợ tín dụng) trong đó nợ khó đòi là 8.123 triệu đồng chiếm 0,28% tổng dư nợ, và chiếm 13,07% nợ quá hạn. Năm 2025 đánh dấu nhiều biến động với cả Ngân hàng và với DNVVN nói chung. Nguyên nhân xuất phát từ việc điều tiết vĩ mô của Chính phủ. Bên cạnh đó, do các DN có vốn chủ sở hữu thấp, chủ yếu hoạt động dựa vào vốn vay Ngân hàng, trong khi đó, chính sách bán hàng và hoạt động của DN lại không có sự linh động dẫn đến không thể thu hồi vốn trả nợ Ngân hàng. Nợ quá hạn của DNVVN năm 2025 chiếm 0,85% tổng dư nợ và chiếm 39,98% tổng dư nợ quá hạn. Điều này cho thấy cho vay với DNVVN chứa đựng nhiều rủi ro. Tuy nhiên điều quan trọng của việc này là cần tìm hiểu nguyên nhân nhằm rút kinh nghiệm trong thời gian tới.

Nợ gia hạn qua các năm cũng khá cao. Năm 2024 chiếm 4,38% tổng dư nợ, năm 2025 chiếm 3,7%. Như vậy nợ gia hạn qua hai năm qua giảm cả quy mô và tỉ trọng. Đây không phải là một dấu hiệu tốt đối với chất lượng tín dụng mà ngược lại sự giảm xuống của quy mô cũng như tỉ lệ nợ gia hạn vào năm 2025 do phần lớn được gia hạn vào năm 2024 vẫn chưa trả được và Ngân hàng phải đưa chúng vào nợ quá hạn, và một phần trong số đó là nợ khó đòi. Điều này cho thấy nguy cơ rủi ro khá lớn trong nợ gia hạn của Ngân hàng. Vì vậy khi Ngân hàng gia hạn đối với các khoản vay của khách hàng thì cần phải đánh giá thận trọng khả năng trả nợ của khách hàng và dự báo những biến động của thị trường có thể tác động đến hiệu quả sử dụng của các khoản tín dụng đó. Khóa luận: Thực trạng tín dụng ngân hàng đối với DNVVN tại SHB.

2.3.2.4 Chỉ tiêu về trích lập dự phòng rủi ro tín dụng

  • Bảng 2.7: Bảng trích lập dự phòng rủi ro tín dụng

Nhìn vào bảng phân tích trên ta có thể thấy, SHB Hải Phòng luôn thực hiện trích lập dự phòng rủi ro theo quy định, với mức trích lập tăng đều qua các năm.

Năm 2023, là năm SHB Hải Phòng vừa mới đi vào hoạt động, dư nợ cho vay chưa cao cùng với đó là công tác thẩm định hiệu quả, chưa xuất hiện nợ xấu nên tổng trích lập dự phòng cụ thể cho các khoản vay là 172,71 triệu đồng, chiếm 0,09% tổng dư nợ cho vay. Sang năm 2024, cùng với sự mở rộng của dư nợ tín dụng, dự phòng cụ thể đạt 2.692,75 triệu đồng, chiếm 0,11% tổng dư nợ trong đó dự phòng cho nợ xấu (từ nhóm 3 trở lên) đạt 2.391,5 chiếm 0,98% tổng dư nợ. Đặc biệt dự phòng nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) đạt 2.206,5 triệu, chiếm 82% tổng trích lập dự phòng cho thấy tiềm ẩn rủi ro rất cao trong hoạt động cho vay của ngân hàng, khả năng mất vốn là rất lớn.

Sang năm 2025, tổng trích lập dự phòng cụ thể cho các loại nhóm nợ đạt 4.803,45 triệu, chiếm 0,16% tổng dư nợ trong đó dự phòng nợ xấu đạt 4.671,24 triệu chiếm 0,157% tổng dư nợ cho vay.

Như vậy qua phân tích bảng trích lập dự phòng rủi ro tín dụng với hoạt động cho vay, cho thấy xu hướng trích lập tăng nhanh qua các năm tương ứng với việc tăng nhóm nợ có độ an toàn không cao, có thể gây rủi ro cho ngân hàng trong tương lai. Mặt khác, tỉ lệ nợ xấu tăng nhanh, tiềm ẩn rủi ro, có thể dẫn đến tình trạng không thể thu hồi vốn của ngân hàng. Bên cạnh đó, việc trích lập dự phòng tăng, làm chi phí của ngân hàng tăng, giảm thu nhập hiện tại của ngân hàng. Do đó, ngoài việc mở rộng dư nợ tín dụng, ngân hàng cần thắt chặt các bước trong quá trình cho vay, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của khách hàng, nâng cao nhóm nợ đủ tiêu chuẩn, để giảm bớt rủi ro cho ngân hàng.

2.3.2.5 Chỉ tiêu lợi nhuận cho vay

  • Bảng 2.8: Lợi nhuận cho vay giai đoạn 2023 – 2025

Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng chiếm tỉ trọng rất lớn. Đây là một tỉ trọng cao so với các ngân hàng khác. Tuy nhiên, xu hướng hiện nay là giảm dần tỉ trọng này và tăng dần tỉ trọng lợi nhuận từ hoạt động dịch vụ. Điều này cho thấy Ngân hàng SHB Hải Phòng còn chưa bắt kịp với sự phát triển của hệ thống ngân hàng nói chung.

Lợi nhuận thu được từ hoạt động tín dụng đối với DNVVN không ngừng gia tăng về cả số tương đối và số tuyệt đối. tuy nhiên khi kết hợp với chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng thì năm 2025 dư nợ tín dụng DNVVN gấp 1,65 lần năm 2024 nhưng lợi nhuận thu được lại chỉ bằng 1,45 lần năm 2024. Điều này là do năm 2025 Ngân hàng phát sinh một lượng lớn nợ quá hạn mà chủ yếu là nợ quá hạn của DNVVN.

2.4 Đánh giá về chất lượng tín dụng của SHB Hải Phòng Khóa luận: Thực trạng tín dụng ngân hàng đối với DNVVN tại SHB.

2.4.1 Những kết quả đạt được

  • Bảng 2.9 Tổng hợp các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng

Sau 4 năm thành lập, SHB Hải Phòng không ngừng phát triển và đang dần dần khẳng định chỗ đứng của mình trong hệ thống SHB nói riêng và hệ thống ngân hàng Việt Nam nói chung. Những năm qua, Ngân hàng đã đạt được kết quả đáng khích lệ, trong đó phải kể đến hoạt động tín dụng đối với DNVVN.

Dư nợ cũng như tỉ trọng dư nợ với DNVVN đang tăng lên một cách ổn định, năm sau cao hơn năm trước (năm 2023 đạt 1.827 tỷ đồng, 2024 đạt 2.437 tỉ đồng, sang năm 2025 đạt 2.916 tỷ đồng). Có thể nói, quy mô tín dụng của ngân hàng tăng lên, chất lượng tín dụng được cải thiện. Phần lớn dư nợ có TSĐB. SHB Hải Phòng có những chuyển biến và thích nghi nhanh chóng với xu thế của hệ thống các ngân hàng khi tiến hành mở rộng dư nợ tín dụng cho đối tượng DNVVN. Hiện nay, số lượng các DNVVN không ngừng tăng lên, và đây là đích ngắm tới của các NHTM trong một môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt. SHB Hải Phòng đang mở rộng dư nợ tín dụng cũng như ngày càng linh hoạt hơn trong điều kiện về vay vốn của ngân hàng với DNVVN.

Lợi nhuận/Tổng dư nợ năm 2023 đạt 51.986 triệu đồng tương ứng với tỉ lệ 2,84%, năm 2024 đạt 80.658 triệu đồng tương ứng với tỉ lệ 3,31%, sang năm 2025 đạt 110.275 triệu đồng chiếm 3,78% tổng dư nợ. Tỉ lệ Lợi nhuận/ Tổng dư nợ tăng đều qua các năm. Thu nhập hai năm 2024 và 2025 đều tăng ( năm 2023 là 85.999 triệu, 2024 là 148.616 triệu, 2025 là 222.75 triệu), chi phí trong hai năm đó cũng tăng do Ngân hàng tích cực mở rộng phạm vi hoạt động, nâng cấp các điểm giao dịch, tăng cường thiết bị kĩ thuật, đào tạo cán bộ công nhân viên mà ngân hàng vẫn tăng được lợi nhuận cho thấy sự hiệu quả trong quá trình hoạt động của SHB Hải Phòng.

Các cán bộ tín dụng luôn bám sát tình hình hoạt động của DN để từ đó có những biện pháp đo lường và xử lí rủi ro một cách nhanh chóng và hợp lí nhất. Điều này cũng tạo thuận lợi cho DN trong quá trình hoạt động vì sự hiểu biết và kinh nghiệm của cán bộ tín dụng trong quá trình tính toán kì hạn trả nợ phù hợp với dòng tiền vào, ra của DN.

Ngoài ra, ngân hàng còn không ngừng thắt chặt mối quan hệ với các khách hàng có quan hệ tín dụng tốt với ngân hàng. Những khách hàng này được hưởng một số ưu đãi của ngân hàng như về lãi suất hay thời gian ân hạn.

Quy trình tín dụng được tiến hành một cách chặt chẽ, công tác thẩm định được thực hiện một cách thận trọng. Thêm vào đó, ngân hàng luôn chú trọng tăng cường công tác kiểm tra kiểm soát tín dụng.

Bên cạnh đó, ngân hàng đang từng bước cải thiện hiện đại hóa cơ sở vật chất, giúp cho việc theo dõi thông tin tín dụng được nhanh chóng và kịp thời. Công tác giao dịch phục vụ khách hàng có nhiều đổi mới phù hợp với yêu cầu chung hiện nay.

2.4.2 Những mặt còn tồn tại và nguyên nhân Khóa luận: Thực trạng tín dụng ngân hàng đối với DNVVN tại SHB.

Bên cạnh những kết quả đạt được thì công tác đầu tư tín dụng đối với DNVVN tại SHB Hải Phòng còn những tồn tại nhất định. Cụ thể:

Về quản lý tín dụng: Chưa có tiêu thức chuẩn mực đánh giá khách quan năng lực hoạt động kinh doanh của khách hàng. Cũng như hiệu quả của các dự án đầu tư, do đó việc quyết định cho vay chưa đảm bảo tính khách quan.

Về việc chấp hành cơ chế, quy chế: Việc chấp hành quy trình tín dụng chưa được coi trọng, nhiều khi chỉ là hình thức đối với cả khách hàng và bản thân cán bộ tín dụng. Việc đưa ra các quy định, chính sách chưa sát với thực tế, Trong quá trình thực hiện có những vấn đề phát sinh nhưng chưa được xử lý kịp, thời hiệu quả.

Về thủ tục cho vay còn quá cứng nhắc, chưa được linh hoạt nhất là các thủ tục về cầm cố thế chấp. Thời gian xét duyệt quyết định cho vay còn kéo dài làm lỡ kế hoạch, cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp đó là do tình trạng quá tải đối với cán bộ tín dụng. Một cán bộ tín dụng cần quản lý nhiều khách hàng một lúc.

Về chất lượng tín dụng: Trong những năm gần đây, tỷ trọng nợ xấu của DNVVN còn khá cao đó là do hậu quả của việc cấp tín dụng không đảm bảo. Tổng dư nợ xấu (từ nhóm 3 trở lên) năm 2023 là 15.819 triệu chiếm 0,87%, sang năm 2024 là 34.093 triệu chiếm 1,4%, năm 2025 là 62.258 triệu chiếm 2,13%. Như vậy, cùng với sự gia tăng dư nợ tín dụng thì tỉ lệ nợ có xấu cũng gia tăng. Sang năm 2026, cùng với tăng trưởng tín dụng, ngân hàng cần có những biện pháp phòng ngừa và hạn chế nợ có vấn đề đề tăng lợi nhuận và đảm bảo an toàn trong kinh doanh ngân hàng, tăng hiệu quả sử dụng vốn.

Về khả năng mở rộng khách hàng: Trong thời gian qua SHB Hải Phòng đã thực sự quan tâm đến việc phát triển tín dụng đối với DNVVN, coi đây là khách hàng tiềm năng, là mục tiêu chiến lược của ngân hàng. Nhưng ngược lại chính bản thân các doanh nghiệp lại tạo ra những khó khăn cho ngân hàng mở rộng hoạt động tín dụng này. Cơ cấu vốn không hợp lý, tỷ lệ vốn vay chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn vốn. Các doanh nghiệp vốn ít lại sử dụng vốn không hiệu quả, lợi nhuận thấp hoặc không có lãi, thậm chí lỗ. Khóa luận: Thực trạng tín dụng ngân hàng đối với DNVVN tại SHB.

Về tài sản đảm bảo: Cho vay đối với DNVVN vẫn phát sinh nợ quá hạn và tài sản đảm bảo khó có thể trở thành nguồn thu nợ thứ hai do tài sản có tính lỏng không cao. Với nợ khó đòi phát sinh ở các DNVVN nếu không có tài sản đảm bảo thì không có khả năng thu hồi.

Về năng lực phẩm chất cán bộ tín dụng: Hầu hết cán bộ tín dụng đều còn rất trẻ nên thiếu kinh nghiệm trong việc cấp tín dụng, chưa bám sát tình hình thực tế, còn có sự e ngại khi quan hệ tín dụng với DNVVN. Một số cán bộ làm việc lâu năm, có kinh nghiệm nhưng thiếu biết về kinh tế thị trường, về khoa học kỹ thuật còn hạn chế. Có nhiều dự án có nội dung kinh tế kỹ thuật phức tạp, cán bộ tín dụng không đủ hiểu biết về các lĩnh vực chuyên môn đó để xác định hiệu quả kinh tế kỹ thuật của dự án. Cán bộ tín dụng tính toán các chỉ tiêu này chủ yếu dựa vào số liệu do doanh nghiệp cung cấp nên thiếu tính khoa học, tính chính xác.

Mặt khác trong quá trình cho vay, nhiều cán bộ tín dụng thiếu khả năng phán đoán và có cách nhìn toàn diện về hiệu quả thực tế, toàn diện của phương án vay vốn của doanh nghiệp nêu ra, nên chỉ xoay quanh các tài sản mang tính vật chất đảm bảo trực diện. Các nguyên nhân cơ bản của những tồn tại trên đây là:

  • Nguyên nhân khách quan

Sản xuất kinh doanh trong nước phải cạnh tranh gay gắt với hàng nhập ngoại, đặc biệt là hàng nhập lậu, trốn thuế.

Chính sách và cơ chế quản lý vĩ mô của Nhà nước đã và đang trong quá trình đổi mới và hoàn thiện. Do vậy, các DNVVN chuyển hướng và điều chỉnh phương án kinh doanh không theo kịp sự thay đổi của cơ chế chính sách vĩ mô nên kinh doanh thua lỗ hoặc không đủ điều kiện để được tiếp tục vay vốn ngân hàng.

Môi trường pháp lý cho hoạt động tín dụng chưa đầy đủ

Các cơ quan chịu trách nhiệm cấp chứng thư sở hữu tài sản và quản lý đối với thị trường bất động sản chưa thực hiện kịp thời cấp giấy tờ sở hữu cho các chủ đang sở hữu hoặc đang sử dụng tài sản. Do đó, việc thế chấp và xử lý tài sản thế chấp vay vốn ngân hàng gặp nhiều khó khăn, phức tạp, nhiều khi bị ách tắc về giấy tờ không hợp lệ, hợp pháp đối với cả người vay và người cho vay.

Việc thực hiện pháp lệnh, kế toán thống kê chưa nghiêm túc đa số các số liệu quyết toán và báo cáo tài chính của DNVVN chưa thực hiện chế độ kiểm toán bắt buộc. Số liệu phản ánh chưa chính xác, trung thực tình hình sản xuất kinh doanh và tài chính của doanh nghiệp, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp ngoài quốc doanh.

Hiệu lực của các cơ quan hành pháp chưa đáp ứng được yêu cầu về giải quyết tranh chấp, tố tụng về hợp đồng kinh tế, hợp đồng dân sự, phát mại tài sản cầm cố, thế chấp… chưa bảo vệ chính đáng quyền lợi của người cho vay. Thông thường khi điều tra, xét xử hành vi gây thất thoát vốn, các cơ quan pháp luật hay tìm cách khép tội cho cán bộ tín dụng nên cán bộ tín dụng có tâm lý e ngại, rụt rè co cụm khi quyết định cho vay. Khóa luận: Thực trạng tín dụng ngân hàng đối với DNVVN tại SHB.

  • Nguyên nhân từ phía ngân hàng

Điều kiện vay vốn của SHB Hải Phòng còn quá chặt chẽ, tất cả các khoản vay đều phải có tài sản đảm bảo, nhiều DNVVN không đủ tài sản cầm cố, thế chấp đã không tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng.

Từ khi tiếp xúc khách hàng đến khi giải ngân phải trải qua nhiều thủ tục, điều kiện, giấy tờ phức tạp, tốn nhiều thời gian làm lỡ cơ hội kinh doanh, kế hoạch thực thi dự án của doanh nghiệp. Có những khách hàng phàn nàn về thời gian ra quyết định cho vay. Nếu không chấp nhận hoặc chấp nhận cũng cần giải quyết và trả lời thật thẳng thắn sớm để doanh nghiệp chủ động tìm nguồn khác cho kịp thời vụ cũng như tiến độ thực hiện phương án.

SHB Hải Phòng đã quan tâm đến DNVVN nhưng chưa thực sự trở thành chiến lược. Chưa thực sự quan tâm đến chiến lược khách hàng, đến hoạt động Marketing, nên việc thu hút kế hoạch mới gặp khó khăn, còn thụ động ngồi chờ khách hàng đến vay vốn.

Cán bộ tín dụng chưa thực sự chủ động cùng doanh nghiệp xây dựng phương án sản xuất kinh doanh khả thi, có hiệu quả và việc lập phương án mang nặng tính chất hợp lý hoá nên nhiều khi không sát thực.

  • Nguyên nhân từ phía DNVVN

Bên cạnh những nguyên nhân phát sinh từ môi trường khách quan cũng như từ phía ngân hàng, trong quan hệ tín dụng nhiều vấn đề nảy sinh từ phía các DNVVN. Cụ thể:

  • Hầu hết các DNVVN không có khả năng lập được những phương án SXKD, các dự án khả khi để tiến hành thực hiện.

Thực tế, hầu hết các DNVVN không thể tự viết được các dự án đầu tư trong dài hạn, thậm chí cả kế hoạch ngắn hạn. Đứng trước tình hình đó cán bộ tín dụng phải tư vấn cho doanh nghiệp về thủ tục, cách lập kế hoạch. Nhiều khi phải giúp đỡ họ, cùng họ tính toán, lập phương án vay vốn, trả nợ ngân hàng. Nhưng đa số còn chưa đáp ứng được yêu cầu lập kế hoạch hoặc lưu chuyển tiền mặt trong năm để ngân hàng biết khối lượng tiền chu chuyển hàng tháng, cân đối thu chi hàng tháng.

  • Không đủ vốn tự có để tham gia vào các dự án theo quy định của SHB Hải Phòng, còn quá phụ thuộc vào vốn vay ngân hàng Khóa luận: Thực trạng tín dụng ngân hàng đối với DNVVN tại SHB.

Theo quy định của SHB Hải Phòng thì vốn vay ngân hàng chỉ chiếm 30% giá trị dự án, vốn tự có của DN tham gia vào dự án là 40%. Thực tế nhiều doanh nghiệp không đủ điều kiện này mà hầu hết là vốn đi vay, còn quá phụ thuộc vào vốn vay ngân hàng, không vay được vốn ngân hàng thì không thực hiện được phương án. chưa chủ động tạo vốn tự có như cổ phần hoá, liên doanh liên kết…

  • Không đủ tài sản thế chấp

Các DNVVN đã thiếu vốn sản xuất kinh doanh thì lại không đủ tài sản thế chấp, thậm chí có những doanh nghiệp tuy không có dự án khả thi, không tìm hiểu thị trường nhưng vẫn muốn vay vốn ngân hàng trong khi lại không có tài sản đảm bảo. Hoặc có thế chấp thì hầu hết là các tài sản lạc hậu, khó xử lý, tính lỏng không cao.

Các DNVVN không có đầy đủ tài liệu báo cáo về tình hình sản xuất kinh doanh. Hầu hết các doanh nghiệp không đáp ứng được điều kiện này vì sổ sách kế toán của họ rất đơn giản, không cập nhật, thiếu chính xác. Làm cho việc đánh giá, thẩm định khách hàng gặp nhiều khó khăn.

Ở một số DNVVN năng lực quản lý tài chính, trình độ kỹ thuật yếu kém, sản xuất kinh doanh chịu nhiều áp lực cạnh tranh nên sản xuất sản phẩm không tiêu thụ được, sản xuất đình trệ không có khả năng trả nợ.

Qua việc xem xét, đánh giá thực trạng hoạt động của các DNVVN trong những năm gần đây để thấy được những khó khăn mà DNVVN đang gặp phải, đồng thời xem xét thực trạng hoạt động tín dụng của SHB Hải Phòng đối với DNVVN, nhằm hỗ trợ vốn tín dụng cho DNVVN phát triển và mở rộng hoạt động cho vay của SHB Hải Phòng, cho ta thấy được những gì đã đạt được, những gì còn tồn tại, khó khăn chưa giải quyết được, đồng thời tìm ra được những nguyên nhân chủ quan khách quan tạo nên sự cản trở việc mở rộng vốn tín dụng nhằm phát triển DNVVN của SHB Hải Phòng. Do vậy, để thực hiện tốt điều này, phục vụ khách hàng là các DNVVN được hiệu quả tốt hơn, chúng ta cùng nhau đưa ra các giải pháp nhằm tạo điều kiện cho các DNVVN tiếp cận được với nguồn vốn tín dụng của SHB Hải Phòng phát triển một cách nhanh hơn, hiệu quả hơn chuẩn bị cho việc hội nhập kinh tế khu vực và thế giới. Khóa luận: Thực trạng tín dụng ngân hàng đối với DNVVN tại SHB.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Khóa luận: Giải pháp tín dụng nhằm phát triển DNVVN tại SHB

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x