Khóa luận: Chất lượng tín dụng đối với DNVVN tại Ngân hàng SHB

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Chất lượng tín dụng đối với DNVVN tại Ngân hàng SHB hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội Chi nhánh Hải Phòng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này. 

Lời mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài.

Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) là một loại hình doanh nghiệp không những thích hợp đối với nền kinh tế của những nước công nghiệp phát triển mà còn đặc biệt thích hợp với nền kinh tế của những nước đang phát triển. ở nước ta trước đây, việc phát triển các DNVVN cũng đã được quan tâm, song chỉ từ khi có đường lối đổi mới kinh tế do Đảng cộng sản Việt Nam khởi xướng thì các doanh nghịêp này mới thực sự phát triển nhanh cả về số và chất lượng.

Trong điều kiện của những bước đi ban đầu thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, có thể khẳng định việc đẩy mạnh phát triển DNVVN là bước đi hợp quy luật đối với nước ta. DNVVN là công cụ góp phần khai thác toàn diện mọi nguồn lực kinh tế đặc biệt là những nguồn tiềm tàng sẵn có ở mỗi người, mỗi miền đất nước. Các DNVVN ngày càng khẳng định vai trò to lớn của mình trong việc giải quyết các mối quan hệ mà quốc gia nào cũng phải quan tâm chú ý đến đó là: Tăng trưởng kinh tế – giải quyết việc làm – hạn chế lạm pháp.

Nhưng để thúc đẩy phát triển DNVVN ở nước ta đòi hỏi phải giải quyết hàng loạt các khó khăn mà các doanh nghiệp này đang gặp phải liên quan đến nhiều vấn đề. Trong đó khó khăn lớn nhất, cơ bản nhất, phổ biến nhất, làm tiền đề cho các khó khăn nhất đó là thiếu vốn sản xuất và đổi mới công nghệ. Vậy doanh nghiệp này phải tìm vốn ở đâu trong điều kiện thị trường vốn ở Việt Nam chưa phát triển và bản thân các doanh nghiệp này khó đáp ứng đủ điều kiện tham gia, chúng ta cũng chưa có chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp này một các hợp lý. Vì vậy phải giải quyết khó khăn về vốn cho các DNVVN đã và đang là một vấn đề cấp bách mà Đảng, Nhà nước, bản thân các doanh nghiệp, các tổ chức tín dụng cũng phải quan tâm giải quyết.

Thực tế hiện nay cho thấy nguồn vốn tín dụng ngân hàng đầu tư cho phát triển DNVVN còn rất hạn chế vì các DNVVN khó đáp ứng đầy đủ điều kiện vay vốn ngân hàng và khi tiếp cận nguồn vốn tín dụng thì các doanh nghiệp lại sử dụng vốn chưa hợp lý và hiệu quả. Vì thế việc tìm ra giải pháp tín dụng nhằm phát triển DNVVN đang là một vấn đề bức xúc hiện nay của các NHTM. Xuất phát từ quan điểm đó và thực trạng hoạt động của các DNVVN hiện nay, sau một thời gian thực tập tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội chi nhánh Hải Phòng em đã chọn đề tài : “Nâng cao chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội Chi nhánh Hải Phòng”

2. Mục đích nghiên cứu Khóa luận: Chất lượng tín dụng đối với DNVVN tại Ngân hàng SHB.

Xem xét một cách tổng quát và có hệ thống thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của các DNVVN và việc đầu tư tín dụng của SHB chi nhánh Hải Phòng cho các doanh nghiệp này. Đồng thời đề tài cũng đưa ra một số giải pháp tín dụng nhằm góp phần phát triển DNVVN trên phạm vi hoạt động của SHB.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đề tài chọn hoạt động tín dụng cho các DNVVN tại SHB chi nhánh Hải Phòng trong ba năm ( 2023-2025) làm đối tượng nghiên cứu.

4. Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học để phân tích lý luận giải thực tiễn : Phương pháp thu thập thông tin kết hợp với phương pháp thống kê, nghiên cứu tổng hợp.

5. Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu và kết luận thì luận văn gồm ba chương:

  • Chương I : Ngân hàng thương mại và vai trò của tín dụng ngân hàng đối với sự phát triển của DNVVN trong nền kinh tế thị trường
  • Chương II : Thực trạng hoạt động tín dụng ngân hàng đối với DNVVN tại SHB chi nhánh Hải Phòng
  • Chương III : Giải pháp và kiến nghị về hoạt động tín dụng nhằm phát triển DNVVN tại SHB

Chương I : Ngân hàng thương mại và vai trò của tín dụng ngân hàng đối với sự phát triển của DNVVN trong nền kinh tế thị trường

1.1 TÍN DỤNG VÀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG

1.1.1 Khái niệm về tín dụng ngân hàng

1.1.1.1 Tín dụng

  • Tín dụng xuất phát từ chữ Latin Credutium có nghĩa là tin tưởng.

Tín dụng theo nghĩa của Việt Nam là vay mượn. Tín dụng là chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng một lượng giá trị dưới hình thức thực hiện vật hay tiền từ người sở hữu sang người sử dụng và sau đó hoàn trả lại với một lượng giá trị lớn hơn.

Nó thể hiện ở 3 nội dung: Khóa luận: Chất lượng tín dụng đối với DNVVN tại Ngân hàng SHB.

  • Sự chuyển giao quyền sử dụng một lượng giá trị từ người này sang người khác
  • Sự chuyển giao này mang tính tạm thời.
  • Khi hoàn lại lượng giá trị đã chuyển giao cho người sở hữu phải trả kèm theo một lượng giá trị dôi thêm gọi là lợi tức

1.1.1.2 Tín dụng ngân hàng:

Tín dụng ngân hàng: là hình thức tín dụng mà các chủ thể tham gia là các tổ chức tín dụng và các doanh nghiệp hoặc cá nhân . Trong quan hệ tín dụng này ngân hàng đóng vai trò trung gian là người cho vay vừa là người đi vay. Tín dụng ngân hàng được thực hiện dưới nhiều hình thức như: vay bằng tiền mặt, cho vay giá trị ghi sổ, bảo lãnh vay vốn…

1.1.1.3 Các hình thức tín dụng:

Tín dụng thương mại là quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp được biểu hiện dưới hình thức mua bán chịu hàng hóa hoặc ứng tiền trước khi nhận hàng.

Tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng thể hiện quan hệ giữa các tổ chức tín dụng với các thành viên khác trong xã hội trong đó ngân hàng đóng vai trò trung gian vừa là người đi vay vừa là người cho vay. Tín dụng ngân hàng và tín dụng thương mại có quan hệ chặt chẽ, bổ sung cho nhau.

Tín dụng nhà nước là quan hệ tín dụng giữa nhà nước và các thành viên khác trong xã hội. Trong đó, nhà nước đóng vai trò là người đi vay để sử dụng cho những mục đích nhất định. Tín dụng nhà nước thể hiện bằng cách phát hành công trái, nhằm bù đắp thiếu hụt ngân sách

Tín dụng hợp tác là lọai hình tín dụng do những thành viên trong cùng điều kiện nhất định tổ chức hình thành một cách tự nguyện. Tín dụng hợp tác thực hiện các việc huy động và cho vay giữa các thành viên với nhau theo những điều kiện tương tự tín dụng ngân hàng.

Tín dụng quốc tế là hình thức tín dụng thể hiện quan hệ giữa nhà nước, các doanh nghiệp trong nước với các quốc gia hay tổ chức tiền tệ, tín dụng quốc tế.

1.1.1.4 Các nguyên tắc cơ bản của hoạt động tín dụng:

Nguyên tắc hoàn trả: Đây là nguyên tắc cơ bản trong quan hệ tín dụng, là cơ sở để đảm bảo cho ngân hàng kinh doanh. Theo nguyên tắc này thì vốn vay phải hoàn trả cả gốc lẫn lãi đúng hạn. Trước khi cấp tiền vay, các ngân hàng phải có cơ sở để tin rằng người vay có thiện chí và khả năng trả nợ đầy đủ, đúng hạn. Nếu không hợp đồng tín dụng sẽ không được ký kết.

Nguyên tắc vốn vay có mục đích và sử dụng vốn đúng mục đích: Khách hàng vay phải cho ngân hàng thấy được mục đích và khả năng sử dụng vốn của mình có hiệu quả thông qua các phương án, dự án đầu tư nhằm bảo đảm được việc hoàn trả tiền gốc và lãi cho ngân hàng khi đến hạn. Do đó, trong suốt quá trình khách hàng sử dụng nợ vay, ngân hàng phải thường xuyên theo dõi, kiểm tra và kịp thời áp dụng các biện pháp chế tài đối với khách hàng vi phạm hợp đồng.

Nguyên tắc có đảm bảo: Trong nền kinh tế thị trường việc dự báo chính xác các sự kiện sẽ xảy ra là rất khó. Vì vậy, để giảm thiểu rủi ro trong kinh doanh, nhất là trong các hoạt động tín dụng các Ngân hàng luôn đòi hỏi điều kiện đảm bảo cho khoản vay.

  • Đảm bảo bằng tài sản

Đảm bảo không bằng tài sản mà bằng uy tín, năng lực tài chính, tính khả thi của phương án kinh doanh, kế hoạch đầu tư…

1.2. PHÂN LOẠI TÍN DỤNG NGÂN HÀNG: Khóa luận: Chất lượng tín dụng đối với DNVVN tại Ngân hàng SHB.

  • Căn cứ vào thời hạn tín dụng:

Tín dụng ngắn hạn là tín dụng có thời hạn dưới 1 năm và thường được sử dụng để cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời vốn lưu động của các doanh nghiệp và cho vay phục vụ nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân.

Tín dụng trung hạn là loại tín dụng có thời hạn từ 1-5 năm. Tín dụng trung hạn thường được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến hay đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án có quy mô nhỏ, có thời gian thu hồi vốn nhanh.

Tín dụng dài hạn là loại hình tín dụng có thời hạn từ 5 năm trở lên và thời hạn tối đa có thể lên đến 20-30 năm. Tín dụng dài hạn thường được sử dụng để đáp ứng nhu cầu dài hạn như xây nhà ở, các thiết bị, phương tiện vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới.

Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn:

  • Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hoá là loại tín dụng cung cấp cho các nhà doanh nghiệp để tiến hành sản xuất và kinh doanh.
  • Tín dụng tiêu dùng là loại tín dụng cấp phát cho cá nhân để đáp ứng nhu cầu chi tiêu. Có 2 hình thức:
  • Tín dụng tiêu dùng trực tiếp: Ngân hàng và khách hàng quan hệ trực tiếp với nhau từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc tín dụng.
  • Tín dụng tiêu dùng gián tiếp: Là loại quan hệ tín dụng thường qua trung gian là người bán hàng, bằng cách Ngân hàng mua lại các phiếu nợ.

Căn cứ vào đối tượng vay:

  • Tín dụng vốn lưu động là loại tín dụng được cung cấp nhằm để hình thành vốn lưu động của doanh nghiệp. Loại tín dụng này được thực hiện chủ yếu bằng 2 hình thức cho vay bổ sung vốn lưu động tạm thời thiếu hụt và chiết khách hành giấy tờ, chứng từ có giá.
  • Tín dụng vốn cố định là loại tín dụng cung cấp nhằm hình thành vốn cố định cho doanh nghiệp. Loại tín dụng này được thực hiện dưới hình thức cho vay trung và dài hạn.

Căn cứ vào tính chất bảo đảm: Khóa luận: Chất lượng tín dụng đối với DNVVN tại Ngân hàng SHB.

  • Cho vay có bảo đảm là loại hình cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm như thế chấp, cầm cố, bảo lãnh của bên thứ ba.
  • Nguồn bảo đảm là căn cứ pháp lý để Ngân hàng có thêm một nguồn thu nợ thứ hai, bổ sung cho nguồn thu nợ thứ nhất nêu có rủi ro xảy ra.
  • Cho vay không có bảo đảm là loại hình cho vay không có tài sản thế chấp cầm cố hay không có sự bảo lãnh của bên thứ ba, việc cho vay dựa vào uy tín của bản thân khách hàng đến vay.
  • Căn cứ theo phương thức cấp tín dụng.
  • Cho vay từng lần: là phương pháp cho vay mà mỗi lần vay vốn, khách hàng và Ngân hàng phải thực hiện thủ tục vốn cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng.
  • Cho vay theo hạn mức tín dụng: Với phương thức cho vay này Ngân hàng và khách hàng xác định và thỏa thuận một hạn mức tín dụng được duy trì trong khoảng thời gian nhất định trên tài khoản tiền vay.
  • Cho vay theo dự án đầu tư: Ngân hàng cho khách hàng vay vốn đế thực hiện các dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các sự án phục vụ đời sống.
  • Cho vay hợp vốn: Đây là phương thức Ngân hàng đứng ra cho vay đối với dự án vay của khách hàng, trong đó một Ngân hàng đứng ra làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các Ngân hàng khác.
  • Cho vay trả góp: Khi vay vốn, Ngân hàng và khách hàng xác định và thỏa thuận một số lãi suất vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay.
  • Cho vay thông qua các nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng.
  • Cho vay theo dự án thấu chi.

1.3. Những vấn đề chung về DNVVN trong nền kinh tế thị trường

1.3.1 Khái niệm và đặc điểm DNVVN

1.3.1.1 Khái niệm

  • Khái niệm chung DNVVN

DNVVN là những cơ sở sản xuất kinh doanh có tư cách pháp nhân kinh doanh vì mục đích lợi nhuận, có quy mô doanh nghiệp trong những giới hạn nhất định tính theo các tiêu thức vốn, lao động, doanh thu, giá trị gia tăng thu được trong từng thời kì theo quy định của từng quốc gia. Khóa luận: Chất lượng tín dụng đối với DNVVN tại Ngân hàng SHB.

Khái niệm DNVVN ở Việt Nam như sau: Là những cơ sở sản xuất kinh doanh có tư cách pháp nhân, không phân biệt thành phần kinh tế, có quy mô về vốn hoặc lao động thoả mãn các quy định của Chính phủ đối với từng ngành nghề tương ứng với từng thời phát triển của nền kinh tế.

1.3.1.2. Đặc điểm của DNVVN

  • DNVVN tồn tại và phát triển ở mọi thành phần kinh tế.
  • DNVVN có tính năng động và linh hoạt cao
  • DNVVN có bộ máy tổ chức sản xuất và quản lý gọn nhẹ, có hiệu quả.
  • Vốn đầu tư ban đầu thấp, khả năng thu hồi vốn nhanh
  • Cạnh tranh giữa những DNVVN là cạnh tranh hoàn hảo
  • Bên cạnh những đặc điểm thể hiện ưu điểm của DNVVN thì còn có một số điểm còn hạn chế.
  •  Vị thế trên thị trường thấp, tiềm lực tài chính nhỏ nên khả năng cạnh tranh thấp.
  • ít có khả năng huy động vốn để đầu tư đổi mới công nghệ giá trị cao.
  •  ít có điều kiện để đào tạo nhân công, đầu tư cho nghiên cứu, thiết kế cải tiến công nghệ, đổi mới sản phẩm.

 Trong nhiều trường hợp thường bị động vì phụ thuộc vào hướng phát triển của các doanh nghiệp lớn và tồn tại như một bộ phận của doanh nghiệp lớn.

1.3.2. Vị trí và vai trò của DNVVN trong nền kinh tế thị trường

1.3.2.1 Đối với Ngân hàng

  • Phát triển cho vay DNVVN giúp Ngân hàng phân tán được rủi ro

Định hướng chung về chính sách tín dụng đầu tư của các NHTM là tập trung vốn cho các đối tượng khách hàng chiến lược như các TCTD, các DN lớn… Với định hướng này, Ngân hàng có thể tiết kiệm thời gian và chi phí cho các khoản vay song lại phải đối mặt với rủi ro lớn là trong trường hợp các TCKT này làm ăn kém hiệu quả dẫn đến phá sản, vỡ nợ. Phát triển cho vay đối với DNVVN cho phép Ngân hàng phân tán được rủi ro vì các DNVVN có quy mô nhỏ, số lượng lớn, quy mô mỗi khoản vay ít nên hạn chế được rủi ro khi tập trung vào một đối tượng khách hàng.

  • Phát triển cho vay DNVVN giúp Ngân hàng tăng doanh thu và lợi nhuận

Việc phát triển cho vay DNVVN làm tăng số lượng khách hàng có quan hệ tín dụng với Ngân hàng, số dư nợ tăng lên, tạo điều kiện để Ngân hàng tăng doanh thu và lợi nhuận. Đa dạng hóa đối tượng khách hàng giúp ngân hàng phân tán được rủi ro, do đó cũng góp phần làm tăng lợi nhuận cho Ngân hàng. Đồng thời việc mở rộng quan hệ với nhiều khách hàng giúp ngân hàng có thêm các khoản thu từ việc cung cấp các khoản dịch vụ như: Dịch vụ thanh toán, dịch vụ tư vấn, dịch vụ bảo lãnh…

  • Phát triển cho vay DNVVN giúp Ngân hàng hoàn thiện hơn

Để thực hiện cho vay với DNVVN đòi hỏi Ngân hàng phải có một hệ thống thông tin tốt, các cán bộ tín dụng phải có sự hiểu biết rộng rãi, có trình độ chuyên môn nghề nghiệp cao. Một mặt để phân tích sàng lọc khách hang, mặt khác để có thể tư vấn cho DN trong hoạt động SXKD, giúp DN tháo gỡ những khó khăn để hoạt động có hiệu quả hơn. Như vậy, việc phát triển cho vay DNVVN buộc Ngân hang phải thường xuyên cải tiến hoàn thiện hơn để đáp ứng nhu cầu của khách hàng và đòi hỏi của thực tiễn khách quan. Khóa luận: Chất lượng tín dụng đối với DNVVN tại Ngân hàng SHB.

1.3.2.2 Đối với nền kinh tế.

Chiếm một tỉ trọng lớn trong số các DN trên toàn quốc, DNVVN đã và đang đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế xã hội. Điều này được thể hiện qua các nội dung sau:

  • Giải quyết việc làm cho người lao động

Theo thống kê mới nhất, cả nước hiện có trên 500.000 DN đăng ký hoạt động, trong đó doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) chiếm tới 97%, đóng góp 47% GDP, 40% ngân sách nhà nước và tạo ra gần một triệu việc làm mỗi năm. Do có sự phân bố rộng khắp và ngành nghề kinh doanh đa dạng, DNVVN thu hút được nhiều lao động kể cả ở thành thị và nông thôn. Với kết cấu bộ máy gọn nhẹ, hoạt động giản đơn, các DNVVN đang thu hút được đông đảo lực lượng lao động, góp phần đáng kể vào sự ổn định kinh tế – xã hội.

  • Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Với lợi thế là quy mô nhỏ, đòi hỏi vốn ít, năng động, linh hoạt, sáng tạo trong kinh doanh, các DNVVN có thể dễ dàng chuyển hướng sản xuất, thay đổi mặt hàng, đổi mới công nghệ làm cho nền kinh tế trở nên năng động và nhạy bén hơn. Đồng thời trong nền kinh tế thị trường với sự phân công lao động và chuyên môn hóa cao, các DNVVN có thể làm đại lí tiêu thụ sản phẩm, làm vệ tinh cung cấp các sản phẩm phụ trợ cho DN lớn. Sự hợp tác kinh doanh giữa các DN lớn và DNVVN tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh, hạn chế những khuyết tật của các DN nói chung và tạo sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, thúc đẩy sự phát triển cân đối giữa các vùng, khu vực trên toàn quốc.

1.3.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển DNVVN Khóa luận: Chất lượng tín dụng đối với DNVVN tại Ngân hàng SHB.

  • Trình độ phát triển kinh tế – xã hội
  • Chính sách và cơ chế quản lý
  • Đội ngũ các nhà sáng lập và quản lý doanh nghiệp
  • Sự phát triển và khả năng ứng dụng tiến bộ khoa học và công nghệ
  • Tình hình thị trường

1.3.4. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với việc phát triển DNVVN

  • Tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao hiệu quả sủ dụng vốn, tránh tình trạng sử dụng vốn sai mục đích.
  • Tín dụng ngân hàng góp phần bảo đảm cho hoạt động của doanh nghiệp được liên tục thuận lợi.
  • Tín dụng ngân hàng góp phần nâng cao khẳ năng cạnh tranh của DNVVN.
  • Tín dụng ngân hàng giúp doanh nghiệp hạn chế rủi ro.
  • Tín dụng ngân hàng góp phần hình thành cơ cấu vốn tối ưu cho DNVVN.

1.3.5. Các hình thức cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ:

  • Căn cứ theo thời hạn cho vay:

Cho vay ngắn hạn: Loại cho vay này có thời hạn đến 12 tháng và được sử dụng để bù đắp sự thiếu hụt vốn lưu động của các doanh nghiệp và các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân.

Cho vay trung hạn: Loại cho vay này có thời hạn trên 12 tháng đến 5 năm. Tín dụng trung hạn được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến đổi mới thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng các dự án mới có qui mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh. Khóa luận: Chất lượng tín dụng đối với DNVVN tại Ngân hàng SHB.

Cho vay dài hạn: Loại cho vay này có thời hạn trên 5 năm. Tín dụng dài hạn được sử dụng để cấp vốn cho vay xây dựng cơ bản như đầu tư xây dựng xí nghiệp mới, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng, cải tiến và mở rộng sản xuất có qui mô lớn.

  • Căn cứ theo tính chất đảm bảo của vốn vay:

Tín dụng có đảm bảo không bằng tài sản: Là tín dụng không có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào phương án vay vốn khả thi, uy tín của bản thân khách hàng hoặc người bảo lãnh.

Tín dụng có đảm bảo bằng tài sản: Là tín dụng có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc bảo lãnh của người thứ ba. Sự bảo đảm này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm một nguồn thu nợ thứ hai, bổ sung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn.

  • Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay.

Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn vay thì tín dụng Ngân hàng được chia làm hai loại sau:

Tín dụng đầu tư kinh doanh: Được dùng để cấp phát vốn cho các nhà doanh nghiệp và các chủ thể kinh tế khác để tiến hành sản xuất và kinh doanh.

Tín dụng tiêu dùng: Là hình thức cấp tín dụng cho các cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng như: Mua sắm nhà cửa, xe cộ, các hàng hóa bền chắc như máy giặt, tủ lạnh và các nhu cầu bình thường hàng ngày. Đây là loại tín dụng có khả năng sinh lời khá lớn, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng.

  • Căn cứ theo phương thức cấp tín dụng:

Cho vay từng lần: là phương pháp cho vay mỗi lần vay vốn, khách hàng và Ngân hàng phải thực hiện thủ tục vay vốn cần thiết va ký kết hợp đồng tín dụng.

Cho vay theo hạn mức tín dụng: Với phương thức cho vay này Ngân hàng và khách hàng xác định và thỏa thuận một hạn mức tín dụng được duy trì trong khoảng thời gian nhất định trên tài khoản tiền vay.

Cho vay theo dự án đầu tư: Ngân hàng cho khách hàng vay vốn để thực hiện dự án đầu tư phát triển sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và các dự án phục vụ đời sống.

Cho vay hợp vốn: Đây là phương thức Ngân hàng đứng ra cho vay đối với sự án vay của khách hàng trong đó một Ngân hàng đứng ra làm đầu mối dàn xếp, phối hợp với các Ngân hàng khác.

Cho vay trả góp: Khi vay vốn, Ngân hàng và khách hàng xác định và thỏa thuận một số lãi suất vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay.

  • Cho vay thông qua các nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng.
  • Cho vay theo sự án thấu chi.

1.3.6 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng

1.3.6.1 Hoạt động tín dụng xét ở góc độ hoạt động của ngân hàng

Các khoản tín dụng của ngân hàng có chất lượng tốt khi hiệu quả sử dụng vốn cao, an toàn và mang lại hiệu quả kinh tế cho chủ thể sử dụng, đồng thời mang lại một phần lợi nhuận cho ngân hàng. Dưới đây là một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng đối với ngân hàng. Khóa luận: Chất lượng tín dụng đối với DNVVN tại Ngân hàng SHB.

  • Các chỉ tiêu định tính

Trong quá trình đánh giá chất lượng tín dụng ngoài những chỉ tiêu có thể lượng hoá được thì còn có rất nhiều yếu tố mà không thể lượng hoá được. Các chỉ tiêu định tính được qua quy chế, chế độ, thể lệ tín dụng, qua độ thỏa mãn của khách hàng đối với sản phẩm, độ tín nhiệm của ngân hàng.

  • Các chỉ tiêu định lượng.
  • Chỉ tiêu tổng dư nợ và kết cấu nợ.

Tổng dư nợ là một chỉ tiêu phản ánh khối lượng tiền ngân hàng cấp cho nền kinh tế tại một thời điểm. Tổng dư nợ bao gồm dư nợ cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn. Tổng dư nợ thấp chứng tỏ hoạt động cho vay của ngân hàng kém hiệu quả, không có khả năng mở rộng, hoạt động marketing của ngân hàng kém, trình độ cán bộ công nhân viên ngân hàng thấp. Mặc dù vậy, không có nghĩa là chỉ tiêu này càng cao thì chất lượng tín dụng càng cao bởi vì đằng sau những khoản tín dụng đó còn có những rủi ro mà ngân hàng phải gánh chịu. Tổng dư nợ của ngân hàng khi so sánh với thị phần tín dụng của ngân hàng trên địa bàn sẽ cho chúng ta biết được dư nợ của ngân hàng là cao hay thấp.

Kết cấu dư nợ phản ánh tỷ trọng của các loại dư nợ trong tổng dư nợ. Phân tích kết cấu dư nợ sẽ giúp ngân hàng biết được gân hàng cần đẩy mạnh cho vay theo loại hình nào để cân đối với thực lực của ngân hàng. Kết cấu dư nợ khi so với kết cấu nguồn huy động sẽ cho biết rủi ro của loại hình cho vay nào là nhiều nhất.

  • Chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn.

Nợ quá hạn là hiện tượng phát sinh từ mối quan hệ tín dụng không hoàn hảo khi người đi vay không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ của mình cho ngân hàng đứng hạn. Tỷ lệ nợ quá hạn là tỉ lệ phầm trăm giữa dư nợ quá hạn và tổng dư nợ của ngân hàng thương mại ở một thời điểm nhất định, thường là cuối tháng, cuối quý, cuối năm.

Xét về bản chất, tín dụng là sự hoàn trả, do đó tính an toàn là yếu tố quan trọng bậc nhất để cấu thành chất lượng tín dụng. Khi một khoản vay không được trả nợ đúng hạn như cam kết, mà không có nguyên nhân chính đáng thì nó sẽ bị chuyển sang nợ quá hạn với lãi suất cao hơn lãi suất bình thường. Trên thực tế, phần lớn các khoản nợ quá hạn là các khoản nợ có khả năng mất vốn. Như vậy, tỷ lệ nợ quá hạn càng cao thì ngân hàng càng gặp nhiều rủi ro trong kinh doanh vì sẽ có nguy cơ mất vốn, mất khả năng thanh toán và giảm lợi nhuận. Điều đó đồng nghĩa với việc tỉ lệ nợ quá hạn càng cao thì chất lượng tín dụng càng thấp.

  • Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng. Khóa luận: Chất lượng tín dụng đối với DNVVN tại Ngân hàng SHB.

Đây là chỉ tiêu thường được các ngân hàng thương mại tính toán hàng năm để đánh giá khả năng tổ chức quản lí vốn tín dụng và chất lượng tín dụng trong việc đáp ứng nhu cầu khách hàng.

Hệ số này phản ánh số vòng chu chuyển của vốn tín dụng. Vòng quay vốn tín dụng càng cao chứng tỏ nguốn vốn vay ngân hàng đã luân chuyển nhanh, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất và lưu thông hàng hoá. Với một số vốn nhất định, nhưng do vòng quay vốn tín dụng nhanh nên ngân hàng đã đáp ứng được nhu cầu vốn cho các doanh nghiệp, mặt khác ngân hàng có vốn để tiếp tục đầu tư vào các lĩnh vực khác. Như vậy, hệ số này càng tăng phản ánh tình hình quản lý vốn tín dụng càng tốt, chất lượng tín dụng càng cao.

  • Chỉ tiêu thu nhập từ hoạt động tín dụng.

Không thể nói một khoản tín dụng có chất lượng cao khi nó không đem lại một khoản thu nhập cho ngân hàng. Nguồn thu từ hoạt động tín dụng là nguồn thu chủ yếu để ngân hàng tồn tại và phát triển. Lợi nhuận do tín dụng đem lại chứng tỏ các khoản vay không những thu hồi được gốc mà còn có lãi, đảm bảo được độ an toàn của nguồn vốn cho vay.

Ta thấy rằng nếu ngân hàng chỉ chú trọng vào việc giảm và duy trì một tỷ lệ nợ quá hạn thấp mà không tăng được thu nhập từ hoạt động tín dụng thì tỷ lệ nợ quá hạn thập cũng không có ý nghĩa. Chất lương tín dụng được nâng cao chỉ thực sự có ý nghĩa khi nó góp phần nâng cao khả năng sinh lời của ngân hàng. – Chỉ tiêu doanh số cho vay.

Doanh số cho vay là chỉ tiêu phản ánh quy mô cấp tín dụng của ngân hàng đối với nền kinh tế. Đây là chỉ tiêu phản ánh chính xác về hoạt động cho vay trong một thời gian dài, thấy được khả năng hoạt động tín dụng qua các năm. Ngoài các chỉ tiêu trên thì có thể kể đến một số thông tin như: Hệ số an toàn vốn tối thiểu ( không thấp hơn 9%), giới hạn cho vay một khách hàng ( không quá 15% tổng dư nợ) hay dư nợ một khách hàng (không quá 10% vốn điều lệ và các quỹ)

Bên cạnh đó thì chúng ta có thể sử dụng thêm chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn để chính xác hơn.

1.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng ngân hàng Khóa luận: Chất lượng tín dụng đối với DNVVN tại Ngân hàng SHB.

Để có thể nâng cao chất lượng tín dụng đối với DN ( cả về ngân hàng và DN sản xuất kinh doanh) ta phải hiểu rõ những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của ngân hàng để từ đó phát huy những ảnh hưởng tích cực và hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực. Mặt khác cả ngân hàng và doanh nghiệp cùng phải cố gắng linh hoạt để phù hợp với quy định của nhà nước trong hoạt động tín dụng. Có như thế thì cả DN và NH mới có thể đề ra các biện pháp đúng đắn, cụ thể, linh hoạt để thực hiện được nhiệm vụ của mình một cách hiệu quả nhất.

1.4.1 Các nhân tố thuộc về ngân hàng

  • Chính sách tín dụng

Đây là kim chỉ nam cho hoạt động tín dụng của Ngân hàng, nó có ý nghĩa quyết định cho sự thành công hay thật bại của Ngân hàng. Chính sách tín dụng phải phù hợp với đường lối phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước, đồng thời kết hợp hài hòa quyền lợi của người gửi tiền, Ngân hang và người sử dụng vốn vay. Muốn vậy, chính sách tín dụng phải được xây dựng trên cơ sở khoa học và thực tiễn.

  • Thông tin tín dụng

Nhờ có thông tin tín dụng mà người quản lí có thể đưa ra thông tin cần thiết liên quan đến việc cho vay, quản lí đảm bảo tiền vay giảm thiểu rủi ro tín dụng, nâng cao chất lượng tín dụng. Thông tin tín dụng có thể thu thập được từ nguồn thông tin sẵn có của ngân hàng từ trung tâm thông tin tín dụng (CIC), khách hàng, từ đối thủ cạnh tranh, từ nguồn trực tiếp hoặc gián tiếp…

  • Công tác tổ chức ngân hàng

Nhân tố này không chỉ tác động đến chất lượng tín dụng mà còn tác động đến mọi hoạt động của Ngân hàng. Một ngân hàng có cơ cấu tổ chức được sắp xếp một cách khoa học, sự phân công công việc được tiến hành một cách cụ thể, có sự liên kết giữa các bộ phận thì việc đáp ứng yêu cầu khách hàng sẽ được tiến hành kịp thời, không bỏ lỡ cơ hội kinh doanh, quản lí có hiệu quả và an toàn các khoản tín dụng.

  • Chất lượng nhân sự

Con người là yếu tố quyết định sự thành bại trong hoạt động kinh doanh nói chung, còn nói đến hoạt động của ngân hàng thì nó lại càng quan trọng. Vì cán bộ công nhân viên của Ngân hàng là bộ mặt, là hình ảnh của Ngân hàng đối với khách hàng. Hơn nữa, nghiệp vụ Ngân hàng càng ngày càng phát triển, đòi hỏi chất lượng nhân sự càng cao. Việc tuyển dụng nhân viên có đạo đức tốt, giỏi chuyên môn nghiệp vụ sẽ giúp Ngân hàng ngừa tối đa những sai phạm có thể xảy ra, đem lại khoản tín dụng có chất lượng cao.

  • Công tác kiểm soát nội bộ

Đây là công tác mà Ngân hàng nào cũng phải tiến hành thường xuyên, liên tục nhằm duy trì hiệu quả kinh doanh của mình phù hợp với chính sách, đáp ứng yêu cầu, mục tiêu đã đề ra. Để làm tốt công tác này, Ngân hàng cần sắp xếp một đội ngũ cán bộ có chuyên môn giỏi, nghiệp vụ cao, trung thực, có chế độ thưởng phạt nghiêm minh. Có như vậy công tác tín dụng mới được thực hiện đúng quy trình, mang lại hiệu quả tốt.

1.4.2 Các nhân tố thuộc về Doanh nghiệp Khóa luận: Chất lượng tín dụng đối với DNVVN tại Ngân hàng SHB.

Sử dụng vốn sai mục đích, không có thiện chí trong việc trả nợ vay: Đa số các doanh nghiệp khi vay vốn ngân hàng đều có các phương án kinh doanh cụ thể, khả thi. Số lượng các doanh nghiệp sử dụng vốn sai mục đích, cố ý lừa đảo ngân hàng để chiếm đoạt tài sản không nhiều. Tuy nhiên những vụ việc phát sinh lại hết sức nặng nề, liên quan đến uy tín của các cán bộ, làm ảnh hưởng xấu đến các doanh nghiệp khác.

Khả năng quản lý kinh doanh kém: Khi các doanh nghiệp vay tiền ngân hàng để mở rộng quy mô kinh doanh, đa phần là tập trung vốn đầu tư vào tài sản vật chất chứ ít doanh nghiệp nào mạnh dạn đổi mới cung cách quản lý, đầu tư cho bộ máy giám sát kinh doanh, tài chính, kế toán theo đúng chuẩn mực. Quy mô kinh doanh phình ra quá to so với tư duy quản lý là nguyên nhân dẫn đến sự phá sản của các phương án kinh doanh đầy khả thi mà lẽ ra nó phải thành công trên thực tế.

Tình hình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch: Quy mô tài sản, nguồn vốn nhỏ bé, tỷ lệ nợ so với vốn tự có cao là đặc điểm chung của hầu hết các doanh nghiệp VN. Ngoài ra, thói quen ghi chép đầy đủ, chính xác, rõ ràng các sổ sách kế toán vẫn chưa được các doanh nghiệp tuân thủ nghiêm chỉnh và trung thực. Do vậy, sổ sách kế toán mà các doanh nghiệp cung cấp cho ngân hàng nhiều khi chỉ mang tính chất hình thức hơn là thực chất. Đây cũng là nguyên nhân vì sao ngân hàng vẫn luôn xem nặng phần tài sản thế chấp như là chỗ dựa cuối cùng để phòng chống rủi ro tín dụng

1.4.3 Các nhân tố khách quan khác

Ngoài những nhân tố chủ quan trên còn có nhiều nhân tố khách quan mà tác động của nó cũng không nhỏ đến chất lượng tín dụng của Ngân hàng.

  • Tác động của môi trường kinh tế

Đây là nhân tố luôn ảnh hưởng đến khả năng tài chính của người vay, hay nói rõ hơn là nếu môi trường kinh tế xấu làm cho hoạt động của DN gặp khó khăn, ảnh hưởng đến thời hạn trả nợ và khả năng hoàn trả món vay của DN do đó ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của Ngân hàng. Ngược lại, nếu môi trường kinh doanh thuận lợi, DN làm ăn có hiệu quả, thu hồi được vốn nhanh, trả nợ đúng hạn, khoản tín dụng của Ngân hàng được đánh giá là có chất lượng tốt.

  • Tác động của môi trường pháp lí Khóa luận: Chất lượng tín dụng đối với DNVVN tại Ngân hàng SHB.

Ngân hàng là một DN hoạt động trong hành lang pháp lí hẹp hơn bất kì DN sản xuất kinh doanh hay hoạt động thương mại nào. Vì vậy, một hệ thống pháp lí càng hoàn chỉnh, càng đồng bộ thì sẽ càng đem lại hiệu quả hoạt động ngân hàng, của DN, và đảm bảo chất lượng tín dụng của ngân hàng. Còn nếu môi trường pháp lí không hoàn chỉnh, còn nhiều lỗ hổng thì sẽ có kết quả ngược lại. Cả DN và Ngân hàng sẽ gặp rủi ro, khó có thể thu hồi vốn, ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng của Ngân hàng.

  • Chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước

Trong nền kinh tế thị trường, chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước bao gồm chính sách tiền tệ, chính sách lãi suất, chính sách đối ngoại…có vai trò quan trọng trong hoạt động của nền kinh tế nói chung và hoạt động của NH và DN nói riêng. Chính sách kinh tế trong hoàn cảnh này thì có tác dụng cho cả Ngân hàng và Doanh nghiệp nhưng trong hoàn cảnh kia thì ngược lại. Các chính sách này nhằm ưu tiên hay hạn chế phát triển một ngành nào đó để đảm bảo cân đối cho nền kinh tế. Do vậy các chủ trương, chính sách của Nhà nước phải đúng đắn thì mới kích thích hoạt động kinh doanh phát triển, là điều kiện cần để đạt được chất lượng tín dụng và hiệu quả các khoản tín dụng Ngân hàng. Khóa luận: Chất lượng tín dụng đối với DNVVN tại Ngân hàng SHB.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:

===>>> Khóa luận: Thực trạng tín dụng ngân hàng đối với DNVVN tại SHB

0 0 đánh giá
Đánh giá bài viết
Theo dõi
Thông báo của
guest

0 Góp ý
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x