Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Hiệu quả huy động vốn tại ngân hàng Vietcombank hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài Khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm Khóa Luận thì với đề tài Khóa luận: Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – chi nhánh Hải Phòng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
LỜI MỞ ĐẦU
Huy động các nguồn vốn khác nhau trong xã hội là một trong những hoạt động quan trọng nhất của các Ngân hàng thương mại (NHTM), nhất là các ngân hàng có quy mô lớn. Bởi huy động vốn giúp ngân hàng tăng quy mô vốn, làm tăng khả năng cạnh tranh giữa các ngân hàng, tạo uy tín niềm tin giữa ngân hàng với khách hàng. Hệ thống NHTM với chức năng là trung gian tài chính giữa tiết kiệm và đầu tư, giữa những tác nhân dư vốn và tác nhân thiếu vốn, vẫn luôn là một kênh huy động vốn chủ lực cho nền kinh tế. Tuy nhiên, nguồn vốn huy động của hệ thống NHTM còn chiếm tỷ trọng nhỏ so với tổng nguồn vốn của toàn xã hội. Hầu hết các NHTM đều nằm trong tình trạng thiếu vốn trung và dài hạn, gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm nguồn vốn ổn định với chi phí hợp lý và phù hợp với nhu cầu sử dụng vốn. Do vậy, yêu cầu về nâng cao hiệu quả huy động vốn là hết sức cần thiết cho các NHTM, đặc biệt trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt và thị trường chứng khoán trong một chừng mực nào đó là nơi đầu tư yêu thích của một bộ phận dân cư ngày càng lớn.
Nằm trong hệ thống các ngân hàng quốc doanh, giữ vai trò chủ lực thúc đẩy phát triển kinh tế đất nước, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam là ngân hàng đầu tiên tiến hành cổ phần hoá ( IPO vào tháng 10/2021). Hiện nay với tên gọi ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCB), với mạng lưới chi nhánh rộng khắp cả nước, VCB đã và đang khẳng định vị thế hàng đầu của mình trong công tác huy động vốn, đáp ứng nhu cầu tín dụng cho các thành phần kinh tế. Ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) Ngoại thương chi nhánh Hải Phòng là một trong những chi nhánh góp phần tích cực trong công cuộc xây dựng đất nước. Nguồn vốn huy động của VCB Hải Phòng liên tục tăng trưởng qua các năm, tuy nhiên ngân hàng gặp khó khăn trong cơ cấu kỳ hạn nguồn vốn. Hiện nay, ngân hàng đang đứng trước tình trạng là thừa vốn ngắn hạn thiếu vốn trung dài hạn, trong khi đó nhu cầu vay vốn trung dài hạn ngày càng tăng trong những năm gần đây. Đứng trước xu thế hội nhập kinh tế của khu vực và toàn cầu, nhất là sau khi Việt Nam trở thành thành viên của tổ chức thương mại thế giới WTO thì sự cạnh tranh ngày càng trở nên khốc liệt không chỉ với các ngân hàng trong nước mà còn với các ngân hàng, tổ chức tài chính nước ngoài. Thêm vào đó, thị trường chứng khoán Việt Nam đã đi vào hoạt động và dần ổn định thì yêu cầu khai thác tối đa những nguồn vốn đang còn tiềm tàng trong các tổ chức kinh tế và dân cư để có một nguồn vốn phong phú với cơ cấu vốn tối ưu, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội và của chính bản thân VCB Hải Phòng luôn là một thách thức lớn.
Xuất phát từ những lý do trên, em đã lựa chọn đề tài: “ Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tại ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – chi nhánh Hải Phòng” làm khóa luận tốt nghiệp
Chương 1. Một số vấn đề lý luận cơ bản về nâng cao hiệu quả huy động vốn của Ngân hàng thương mại.
1.1. Tổng quan về hoạt động của ngân hàng thương mại
1.1.1 Huy động vốn của ngân hàng thương mại
- Khái niệm Ngân hàng thương mại ( NHTM) Khóa luận: Hiệu quả huy động vốn tại ngân hàng Vietcombank.
Theo Luật các tổ chức tín dụng năm 1997 đã định nghĩa: “ NHTM là loại hình tổ chức tín dụng thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanh khác có liên quan” mà trong đó tổ chức tín dụng được hiểu “là doanh nghiệp hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán”.
Các hoạt động cơ bản của NHTM bao gồm: huy động vốn, sử dụng vốn và các hoạt động dịch vụ của NHTM. Trong đó, hoạt động đầu tiên: huy động vốn là một trong những hoạt động chủ yếu và quan trọng nhất của NHTM.
Huy động vốn của NHTM chính là việc tạo vốn từ việc nhận tiền gửi của các tổ chức, cá nhân, từ các hoạt động thanh toán, uỷ thác hoặc từ việc phát hành các chứng từ có giá để phục vụ cho các hoạt động cho vay, đầu tư của ngân hàng. Huy động vốn được hiểu là thu hút những khoản vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế, thúc đẩy lưu thông tiền tệ. Bản thân nó phản ánh ưu điểm của tài chính là có thể thỏa thuận trực tiếp nhưng có nhược điểm là khó phù hợp về quy mô vốn dẫn đến lãng phí về mặt thời gian và chi phí giao dịch. Với chức năng và nhiệm vụ của mình, các NHTM đã thu hút, tập trung huy động các nguồn vốn tiền tệ tạm thời chưa sử dụng của các doanh nghiệp, các tầng lớp dân cư vào ngân hàng. Trên cơ sở nguồn vốn huy động được, ngân hàng sẽ tiến hành hoạt động cho vay phục vụ cho nhu cầu phát triển sản xuất, cho các mục tiêu phát triển kinh tế của vùng, ngành kinh tế, các thành phần kinh tế, đáp ứng nhu cầu vốn của xã hội, nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Với nghiệp vụ huy động vốn, các NHTM đã thực sự huy động được sức mạnh tổng hợp của nền kinh tế vào quá trình sản xuất, lưu thông hàng hoá. Nhờ nghiệp vụ này của NHTM, tiền tiết kiệm của cá nhân, đoàn thể, các tổ chức kinh tế được huy động vào quá trình vận động của nền kinh tế. Nó chuyển của cải, tài nguyên của xã hội từ nơi chưa sử dụng, còn tiềm tàng vào quá trình sử dụng phục vụ cho sản xuất kinh doanh nâng cao mức sống xã hội. Nhận tiền gửi kết hợp với cho vay, đầu tư…sẽ đem lại lợi nhuận cho ngân hàng.
Ngân hàng có thể huy động vốn từ các nguồn như: vốn chủ sở hữu, vốn huy động, vốn vay và các nguồn khác
- Vốn chủ sở hữu Khóa luận: Hiệu quả huy động vốn tại ngân hàng Vietcombank.
Cũng như các loại hình doanh nghiệp khác, để bắt đầu hoạt động Ngân hàng phải có một lượng vốn nhất định. Đây là nguồn vốn ngân hàng có thể sử dụng lâu dài, hình thành nên trang thiết bị, cơ sở vật chất cho ngân hàng. Vốn chủ sở hữu được hình thành từ rất nhiều nguồn khác nhau tuỳ theo tính chất sở hữu, năng lực tài chính của chủ ngân hàng, yêu cầu và sự phát triển của thị trường mà ngân hàng có cơ cấu và khối lượng vốn khác nhau. Ngân hàng có thể tăng vốn chủ sở hữu trong quá trình hoạt động thông qua việc phát hành thêm cổ phần hoặc vốn góp.
- Hoạt động huy động tiền gửi
Ngân hàng mở các tài khoản tiền gửi để giữ hộ và thanh toán hộ cho khách hàng, thực hiện các dịch vụ tài chính khác theo yêu cầu của khách hàng. Bằng cách đó, ngân hàng huy động tiền của các doanh nghiệp, các tổ chức và của dân cư. Tiền gửi là nguồn tiền quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền của ngân hàng. Để gia tăng lượng tiền gửi và có được nguồn tiền chất lượng cao, ổn định trong môi trường cạnh tranh, các ngân hàng đã đưa ra và thực hiện nhiều hình thức huy động khác nhau. Các cá nhân, doanh nghiệp gửi tiền vào ngân hàng thông qua việc mở tài khoản để được ngân hàng cung ứng các dịch vụ về thanh toán, đầu tư một cách nhanh chóng và an toàn. Nâng cao nghiệp vụ huy động tiền gửi sẽ tăng nguồn vốn kinh doanh cho ngân hàng, thanh toán không dùng tiền mặt giúp ngân hàng nhà nước (NHNN) ổn định và kiểm soát nền kinh tế qua chính sách tiền tệ.
- Hoạt động đi vay
Ngân hàng có thể huy động vốn đáp ứng nhu cầu chi trả khi khả năng huy động bị hạn chế bằng cách vay của các tổ chức tín dụng, vay NHNN và vay trên thị trường vốn. NHNN cho phép các NHTM vay vốn đáp ứng khả năng thanh toán kịp thời của NHTM dưới hình thức tái chiết khấu ( hoặc tái cấp vốn). Ngân hàng cũng có thể vay vốn trên thị trường vốn thông qua việc phát hành các giấy nợ ( kỳ phiếu, tín phiếu, cổ phiếu và trái phiếu) đáp ứng khả năng chi trả đối với các khoản vay trung và dài hạn. Các tổ chức tín dụng trên thị trường có thể vay mượn lẫn nhau thông qua thị trường liên ngân hàng.
- Hoạt động huy động vốn khác
Ngân hàng có thể huy động từ các nguồn khác như: nguồn uỷ thác, nguồn trong thanh toán, các nguồn khác NHTM thực hiện các dịch vụ uỷ thác như: uỷ thác cho vay, uỷ thác đầu tư, uỷ thác cấp phát, uỷ thác giải ngân…
Nguồn trong thanh toán được thành lập từ các hoạt động không dùng tiền mặt qua ngân hàng ( séc trong quá trình chi trả, tiền ký gửi để mở L/C…)
Nguồn khác: các khoản nợ khác như thuế chưa nộp, lương chưa trả… Hoạt động huy động vốn của NHTM ngày càng mở rộng, uy tín và vị thế của ngân hàng đó sẽ ngày càng được khẳng định, sẽ chủ động trong hoạt động kinh doanh, mở rộng quan hệ với các thành phần kinh tế, tổ chức dân cư. NHTM căn cứ vào chiến lược, mục tiêu phát triển kinh tế của từng vùng, từng ngành trong cả nước…để từ đó đưa ra các loại hình nhận tiền gửi phù hợp, nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho công cuộc công nghiệp hoá – hiện đại hóa đất nước.
1.1.2 Sử dụng vốn của NHTM Khóa luận: Hiệu quả huy động vốn tại ngân hàng Vietcombank.
Nếu như hoạt động huy động vốn tạo nguồn vốn cho NHTM, có tầm quan trọng to lớn, ảnh hưởng tới hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng thì hoạt động sử dụng vốn chính là hoạt động tạo ra lợi nhuận chủ yếu cho ngân hàng. Đây là hoạt động vô cùng quan trọng đối với ngân hàng vì nếu một ngân hàng huy động được nguồn vốn dồi dào nhưng không có kế hoạch sử dụng vốn hợp lý thì không những không đem lại lợi nhuận cho ngân hàng mà còn không thể bù đắp được chi phí huy động. Hoạt động sử dụng vốn của NHTM bao gồm 2 hoạt động chính là hoạt động tín dụng và hoạt động đầu tư.
- Hoạt động tín dụng
Nguồn thu nhập lớn nhất của ngân hàng là từ hoạt động tín dụng, chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản, tạo thu nhập từ lãi lớn nhất nhưng cũng là hoạt động mang lại rủi ro cao nhất cho ngân hàng. Hoạt động tín dụng của ngân hàng bao gồm các hoạt động chủ yếu là: hoạt động cho vay, chiết khấu, bảo lãnh và cho thuê tài chính.
Hoạt động cho vay của NHTM là nhằm tài trợ về vốn cho các doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức. Ngoài cho vay đối với các doanh nghiệp, ngân hàng cũng mở rộng cho vay cá nhân và hộ gia đình để tiêu dùng và sản xuất kinh doanh. Chênh lệch giữa lãi suất huy động và lãi suất cho vay chính và trừ đi tổng chi phí là phần lợi nhuận ngân hàng được hưởng. NHTM điều tiết hoạt động cho vay có hiệu quả cao sẽ nâng cao vai trò, uy tín của ngân hàng, tăng cường sự cạnh tranh trên thị trường, từ đó sẽ thu hút được nhiều khách hàng đến với ngân hàng, tác động ngược trở lại, tạo điều kiện thuận lợi để mở rộng hoạt động nhận tiền gửi của ngân hàng.
Ngân hàng thực hiện chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá trên cơ sở tín nhiệm. Ngân hàng có thể tái chiết khấu thương phiếu đáp ứng nhu cầu thanh khoản với chi phí thấp. Khóa luận: Hiệu quả huy động vốn tại ngân hàng Vietcombank.
Cho thuê tài chính thường là hính thức tín dụng trung và dài hạn. Nó gần giống cho vay ở chỗ ngân hàng phải xuất tiền với kỳ vọng thu về cả gốc lẫn lãi sau thời hạn nhất định. Cho thuê không có tài sản đảm bảo nên rủi ro cao, ngân hàng phải lập dự phòng rủi ro.
Bảo lãnh là việc ngân hàng thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi khách hàng không thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết. Ngân hàng tài trợ cho khách hàng để có thể tìm nguồn tài trợ mới, mua hàng hoá, thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh thu lợi nhuận. Bảo lãnh của ngân hàng tạo mối liên kết trách nhiệm tài chính và san sẻ rủi ro. Ngân hàng thu phí bảo lãnh nhằm bù đắp chi phí. Ngoài ra, ngân hàng còn thu được khoản ký quỹ và nguồn tiền gửi với lãi suất thấp khi thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.
- Hoạt động đầu tư
Ngân hàng có thể đầu tư vào việc mua bán chứng khoán, góp vốn vào các doanh nghiệp hoặc đầu tư vào trang thiết bị, tài sản cố định phục vụ cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Đi đôi với sự phát triển của xã hội là sự xuất hiện hàng loạt những nhu cầu khác nhau, để đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh, tăng thu lợi nhuận, ngân hàng cần chú trọng các loại hình đầu tư, đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế đang trên đà phát triển.
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, ngành ngân hàng cũng đang phát triển không ngừng, các ngân hàng đang chú trọng phát triển theo hướng ngân hàng đa năng, ngân hàng tập đoàn, mở rộng đầu tư vào nhiều lĩnh vực thuộc tài chính – ngân hàng – bảo hiểm và nhiều lĩnh vực khác. Khóa luận: Hiệu quả huy động vốn tại ngân hàng Vietcombank.
1.1.3 Các hoạt động dịch vụ của NHTM
Đây là các hoạt động mà trong đó NHTM cung ứng dịch vụ phục vụ khách hàng. Xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ của mình, NHTM thực hiện các lệnh chi trả, các dịch vụ do các chủ tài khoản yêu cầu trên cơ sỏ đó ngân hàng thu phí dịch vụ.
Ngày nay, do nhu cầu phát triển của nền kinh tế đòi hỏi các hoạt động dịch vụ của ngân hàng ngày càng mở rộng cả về chất lượng và số lượng. Các ngân hàng đầu tư trang thiết bị, cơ sở vật chất, áp dụng công nghệ tiên tiến vào hoạt động ngân hàng, thực hiện tốt khâu thanh toán không dùng tiền mặt như uỷ nhiệm chi, uỷ nhiệm thu, thanh toán séc, thanh toán bù trừ, chuyển tiền nhanh, các hình thức thẻ tín dụng…
Việc đa dạng hoá các sản phẩm, dịch vụ phục vụ khách hàng sẽ làm tăng thu nhập cho ngân hàng, tăng uy tín và khả năng cạnh tranh của ngân hàng. Có thể thấy, xu hướng nguồn thu về dịch vụ ngày càng tăng và chiếm tỷ lệ lớn trong tổng doanh thu về kinh doanh của ngân hàng. Đồng thời qua các nghiệp vụ trung gian này, NHTM góp phần làm tăng chu chuyển của đồng vốn, tiết kiệm vốn trong quá trình thanh toán, giảm tiền mặt trong lưu thông, do đó, tiết kiệm được chi phí lưu thông trong xã hội…
Mặt khác, thực hiện tốt các nghiệp vụ này, ngân hàng sẽ thu hút được nhiều khách hàng hơn. Điều đó cũng tạo điều kiện cho huy động vốn và cho vay của ngân hàng.
Trong cơ chế thị trường hiện nay, để đáp ứng được yêu cầu của khách hàng, đồng thời tăng thêm lợi nhuận, các ngân hàng tích cực mở rộng và phát triển hoạt động khác trên thị trường như kinh doanh vàng bạc, đá quý, kim khí, thực hiện các dịch vụ tư vấn và dịch vụ ngân quỹ, nghiệp vụ uỷ thác đầu tư và đại lý…Việc thực hiện các nghiệp vụ này cũng là một nhân tố quan trọng làm tăng uy tín, vị thế của ngân hàng, góp phần tích cực cho công tác huy động vốn và cho vay.
Các hoạt động của NHTM có mối quan hệ hữu cơ, mật thiết, chúng tạo tiền đề, điều kiện cho nhau. Các ngân hàng cần thực hiện tốt, đồng bộ tất cả các nghiệp vụ hoạt động, điều đó sẽ tạo ra tính năng động, toàn diện cho hoạt động của ngân hàng.
1.2. Một số vấn đề về huy động vốn của NHTM Khóa luận: Hiệu quả huy động vốn tại ngân hàng Vietcombank.
1.2.1. Vai trò của huy động vốn đối với hoạt động kinh doanh của NHTM
Huy động vốn có vai trò rất quan trọng không chỉ đối với ngân hàng, doanh nghiệp mà với cả với nền kinh tế. Các doanh nghiệp không thể mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh, các ngân hàng không thể tăng thu nhập, mở rộng thị phần kinh doanh, nền kinh tế không thể phát triển bền vững nếu chỉ căn cứ vào nguồn vốn tự có. Nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động này, các chủ thể kinh doanh trong xã hội luôn tìm cách để gia tăng nguồn vốn của mình.
Nguồn vốn của NHTM bao gồm 2 loại chính nếu phân chia theo hình thức sở hữu: Nguồn vốn chủ sở hữu và các khoản nợ. Khác với nhiều loại hình doanh nghiệp, vốn chủ sở hữu thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng và các khoản nợ là nguồn chủ yếu. Chất lượng và số lượng của nó ảnh hưởng đáng kể tới chất lượng và số lượng của các khoản cho vay và đầu tư. Phần lớn các khoản vốn từ huy động của ngân hàng liên quan đến chi phí trả lãi. Chi phí trả lãi là bộ phận chi phí lớn nhất đối với ngân hàng, vì vậy, có ảnh hưởng quyết định đối với thu nhập của ngân hàng.
Phải khẳng định rằng huy động vốn là một trong những hoạt động không thể thiếu và quan trọng nhất của NHTM. Đối với các NHTM, nhu cầu sử dụng vốn để thực hiện cho vay, đầu tư và cung ứng các dịch vụ ngân hàng hình thành cơ sở ban đầu để kinh doanh. Vì vậy, các ngân hàng cần phải huy động thêm vốn. Nói cách khác, huy động vốn có một vai trò rất quan trọng đối với ngân hàng. Vốn huy động được giúp ngân hàng có đủ nguồn vốn kinh doanh, mở rộng thị phần, giữ thế chủ động trong kinh doanh và gia tăng lợi nhuận, đảm bảo khả năng thanh toán, đáp ứng nhu cầu rút tiền của khách hàng, tôn trọng các cam kết của ngân hàng với khách hàng.
Mặt khác, thông qua huy động vốn, cụ thể là nhận tiền gửi của khách hàng, đã thể hiện đặc điểm của ngân hàng, là cách để người ta phân biệt ngân hàng với các doanh nghiệp khác.
Ngoài ra, qua huy động vốn, các NHTM có thể đo lường uy tín cũng như sự tín nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng, từ đó ngân hàng có các biện pháp không ngừng hoàn thiện hoạt động huy động vốn để giữ vững và mở rộng các quan hệ với khách hàng.
1.2.2. Cơ cấu huy động vốn của NHTM Khóa luận: Hiệu quả huy động vốn tại ngân hàng Vietcombank.
1.2.3. Các hình thức huy động vốn của NHTM
Huy động vốn như đã đề cập là hoạt động khởi đầu cho các hoạt động khác của NHTM và là một trong những hoạt động cơ bản, quan trọng nhất đối với hoạt động của NHTM. NHTM hoạt động với vai trò một trung gian tài chính của nền kinh tế thì một đặc điểm quan trọng là hoạt động chủ yếu bằng nguồn vốn huy động chứ không phải từ vốn chủ sở hữu.
Vì vậy, để có nguồn vốn hoạt động kinh doanh, NHTM phải thực hiện các hoạt động nhằm thu hút các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi chưa được sử dụng trong nền ki , trái phiếu hay đi vay từ các tổ chức tín dụng khác hoặc từ Ngân hàng Trung ương.
1.2.3.1.Nhận tiền gửi
Tiền gửi của khách hàng là nguồn lực quan trọng của NHTM. Khi các ngân hàng hoạt động, nghiệp vụ đầu tiên là mở các tài khoản tiền gửi để giữ hộ và thanh toán hộ các khách hàng. Bằng cách đó, ngân hàng huy động tiền từ các doanh nghiệp, các tổ chức và dân cư.
Tiền gửi là nguồn tiền quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong nguồn tiền của ngân hàng. Để huy động vốn, các ngân hàng đã cung cấp rất nhiều loại hình tiền gửi khác nhau cho khách hàng lựa chọn. Mọi công cụ huy động tiền gửi mà các ngân hàng đưa ra đều có đặc điểm riêng nhằm làm cho chúng phù hợp hơn với nhu cầu khách hàng trong việc tiết kiệm và thực hiện thanh toán. Căn cứ vào nguồn hình thành, vốn tiền gửi của các ngân hàng bao gồm tiền gửi của các tổ chức kinh tế, tiền gửi của dân cư và tiền gửi khác.
- Tiền gửi của dân cư
Tiền gửi của dân cư là một bộ phận thu nhập bằng tiền của các tầng lớp dân cư trong xã hội gửi vào ngân hàng nhằm mục đích tiết kiệm, kiếm lời và để thanh toán. Vốn huy động từ khách hàng này chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn huy động. Tiền gửi của dân cư bao gồm 2 loại: tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi thanh toán
- a)Tiền gửi tiết kiệm Khóa luận: Hiệu quả huy động vốn tại ngân hàng Vietcombank.
Với loại tiền gửi này, người gửi được ngân hàng giao cho một cuốn sổ tiết kiệm, trong thời gian gửi tiền, sổ tiết kiệm có thể được dùng làm vật cầm cố hoặc chiết khấu để vay vốn ngân hàng.
Tiền gửi tiết kiệm bao gồm: tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn với các khoảng thời gian khác nhau.
Đây là một hình thức huy động truyền thống của ngân hàng. Các tầng lớp dân cư đều có các khoản thu nhập tạm thời chưa sử dụng (các khoản tiền tiết kiệm). Trong điều kiện có khả năng tiếp cận với ngân hàng, họ đều có thể gửi tiết kiệm nhằm thực hiện các mục tiêu bảo toàn và sinh lời, đặc biệt là nhu cầu bảo toàn. Nhằm thu hút ngày càng nhiều tiền tiết kiệm, các ngân hàng đều cố gắng khuyến khích dân cư thay đổi thói quen giữ vàng và tiền mặt tại nhà bằng cách mở rộng mạng lưới huy động, đưa ra các hình thức huy động đa dạng và lãi suất cạnh tranh hấp dẫn. Sổ tiết kiệm không thể dùng để mua hàng nhưng có thể dùng để thế chấp vay vốn nếu ngân hàng đồng ý.
- b)Tiền gửi thanh toán
Các cá nhân trong xã hội cũng có nhu cầu và được pháp luật cho phép thực hiện thanh toán qua ngân hàng. Khi đó, họ cùng mở tài khoản tiền gửi thanh toán tại ngân hàng và gửi tiền vào đó để đáp ứng các nhu cầu thanh toán cũng như để sử dụng các tiện ích khác có liên quan của ngân hàng.
Trên thực tế, tiền gửi của dân cư luôn chiếm một tỷ trọng khá lớn trong tổng vốn huy động của ngân hàng. Để khai thác nguồn vốn này, các ngân hàng luôn chú trọng đến việc đa dạng hoá các hình thức huy động như: huy động bằng vàng, huy động tiền gửi có đảm bảo bằng vàng, tiết kiệm xây dựng nhà ở, các hình thức tiết kiệm linh hoạt khác với lãi suất hợp lý.
- Tiền gửi của tổ chức kinh tế
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các tổ chức kinh tế thường có một bộ phận vốn nhàn rỗi tạm thời như: khấu hao đã trích nhưng chưa đến lúc sử dụng, tiền thu bán hàng chưa phải mua nguyên liệu, trả lương; các quỹ đầu tư phát triển, phúc lợi, khen thưởng đã trích nhưng chưa sử dụng đến… Để đảm bảo an toàn tài sản đồng thời vốn vẫn sinh lời, các tổ chức kinh tế có thể gửi số vốn đó vào ngân hàng. Hoặc để thuận tiện cho quá trình sử dụng vốn, đơn vị có thể thanh toán qua ngân hàng cũng như sử dụng các dịch vụ ngân hàng khác, khi đó họ cần phải gửi vốn vào ngân hàng. Tổ chức kinh tế có thể gửi vốn vào ngân hàng dưới hình thức: tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn với các kỳ hạn khác nhau. Đồng thời, ngân hàng sẽ mở cho các đơn vị các tài khoản tương ứng để thuận tiện cho viêc sử dụng.
- a)Tiền gửi không kỳ hạn Khóa luận: Hiệu quả huy động vốn tại ngân hàng Vietcombank.
Tiền gửi không kỳ hạn của các tổ chức kinh tế là loại tiền gửi mà người gửi có thể rút ra bất kỳ lúc nào và ngân hàng luôn có nghĩa vụ phải thoả mãn các nhu cầu đó. Loại tiền này có mục đích chính là để thanh toán.
Đối với tiền gửi không kỳ hạn, mặc dù việc gửi và rút tiền có thể thực hiện vào bất kỳ lúc nào, ngân hàng khó xác định trước. nhưng trên thực tế luôn có sự chênh lệch về thời gian và số lượng giữa việc gửi tiền và rút tiền, cho nên tại một ngân hàng luôn tồn tại một số dư tiền gửi không kỳ hạn và ngân hàng có thể sử dụng để cho vay. Lãi suất của loại tiền gửi này rất thấp, cho nên nguồn vốn này giúp cho ngân hàng hạ thấp giá mua vốn, nâng cao khả năng cạnh tranh trong cho vay và đầu tư.
- b)Tiền gửi có kỳ hạn
Tiền gửi có kỳ hạn của các tổ chức kinh tế là loại tiền gửi có sự thoả thuận về thời gian rút tiền. Về nguyên tắc, người gửi chỉ có thể rút tiền theo thời hạn đã thoả thuận, nhưng trên thực tế, để thu hút loại tiền gửi này với thời hạn dài, các ngân hàng thường cho phép rút tiền trước thời hạn với mức lãi suất được hưởng là không kỳ hạn hoặc là lãi suất tương ứng theo loại kỳ hạn nhất định do ngân hàng quy định.
Nguồn vốn này có độ ổn định cao, ngân hàng chủ động trong quá trình sử dụng. Vì vậy, để có thể thu hút nhiều hơn loại tiền gửi này, các ngân hàng thường đưa ra nhiều kỳ hạn khác nhau phù hợp với thời gian vốn nhàn rỗi các đơn vị, mỗi kỳ hạn có một mức lãi suất tương ứng theo nguyên tắc thường là kỳ hạn càng dài lãi suất càng cao. Tuy nhiên, cũng có thời kỳ ngân hàng tập trung chiến lược huy động vốn vào các kỳ hạn nào chính thì lãi suất của kỳ hạn đó sẽ cao hơn.
- Tiền gửi khác
Nhằm mục đích nhờ thanh toán hộ và một số mục đích khác, các NHTM còn có thêm các khoản tiền gửi khác như: tiền gửi của các tổ chức tín dụng khác, tiền gửi của kho bạc nhà nước, tiền gửi của các tổ chức đoàn thể xã hội.
1.2.3.2 Vay
Tiền gửi là nguồn quan trọng nhất của NHTM nhưng như vậy cũng không đủ cho quá trình phát triển hoạt động kinh doanh của NHTM. Khi các NHTM huy động vốn nhưng chưa cho vay, hay khi khách hàng có nhu cầu vay lớn, nhưng nguồn vốn lại không đủ, hoặc người gửi rút tiền trước thời hạn trong khi đó vốn cho vay chưa đến lúc thu hồi. Khi đó, các NHTM có thể gửi vào các tổ chức tín dụng khác để hưởng lãi, hay đi vay vốn để tận dụng cơ hội kinh doanh hoặc đảm bảo khả năng thanh toán. NHTM có thể có các hình thức vay vốn: vay ngân hàng Trung ương, vay vốn ở các tổ chức tín dụng khác hoặc vay trên thị trường vốn.
- Vay ngân hàng trung ương Khóa luận: Hiệu quả huy động vốn tại ngân hàng Vietcombank.
Ngân hàng trung ương ( NHTW) là ngân hàng của các ngân hàng thương mại và là ngân hàng cho vay cuối cùng trong nền kinh tế. Vì vậy, các NHTM có thể được NHTW cho vay vốn khi cần thiết.
Đây là khoản vay nhằm giải quyết các nhu cầu chi trả cấp bách của NHTM. Trong trường hợp thiếu hụt dự trữ (thiếu hụt dự trữ bắt buộc, dự trữ thanh toán), NHTM thường vay NHTW. Hình thức chủ yếu là NHTW tái chiết khấu (ở Việt Nam là tái cấp vốn). Các thương phiếu đã được các NHTM chiết khấu (tái chiết khấu) trở thành tài sản của họ. Khi cần tiền, NHTM đem các thương phiếu này lên NHTW tái chiết khấu. Nghiệp vụ này làm giảm thương phiếu của NHTM và dự trữ tại NHTW tăng lên. NHTW điều hành quá trình này một cách chặt chẽ, NHTM phải thực hiện các điều kiện đảm bảo và kiểm soát nhất định. Thông thường, NHTW chỉ tái chiết khấu đối với những thương phiếu có chất lượng (thời gian đáo hạn ngắn, khả năng trả nợ cao) và phù hợp với mục tiêu của NHTW trong từng thời kỳ. Trong điều kiện chưa có thương phiếu, NHTW cho NHTM vay dưới hình thức tái cấp vốn theo hạn mức tín dụng nhất định.
Ngoài ra, NHTW còn cho NHTM vay bổ sung vốn thiếu hụt trong thanh toán bù trừ. Trong các trường hợp đặc biệt, khi được Thủ tướng chính phủ chấp nhận, NHTW còn cho vay đối với các NHTM tạm thời mất khả năng chi trả, có nguy cơ gây mất an toàn cho hệ thống.
- Vay của các tổ chức tín dụng khác
Đây chính là nguồn các NHTM vay mượn lẫn nhau và vay của các tổ chức tín dụng khác trên thị trường liên ngân hàng. Các ngân hàng không có dự trữ vượt mức do có kết dư gia tăng bất ngờ về các khoản tiền huy động hoặc giảm cho vay sẽ có thể sẵn lòng cho các ngân hàng khác vay để tìm kiếm lãi suất cao hơn. Ngược lại, các ngân hàng đang thiếu hụt dự trữ có nhu cầu vay mượn tức thời để đảm bảo thanh khoản. Như vậy, nguồn vay mượn từ các ngân hàng khác là để đáp ứng nhu cầu dự trữ và chi trả cấp bách trong nhiều trường hợp nó bổ sung hoặc thay thế cho nguồn vay mượn từ NHTW. Quá trình vay mượn rất đơn giản: ngân hàng đi vay chỉ cần liên hệ trực tiếp với ngân hàng cho vay hoặc thông qua ngân hàng đại lý ( hoặc NHTW). Khoản vay có thể không cần bảo đảm hoặc được đảm bảo bằng các chứng khoán của Kho bạc. Kết quả là dự trữ của ngân hàng cho vay giảm đi và của ngân hàng đi vay tăng lên.
- Vay trên thị trường vốn Khóa luận: Hiệu quả huy động vốn tại ngân hàng Vietcombank.
Giống như các doanh nghiệp, các ngân hàng cũng vay mượn bằng cách phát hành các giấy nợ (kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu) trên thị trường vốn. Nhiều NHTM thiếu nguồn tiền trung và dài hạn dẫn đến không đáp ứng được nhu cầu cho vay và đầu tư trung và dài hạn. Thông thường, đây là khoản vay không có đảm bảo. Những ngân hàng có uy tín hoặc trả lãi suất cao sẽ vay được nhiều hơn, còn các ngân hàng nhỏ thường khó vay trực tiếp bằng cách này, họ thường phải vay thông qua các ngân hàng đại lý hoặc được sự bảo lãnh của ngân hàng đầu tư. Khả năng vay còn phụ thuộc vào trình độ phát triển của thị trường tài chính, tạo khả năng chuyển đổi các công cụ nợ dài hạn của ngân hàng. Nghiệp vụ này tương đối phức tạp: ngân hàng cần nghiên cứu kỹ thị trường để quyết định qui mô, mệnh giá, lãi suất và thời hạn vay thích hợp. Các vấn đề chuyển nhượng, điều chỉnh lãi suất, bảo quản hộ…cũng cần được quan tâm.
Đối tượng mua kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng và chứng chỉ tiền gửi là các tổ chức, cá nhân. Ngoài việc dùng số vốn nhàn rỗi hay phần thu nhập tạm thời chưa sử dụng đến để mua, trên thực tế, đây còn là một kênh đầu tư của người có vốn trong xã hội khi họ không có khả năng và cơ hội đầu tư trực tiếp. Các kỳ phiếu, trái phiếu này có khả năng chuyển đổi dễ dàng ra tiền khi cần thiết bằng cách bán, chuyển nhượng trên thị trường vốn hoặc chiết khấu tại ngân hàng.
Với việc phát hành các giấy tờ có giá để huy động vốn, ngân hàng có khả năng tập trung một khối lượng vốn lớn trong thời gian ngắn và hoàn toàn chủ động trong sử dụng. Hình thức này thường được thực hiện khi ngân hàng đã tiếp nhận được những dự án vay vốn lớn với thời hạn giải ngân nhanh của khách hàng, hay sau khi đã cân đối giữa nguồn vốn và sử dụng vốn trong toàn hệ thống mà vẫn còn thiếu và được sự đồng ý của Thống đốc NHTW.
1.2.3.3. Huy động khác
Bên cạnh các nguồn vốn nêu trên, trong quá trình hoạt động, các NHTM còn có thể tạo lập vốn cho mình từ nhiều nguồn khác. Loại này bao gồm nguồn uỷ thác, nguồn trong thanh toán.
- Tiền uỷ thác
Ngân hàng thực hiện các dịch vụ ủy thác như uỷ thác cho vay, uỷ thác đầu tư, uỷ thác cấp phát, uỷ thác giải ngân và thu hộ… Đây là nguồn vốn mà ngân hàng có được do làm đại lý nhận uỷ thác của các tổ chức trong và ngoài nước để thực hiện đầu tư cho những chương trình, dự án. Trong thời gian vốn đã được ngân hàng tiếp nhận nhưng chưa giải ngân hết theo kế hoạch, hoặc vốn cho vay đã thu hồi về nhưng chưa đến hạn chuyển lại cho chủ đầu tư, ngân hàng có được một số vốn để kinh doanh. Mặt khác, khi thực hiện nghiệp vụ này, ngân hàng còn được hưởng hoa hồng phí.
Ngoài ra, ngân hàng còn làm đại lý bán cổ phiếu, trái phiếu cho các doanh nghiệp cũng như thu hộ lợi tức đầu tư chứng khoán cho khách hàng. Cùng với sự phát triển của các mối quan hệ đa phương, rất nhiều các tổ chức kinh tế xã hội có cùng mục tiêu phát triển như của ngân hàng, có nguồn tài chính đã sử dụng mạng lưới ngân hàng như các kênh dẫn vốn tới các mục tiêu. Kết quả đã hình thành nguồn uỷ thác làm tăng nguồn vốn của ngân hàng.
- Tiền trong thanh toán Khóa luận: Hiệu quả huy động vốn tại ngân hàng Vietcombank.
Các hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt có thể hình thành các nguồn trong thanh toán (séc trong quá trình chi trả, tiền ký quỹ để mở L/C…). Những ngân hàng là đầu mối trong hợp đồng đồng tài trợ có kết số dư từ tiền của các ngân hàng thành viên chuyển về để thực hiện cho vay. Cụ thể:
Số vốn trong thời gian đã trích khỏi tài khoản của người trả nhưng chưa chuyển vào tài khoản của người hưởng do phải luân chuyển, xử lý chứng từ thanh toán.
Số vốn trong thời gian khách hàng lưu ký tại ngân hàng nhưng chưa thanh toán như séc bảo chi, thư tín dụng, thẻ thanh toán ký quỹ…Khi công nghệ thanh toán của ngân hàng ngày càng hiện đại, quy trình, thủ tục thanh toán được cải thiện thì thời gian của mỗi khoản thanh toán được giảm đi đáng kể. Do đó, vốn mà ngân hàng có được trong mỗi khoản thanh toán cũng giảm. Nhưng do ngày càng nhiều khách hàng mở tài khoản và khoản thanh toán được thực hiện qua ngân hàng ngày càng tãng làm cho số vốn này có điều kiện tăng lên. Các nguồn vốn khác của ngân hàng có thể không nhiều, thời gian sử dụng đôi khi rất ngắn, nhưng với nguồn vốn này, ngân hàng không phải tốn kém chi phí huy động, hơn nữa có thêm điều kiện phát triển các nghiệp vụ và dịch vụ ngân hàng khác, phục vụ tốt nhu cầu của khách hàng.
1.3. Hiệu quả huy động vốn của NHTM Khóa luận: Hiệu quả huy động vốn tại ngân hàng Vietcombank.
1.3.1. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả huy động vốn tại các NHTM
Có thể hiểu: “Hiệu quả huy động vốn là việc thỏa mãn lượng vốn cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng cả về số lượng, chi phí thấp nhất, ổn định nhất và hạn chế đến mức tối đa những rủi ro có thể xảy ra”
Nói đến hiệu quả huy động vốn là nói đến kết quả của công tác huy động vốn. Khi nghiên cứu hiệu quả huy động vốn, chúng ta phải đề cập đến các vấn đề sau:
- Qui mô nguồn vốn huy động có đủ lớn để tài trợ cho hoạt động cho vay và đầu tư của ngân hàng hay không?
- Cơ cấu nguồn vốn huy động có phù hợp với cơ cấu sử dụng vốn hay không?
- Nguồn vốn huy động có tăng trưởng ổn định không?
- Chi phí huy động có hợp lý không?
Hiệu quả huy động vốn là yếu tố quyết định tới qui mô đầu tư, cho vay của NHTM. Các NHTM luôn muốn đạt được hiệu quả huy động vốn tức là lượng vốn huy động hàng năm lớn, chi phí bỏ ra ít, thu hút được nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư, các tổ chức tín dụng và các tổ chức kinh tế. Lượng vốn huy động phải đáp ứng được nhu cầu đầu tư, cho vay của ngân hàng. Lợi nhuận mang lại từ nguồn vốn huy động phải đạt được chỉ tiêu ngân hàng đề ra. Nguồn vốn huy động phải phù hợp với hoạt động sử dụng vốn thì hoạt động kinh doanh mới có hiệu quả. Việc huy động vốn một cách ồ ạt ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động kinh doanh.
Bởi vai trò của vốn đối với hoạt động ngân hàng là rất lớn nên hiệu quả hoạt động huy động vốn là rất quan trọng, quyết định cả quá trình kinh doanh của ngân hàng nên các ngân hàng rất chú trọng công tác nâng cao hiệu quả huy động vốn.
1.3.2. Tiêu chí đánh giá hiệu quả huy động vốn của các NTHM Khóa luận: Hiệu quả huy động vốn tại ngân hàng Vietcombank.
1.3.2.1. Tăng trưởng về qui mô huy động
Vốn huy động tăng trưởng ổn định theo thời gian sẽ đáp ứng nhu cầu tín dụng cũng như hoạt động kinh doanh khác đang ngày càng tăng của ngân hàng. Nếu ngân hàng huy động được một lượng vốn đủ lớn, phù hợp với quy mô và nhu cầu của mình thì giả sử khi có một lượng tiền lớn bị rút ra thì cũng sẽ không gây ảnh hưởng lớn đến hoạt động của ngân hàng, ngân hàng sẽ không gặp khó khăn trong vấn đề thanh khoản. Vốn huy động tăng trưởng ổn định sẽ khẳng định được vị thế, uy tín và thương hiệu của ngân hàng. Một ngân hàng có đủ
tiềm năng về tài chính cũng như uy tín mới có thể giữ được mức tăng trưởng ổn định về vốn huy động qua các năm. Tính ổn định của vốn huy động quyết định một phần an toàn trong kinh doanh ngân hàng và thời hạn tín dụng. Vốn huy động tăng trưởng ổn định sẽ tạo lập và định hướng chiến lược kinh doanh cụ thể của ngân hàng trong việc sử dụng vốn có hiệu quả, góp phần tăng trưởng lợi nhuận, nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Chỉ tiêu này được đánh giá qua tốc độ tăng trưởng vốn huy động, tốc độ tăng trưởng vốn theo kỳ hạn, theo loại tiền và theo đối tượng khách hàng. Nguồn vốn tăng đều qua các năm, có độ gia tăng đều đặn là nguồn vốn tăng trưởng ổn định.
1.3.2.2. Cơ cấu huy động vốn phù hợp với cơ cấu sử dụng vốn
Xuất phát từ kế hoạch sử dụng vốn để có chiến lược huy động vốn phù hợp, huy động vốn đảm bảo phù hợp với sử dụng vốn cả về loại tiền, kỳ hạn, lãi suất sẽ góp phần đem lại lợi nhuận cao cho ngân hàng và thực hiện đúng cam kết với khách hàng. Tỷ trọng các loại vốn ngắn hạn, trung dài hạn, nội tệ, ngoại tệ ở mức hợp lý, phù hợp với nhu cầu sử dụng vốn của ngân hàng. Bất cứ một sự không phù hợp nào về kỳ hạn cũng sẽ mang lại bất lợi cho ngân hàng. Nếu không có sự phù hợp về loại tiền, ngân hàng sẽ chịu chi phí để chuyển đổi từ nguồn tiền đã được huy động sang loại tiền cần sử dụng, và như vậy thì có thể gặp rủi ro về tỷ giá. Nếu không có sự phù hợp về kỳ hạn giữa huy động vốn và sử dụng vốn thì ngân hàng sẽ gặp rủi ro về kỳ hạn. Đây là những nguy cơ tiềm ẩn mà ngân hàng phải đối mặt khi sử dụng các kế hoạch huy động vốn.
1.3.2.3. Chi phí huy động vốn Khóa luận: Hiệu quả huy động vốn tại ngân hàng Vietcombank.
Chi phí huy động vốn của ngân hàng bao gồm: chi phí trả lãi tiền gửi, chi phí trả lãi tiền vay, chi phí phát hành giấy tờ có giá, chi phí quản lý…
Đây là yếu tố quyết định đến hiệu quả của hoạt động huy động vốn vì nó quyết định trực tiếp tới phương thức sử dụng vốn và đặc biệt hơn cả là lợi nhuận ngân hàng.
Các ngân hàng bao giờ cũng mong muốn tìm kiếm cho mình một tổ hợp các loại vốn khác nhau trên thị trường với mức chi phí thấp nhất. Việc giả thiết coi tất cả các yếu tố khác là như nhau thì ngân hàng nào có mức chi phí huy động vốn thấp nhất mà không phải chấp nhận mức rủi ro cao hơn thì ngân hàng đó sẽ đạt được mức lợi nhuận cao hơn.
Hơn nữa, việc tính toán chính xác một cách tương đối chi phí huy động vốn là yếu tố quyết định để xác định mức lợi nhuận mà ngân hàng cần thu được từ các tài sản sinh lời của mình. Căn cứ vào chi phí, ngân hàng có thể định giá cho mỗi sản phẩm dịch vụ mà mình cung ứng cho khách hàng.
Thứ ba, việc xác định chi phí huy động vốn sẽ giúp cho ngân hàng chủ động trong kinh doanh, giảm thiểu được các rủi ro tiềm ẩn trong hoạt động của ngân hàng như: rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng,
Chi phí huy động thấp là một trong những điều kiện cơ bản giúp NHTM tăng khả năng sinh lời nhưng ít gặp rủi ro. Vì vậy, các ngân hàng luôn phấn đấu đạt được chi phí huy động hợp lý nhất, đảm bảo đáp ứng được nhu cầu cho vay, chênh lệch lãi suất huy động và cho vay lớn nhất có thể và đảm bảo khả năng cạnh tranh trên thị trường.
1.3.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả huy động vốn của NHTM
1.3.3.1. Nhân tố chủ quan
Đây là nhóm nhân tố thuộc về môi trường bên trong các NHTM, hình thành trong quá trình hoạt động của ngân hàng, do các nguyên nhân chủ quan về phía ngân hàng. Các ngân hàng khi đã nhận biết được thì có khả năng xoá bỏ các tác nhân gây hậu quả xấu và tăng cường, phát huy các tác nhân mang tính tích cực.
- Mục tiêu, chiến lược kinh doanh của ngân hàng Khóa luận: Hiệu quả huy động vốn tại ngân hàng Vietcombank.
Để xây dựng mục tiêu, chiến lược kinh doanh, ngân hàng thường tìm cách đánh giá vị thế của mình trong hệ thống ngân hàng để thấy được những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức, đồng thời ngân hàng cũng phải dự đoán thay đổi môi trường để tìm cho mình hướng đi thích hợp. Chiến lược của ngân hàng có thể tập trung vào việc phát triển chất lượng và quy mô nguồn vốn, hoặc tập trung vào việc thu hút tiền gửi của dân cư, hay chú trọng vào việc cho vay và đầu tư. Các quyết định của lãnh đạo NHTM có được đưa ra một cách kịp thời và có hiệu quả hay không cũng ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả huy động vốn. Trong khi các mục tiêu chỉ ra sự lựa chọn khách quan về chất lượng, phương hướng và bước tiến của ngân hàng, thì chiến lược sẽ là kế hoạch, qua đó một ngân hàng có thể nhận ra được các mục tiêu đã được hoạch định một cách rõ ràng nhất. Nếu mục tiêu của ngân hàng là gia tăng thị phần thì chiến lược sẽ có nhiệm vụ để làm sao điều này có thể thực hiện được. Chiến lược ám chỉ một chương trình hành động và bao gồm việc sử dụng hữu hiệu các tiềm lực để đạt được mục tiêu đó. Như vậy, tùy thuộc vào đặc điểm và điều kiện của môi trường kinh doanh cũng như mục tiêu phát triển trong tương lai mà mỗi ngân hàng có chính sách khuyến khích hay hạn chế lượng tiền huy động vào hoặc thay đổi cơ cấu một nguồn vốn cụ thể nào đó. Ngày nay, các ngân hàng đều có xu hướng hoạt động đa năng nhằm tìm kiếm lợi nhuận, phân tán rủi ro. Một chiến lược kinh doanh đúng đắn bao giờ cũng đi cùng với huy động vốn hiệu quả.
- Chính sách lãi suất
Lãi suất là yếu tố mà bất cứ cá nhân hay tổ chức nào gửi tiền vào ngân hàng đều quan tâm. Đây là yếu tố quan trọng đặc biệt và quyết định đối với công tác huy động vốn của NHTM, đặc biệt là quy mô tiền gửi. Tiền gửi, đặc biệt là tiền gửi ngắn hạn thường nhạy cảm với các biến động liên quan về lãi suất, tỷ giá hay nhu cầu chi tiêu. Lãi suất cao sẽ thúc đẩy mọi người gửi tiền vào ngân hàng nhiều hơn nhưng ngược lại, ngân hàng lại phải chịu chi phí huy động vốn cao hơn. Lãi suất huy động vốn hợp lý là một lãi suất vừa có khả năng hấp dẫn các đối tượng tham gia gửi tiền vào ngân hàng nhưng đồng thời cũng phải đảm bảo được ngân hàng kinh doanh có lãi. Lãi suất còn phụ thuộc vào qui mô món tiền, kỳ hạn gửi, loại tiền gửi…Lãi suất huy động cũng phải tính toán sao cho phù hợp với lãi suất cho vay để đảm bảo hiệu quả hoạt động của NHTM. Chính sách lãi suất thể hiện sự cân đối nguồn vốn của mỗi NHTM sao cho chi phí bỏ ra hợp lý mà vẫn mang tính cạnh tranh trong hệ thống ngân hàng. Một thay đổi đúng đắn trong chính sách lãi suất sẽ làm tăng nguồn vốn huy động và ngược lại. Tuy nhiên, ngân hàng chỉ có thể quản lý mức độ và xu hướng biến động lãi suất một cách tương đối, phản ứng và điều chỉnh hoạt động của mình theo sự biến động của lãi suất để đạt mục tiêu hoạt động đề ra. Khóa luận: Hiệu quả huy động vốn tại ngân hàng Vietcombank.
- Marketing ngân hàng
Theo một phương diện nào đó, có thể Marketing ngân hàng chưa thể hiện được ưu thế rõ rệt về hiệu quả mang lại nếu như so sánh với những giá trị mà Marketing ở một số ngành khác mang lại. Nhưng nếu xem nhẹ vai trò của Marketing ngân hàng là một sai lầm của các NHTM, nhất là trong xu thế hội nhập và phát triển hiện nay. Cuộc cạnh tranh giữa các ngân hàng ngày càng trở nên khốc liệt và mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Marketing ngân hàng là cả một quá trình, bao gồm từ nghiên cứu thị trường, xây dựng chính sách phát triển cho đến giới thiệu, khuyếch trương sản phẩm mới ra công chúng. Một ngân hàng có được công tác Marketing ngân hàng tốt sẽ có một lợi thế rất lớn trong quá trình hoạt động kinh doanh và có khả năng chiếm ưu thế trên thị trường. Trên cơ sở nghiên cứu thị trường, ngân hàng có thể nắm bắt toàn bộ các thông tin về môi trường kinh doanh, về khách hàng, đồng thời xây dựng chiến lược marketing. Trên cơ sở này, các ngân hàng sẽ sử dụng một cách linh hoạt, mềm dẻo các công cụ kỹ thuật của marketing ứng dụng trong hoạt động của ngân hàng để có thể thoả mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng. Ngân hàng thường sử dụng các chính sách marketing cơ bản : chính sách thông tin – nghiên cứu – tìm hiểu – điều tra; chính sách sản phẩm – giá cả; chính sách phân phối; chính sách giao tiếp – khuyếch trương. Hoạt động marketing ngân hàng không những làm tăng sức mạnh cạnh tranh trong mỗi ngân hàng mà còn làm tăng khả năng sinh lợi và đem lại sự an toàn trong kinh doanh của ngân hàng.
- Mạng lưới phòng giao dịch, cơ sở vật chất, trang thiết bị và trình độ khoa học công nghệ của ngân hàng
Ngày nay, trong thời đại mà khoa học công nghệ phát triển như vũ bão thì việc áp dụng công nghệ mới vào trong hoạt động kinh doanh sao cho đạt hiệu quả cao nhất chính là một yêu cầu cấp bách đối với tất cả các tổ chức kinh tế nói chung chứ không riêng gì các NHTM.
Công nghệ ngân hàng bao gồm cả công nghệ quản lý, các máy móc thiết bị, các qui trình tín dụng cũng như quy trình huy động vốn. Cơ sở vật chất, trang thiết bị của ngân hàng ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng dịch vụ ngân hàng cung cấp. Nếu ngân hàng được trang bị các trang thiết bị hiện đại, công nghệ tiên tiến, trình độ sử dụng và vận hành của cán bộ ngân hàng có hiệu quả thì chất lượng dịch vụ sẽ được nâng cao, khách hàng sẽ thấy hài lòng và yên tâm khi đến gửi tiền vào ngân hàng, đây cũng là một yếu tố tâm lý thu hút sự chú ý của khách hàng. Khách hàng luôn muốn được đến giao dịch ở ngân hàng có trụ sở giao dich bề thế, trang thiết bị hiện đại, mạng lưới phòng giao dich rộng khắp, thuận tiện cho sự di chuyển của khách hàng. Mặt khác, đây cũng là điều kiện để chứng minh tiềm lực tài chính và sự bền vững của ngân hàng với khách hàng.
Mạng lưới huy động của các ngân hàng thường được thể hiện thông qua các quỹ tiết kiệm, phòng giao dịch. Khi cá nhân có tiền nhàn rỗi, họ thường tìm đến những nơi giao dich gần nhất để gửi tiết kiệm. Mạng lưới huy động rộng khắp sẽ tạo điều kiện thu hút tiền gửi của nhân dân. Do vậy, việc mở rộng mạng lưới giao dịch tại những điểm dân cư đông đúc sẽ nâng cao hơn nữa khả năng huy động vốn của ngân hàng. Cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại, mạng lưới giao dịch rộng là yếu tố quan trọng giúp ngân hàng thực hiện cạnh tranh về lãi suất. Với cùng lãi suất như nhau, ngân hàng nào có cơ sở vật chất, trang thiết bị, công nghệ và mạng luới tốt hơn sẽ tiết kiệm được thời gian cho khách hàng, có thể phục vụ tốt số lượng đông khách hàng hơn, như vậy sẽ thu hút được nhiều khách hàng đến gửi tiền hơn, từ đó, hiệu quả huy động vốn sẽ được nâng cao hơn.
- Đội ngũ cán bộ, nhân viên ngân hàng Khóa luận: Hiệu quả huy động vốn tại ngân hàng Vietcombank.
Hoạt động huy động vốn của ngân hàng chính là một hình thức bán hàng trực tiếp, do vậy, phong cách, thái độ, trình độ chuyên môn của đội ngũ lãnh đạo, nhân viên ngân hàng có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Cán bộ nhân viên của ngân hàng trực tiếp tiếp xúc với khách hàng, tạo ấn tượng với khách hàng cho chính ngân hàng đó. Đội ngũ cán bộ, nhân viên ngân hàng am hiểu nghiệp vụ, chuyên nghiệp trong phong cách phục vụ khách hàng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả huy động vốn.
Trong môi trường làm việc hiện đại, nguồn nhân lực luôn là yếu tố chủ chốt quyết định đến sự thành bại của hoạt động kinh doanh, nếu như nguồn lực này mạnh thì tổ chức kinh tế mạnh và ngược lại. Các ngân hàng cần phải chú trọng đến việc sử dụng và đào tạo nâng cao trình độ nghiệp vụ của các cán bộ ngân hàng của mình cho phù hợp với những yêu cầu ngày càng cao của môi trường cạnh tranh.
- Uy tín của ngân hàng
Một ngân hàng có uy tín thường có ưu thế trong hoạt động huy động vốn vì họ thường giữ được một lượng lớn khách hàng trung thành. Những khách hàng mà ngân hàng thu hút được bằng uy tín thường có xu hướng gắn bó lâu dài với ngân hàng vì họ tin rằng ngân hàng luôn có những dịch vụ tốt nhất dành cho họ và đồng tiền của họ nằm ở đây luôn được đảm bảo an toàn. Một ngân hàng có uy tín không những giữ được những khách hàng hiện hữu mà còn có lợi thế trong việc thu hút những khách hàng mới. Khi biết đến một ngân hàng với những uy tín được thể hiện qua thâm niên của ngân hàng, tiềm lực tài chính của ngân hàng, đội ngũ quản lý và nhân viên ngân hàng có trình độ cao…khách hàng sẽ không ngần ngại đến để bắt đầu giao dịch. Các ngân hàng có thâm niên thường thuận lợi hơn trong việc tranh thủ lòng tin của khách hàng từ trong quá khứ. Các ngân hàng có tiềm lực tài chính mạnh sẽ có khả năng tài trợ cho các danh mục đầu tư và cho vay lớn, dài hạn, khả năng cung cấp dịch vụ đa dạng và ưu việt, khả năng tự điều tiết và đứng vững trước những biến động tài chính trên thị trường. Các ngân hàng có đội ngũ cán bộ lãnh đạo là những người có danh tiếng, bằng cấp cao, đào tạo nhân viên chặt chẽ khắt khe, kỷ luật lao động nghiêm ngặt, cũng để tạo niềm tin cho khách hàng. Bởi vì một tổ chức ổn định và có kỷ luật cao là một bằng chứng thể hiện các giao dịch đó được tiến hành một cách chính xác, lành mạnh và được quản lý một cách chặt chẽ.
- Các dịch vụ do ngân hàng cung ứng Khóa luận: Hiệu quả huy động vốn tại ngân hàng Vietcombank.
Có thể nhận thấy một cách rõ ràng rằng, nếu cùng một lãi suất huy động, ngân hàng nào đưa ra các dịch vụ tốt và đa dạng hơn thường có lợi thế hơn so với các ngân hàng khác bởi vì khách hàng thường có xu thế lựa chọn các dịch vụ hoàn chỉnh hơn là các dịch vụ đơn lẻ, đồng thời họ cũng yên tâm hơn khi giao dịch với một ngân hàng có nhiều thông tin, có khả năng tư vấn, hỗ trợ họ nhiều hơn. Trong nền kinh tế hiện đại, khách hàng không chỉ quan tâm đến những lợi ích vật chất trực tiếp, mà họ còn quan tâm đến các yếu tố khác như thời gian giao dịch, các thủ tục liên quan, tính trọn gói của dịch vụ vì thực chất các yếu tố này ảnh hưởng đến uy tín, thời cơ kinh doanh của họ. Điều này nhiều khi đối với khách hàng còn quan trọng hơn vấn đề phí dịch vụ và lãi suất. Mặt khác, nếu một ngân hàng cung cấp các dịch vụ đặc trưng nhằm mục đích phục vụ một số đối tượng khách hàng tiêu biểu nào ðó thì sự biến động về nguồn vốn của các ngân hàng trong tình hình các điều kiện xung quanh thay đổi cũng có thể khác nhau tuỳ theo việc các đối tượng khách hàng cơ bản là ai. Một khách hàng không dễ từ bỏ ngân hàng để gửi vốn vào ngân hàng khác có lãi suất cao hơn nếu họ phải từ bỏ thêm nhiều tiện ích khác mà ngân hàng đang cung cấp cho họ. Chất lượng dịch vụ tốt, dịch vụ hoàn chỉnh, đa dạng không chỉ giúp cho ngân hàng thu hút các khách hàng mới mà quan trọng hơn là còn giữ được các khách hàng hiện hữu.
1.3.3.2. Nhân tố khách quan
Những nhân tố khách quan thuộc về môi trường bên ngoài NHTM, các NHTM chỉ có thể nhận biết và tìm cách hạn chế các tác động tiêu cực của chúng mà không thể thay đổi các nhân tố này được.
- Môi trường kinh tế – xã hội
Một nền kinh tế ổn định luôn là điều kiện thuận lợi cho hoạt động của ngân hàng. Khi đời sống của người dân ổn định, các hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả, nguồn vốn sẽ chảy vào ngân hàng nhiều hơn. Với một nền kinh tế ổn định, giá cả hàng hoá, dịch vụ cũng như sức mua của đồng tiền ổn định tạo được cho người dân cảm giác tin tưởng thì họ mới an tâm gửi tiền vào ngân hàng. Ngược lại, một nền kinh tế suy thoái hay có lạm phát cao thì người dân sẽ có xu hướng giữ tiền mặt hoặc mua vàng hay ngoại tệ mạnh để cất trữ.
Bên cạnh các yếu tố vĩ mô như lạm phát, suy thoái…hoạt động huy động vốn còn chịu ảnh hưởng của các yếu tố như mật độ dân cư trong địa bàn hoạt động, thu nhập trung bình dân cư, các tổ chức kinh tế trên địa bàn…
- Môi trường chính trị và pháp lý Khóa luận: Hiệu quả huy động vốn tại ngân hàng Vietcombank.
Đây là nhân tố có ảnh hưởng quan trọng tới toàn bộ nền kinh tế chứ không phải riêng ngành ngân hàng. Tình hình chính trị ổn định tạo sự yên tâm và niềm tin cho khách hàng. Ngược lại, nếu tình hình chính trị bất ổn sẽ tạo ra tâm lý hoang mang trong dân cư, việc khách hàng rút tiền ồ ạt hoặc chuyển tiền ra các ngân hàng nước ngoài là điều hoàn toàn có thể xảy ra. Ngoài các yếu tố chính trị, hoạt động ngân hàng còn chịu sự chi phối của hành lang pháp lý bao gồm thể chế cả trong và ngoài quốc gia (đối với các ngân hàng có phạm vi hoạt động mở rộng ra ngoài biên giới). Pháp luật về ngân hàng thông thoáng sẽ tạo điều kiện cho ngân hàng thực hiện tốt chức năng của mình và kinh doanh có hiệu quả. Môi trường pháp lý không rõ ràng, minh bạch sẽ tạo ra rào cản gây khó khăn cho NHTM trong việc phát triển hoạt động của mình.
- Yếu tố thuộc môi trường kinh tế quốc tế
Trong bối cảnh hiện nay, các NHTM chắc chắn sẽ gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của sự suy giảm kinh tế thế giới cũng như sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trên thị trường quốc tế. Quá trình toàn cầu hoá kinh tế quốc tế, tự do hoá tài chính tác động, ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động huy động vốn của các ngân hàng. Khi mà ranh giới về kinh tế và tài chính giữa các quốc gia, khu vực dần bị thu hẹp thì chỉ cần một biến động trên toàn thế giới cũng ảnh hưởng dây chuyền đến hoạt động huy động vốn của một quốc gia, một ngân hàng.
- Yếu tố môi trường cạnh tranh và hợp tác
Sự phát triển của các đối thủ cạnh tranh là các tổ chức tài chính, ngân hàng khác làm cho thị phần của các NHTM bị chia nhỏ và chịu nhiều sức ép. Trong điều kiện cạnh tranh gay gắt buộc các NHTM phải tính toán kỹ lưỡng và dự đoán đối thủ để có những biện pháp ứng phó kịp thời, hợp lý.
Như vậy, muốn tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh, NHTM phải thể hiện sự sáng tạo, linh hoạt, khả năng thích ứng cao trong cơ chế thị trường. Sự phát triển của thị trường chứng khoán và thị trường bất động sản đã giúp người dân ngày càng có nhiều cơ hội lựa chọn hình thức đầu tư thay vì gửi tiền vào ngân hàng. Thậm chí những thị trường này còn có thể mang lại cho họ lợi nhuận cao hơn đầu tư vào ngân hàng.
Mặt khác, toàn cầu hoá kinh tế là đặc trưng cơ bản và là xu thế phát triển tất yếu của thời đại. Trong quá trình này, qui mô và hình thức trao đổi hàng hoá, dich vụ, lưu chuyển quốc tế, chuyển giao công nghệ giữa các quốc gia và khu vực tăng nhanh chóng, làm tăng thêm mức độ phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế thế giới. Hội nhập quốc tế mở ra cơ hội trao đổi hợp tác quốc tế giữa các NHTM trong hoạt động kinh doanh, hình thành liên minh tiền tệ quốc tế và khu vực. Ngày nay, các NHTM không chỉ cạnh tranh với nhau hoặc với các tổ chức tài chính khác mả còn liên kết, khai thác những thế mạnh của nhau. Các NHTM có thể liên kết với các công ty chứng khoán, bảo hiểm…để huy động nguồn vốn từ các công ty này. Như vậy, cạnh tranh vừa là thách thức, vừa là cơ hội thúc đẩy mọi hoạt động ngân hàng. Khóa luận: Hiệu quả huy động vốn tại ngân hàng Vietcombank.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Vietcombank
